Tải bản đầy đủ - 40 (trang)
Quỹ đất nông nghiệp và biến động sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng

Quỹ đất nông nghiệp và biến động sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng

Tải bản đầy đủ - 40trang

Ttđtđckdbđs
Nh vậy đây là vùng đất chật ngời đông có bình quân đất nông nghiệp thấp m
2
hộ m
2
khẩu Cả nớc
5.162 1.179,9
Tây Nguyên vùng có bình quân cao nhất cả nớc 9.701
1.868 Đồng bằng sông Hồng vùng có bình quân thấp nhất
cả nớc 2.277
489,9 Trong vùng:
Hà Nội tỉnh có bình quân thấp nhất vung 1.734
390 Ninh Bình tỉnh có bình quân cao nhất vùng
2.940 682
Nhận xét: dựa vào bảng số liệu ta nhận thấy không những vùng đồng bằng sông Hồng có bình quân đất nông nghiệp thấp nhất cả nớc mà còn có mức
chênh lệch khá lớn với vùng có bình quan cao nhất là Tây Nguyên, với mức chênh lƯch: 7.424m
2
hé =326.04, 1378.1m
2
khÈu3=281.3. Ngay c¶ trong vïng còng cã một sự chênh lệch lớn, theo số liệu thì mức độ chênh lệch lớn nhất là tới gần 100.
Vì lý do đất hẹp ngời đông nên từ trớc tới nay đất đai của chúng ta đã bị manh mún, nhỏ lẻ cũng do cả những yếu tố lịch sử điều này đã gây khó khăn rất lớn cho việc quản
lý sử dụng đất và cấp sổ đỏ. Việc qui định hạn mức cũng trở nên rất phức tạp. Không những thế , tất cả chúng ta đề biết vùng đồng bằng sông Hồng là một vùng kinh tế trọng
điểm cho các tỉnh phía bắc nớc ta cùng với tam giác tăng trởng kinh tế là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Điều này một mặt tích cực tạo ra những động lực mạnh cho sự phát
triển kinh tế. Thế nhng với đất đai , nó đã vô hình làm giảm đi một diện tích đáng kể mà có thể sử dụng vào canh tác nh việc làm đờng giao thông, xây dựng những khu chế xuất,
khu công nghiệp hay việc mở rộng đô thị Tuy nhiên điều này là một sự cần thiết để
phát triển đất nớc. Đồng thời nó cũng phân chia đất đai thành những lu vực mà ta rât
khó có thể quản lý. Mặt khác, Hà Nội là thủ đô của cả nớc, là trung tâm của phát triển kinh tế vùng, cùng với những thành phố vệ tinh nh: Hải Dơng, Hng Yên, Hà Tây, Bắc
Ninh và chuỗi khu đô thị cao Hoà Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn, Sơn Tây. Những yếu tố này sẽ làm giảm nhanh chóng đất đai nông nghiệp do đất đai đợc chuyển xang những
lĩnh vực hoạt động khác. Cùng với nó là quá trình đô thị hoá nhanh, mạnh ở các đô thị trong vùng điển hình là Hà Nội, tất cả các đô thị đều có một nhu cầu mở rộng, đáp ứng
nhu cầu của một xã hội phát triển. Vì thế đất đai lại ngày càng khan hiếm hơn. Dân số tăng nhanh, đô thị hoá mạnh làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp tăng lên và
cả nông nghiệp cũng tăng. Nh vậy, yêu cầu đặt ra với chúng ta là phải có biện pháp hợp lý nhất thì mới có thể giải quyêt trong nội tại nhu cầu sử dụng đất này.

2. Quỹ đất nông nghiệp và biến động sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng


Sinh viên
: nguyễn duy dơng
22
Ttđtđckdbđs
Quỹ đất nông nghiệp của một đơn vị có ranh giới hành chính nhất định là tổng thể diện tích đất đợc sử dụng vào muc đích nông nghiệp của đơn vị đó nh quỹ đất của một
vùng, một tỉnh, một hộ gia đình hay của một quốc gia. Theo số liệu năm 2001 của tổng cục thống kê thì các tỉnh thuộc đồng bằng sông
Hồng có diện tích cụ thể các loại đất nông nghiệp nh sau: ha
1 2
2a 2b
2c 3
4 5
6
Hµ Néi 43.172
38.628 32.412
6.216 508
779 100
3.157
Hải Phòng 72.538
52.895 51.944
81 870
7.843 575
27 11.198
Hải Dơng 105.534
80.918 77.864
22 3.032
4.632 12.663
14 7.307
Hng Yên 63.843
56.763 51.901
4.862 2.407
716 3.957
Hà Tây 123.099
104.027 92.755
30 12.242
9.784 3.421
569 5.298
Hµ Nam 51.887
44.036 40.160
24 3.852
3.197 125
2 4.527
Nam Định 106.578
90.963 88.334
2.629 7.468
64 22
8.061
Thái Bình 103.995
93.775 88.446
5.329 3.296
197 48
6.679
Ninh Bình 67.881
55.565 49.209
47 6.309
5.979 1.623
753 3.961
Bắc Ninh
51.569 47.035
44.631 2.404
1.814 130
1 2.589
VÜnh Phóc 66.660
53.745 46.174
136 7.435
9.592 1.139
15 2.169
Chó thÝch: 1: Tỉng diện tích đất nông nghiệp
2: Đất trồng cây hàng năm 2a: Đất trồng lúa, hoa màu
2b: Đất nơng rẫy 2c: Đất hàng năm khác
3: Đất vờn tạp 4: Đất trồng cây lâu năm
5: Đất có đồng cỏ sử dụng vào chăn nuôi 6: Đất có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản
Quỹ đất là một yếu tố rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là vùng
đồng bằng sông Hồng khi mà phơng thức canh tác chủ yếu vẫn là nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, khoa học kỹ thuật áp dụng cha nhiều thì quỹ đất đóng vai trò chủ yếu quyết định đến
năng xuất, sản lợng nông nghiệp.
Tuy nhiên hiện nay đất nông nghiệp có xu hớng biến động lớn. Biến động đất nông nghiệp các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng tổng cục thống kê
năm 2001, 2002, 2003. Nghìn ha
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
23
Ttđtđckdbđs
Năm Đơn vị
2000 2001
2002 Toàn vùng
857.6 856.8
855.2
Hà Nội 46.3
43.2 42.5
Hải Phòng 72.6
72.5 72.3
Hà Tây 123.4
123.1 66.5
Hải Dơng 105.7
105.5 122.8
Hng Yên 64.2
63.8 51.7
Hà Nam 15.8
51.9 105.0
Nam Định 106.7
106.6 63.4
Thái Bình 103.2
104.0 52.1
Ninh Bình 67.6
67.9 106.7
Vĩnh Phúc 66.8
66.7 104.2
Bắc Ninh 52.0
51.6 68
Sự biến động đất đai diễn ra nhanh và với một số lợng lín, tuy nhiªn nã vÉn diƠn ra theo mét quy luật nhất định:
Đất nông nghiệp ngày càng giảm cả về quỹ đất và chất lợng. Chúng ta đều biết, không chỉ dân số nớc ta tăng nhanh, đã bùng nổ và trở thành vấn
đề mà xã hội phải quan tâm, ngay cả thế giới thì đây cũng là một vấn đề nóng bỏng. Vì lẽ đó ma quỹ đất đang dần dần phải chia đều cho mọi ngời nên ngày nó càng trở nên ít
đối với mỗi trẻ em đợc sinh ra. Với vùng đồng bằng sông Hồng, lại là một vùng có dân số đông, tỷ suất sinh cung cao vì vậy nó không nằm ngoài vòng quy luật này.
Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đang diễn ra khắp mội nơi, với vùng đồng bằng sông Hồng thì Hà Nội là một điển hình. Nhu cầu mở rộng của các đô
thị là không ngừng nên việc chuyển đất nông nghiệp sang đất ở đất phi nông nghiệp khác gia tăng. Tuy nhiên, điều này còn nằm ngay cả trong những chính sách phát triển
kinh tế xã hội của nhà nớc, chúng ta chủ trơng phát triển kinh tế theo hớng công nghiệp dịch vụ nông nghiệp. Có nghĩa là những ngành phi nông nghiệp đợc u tiên hơn, vì
vậy việc chuyển đất nông nghiệp sang hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp khong phải là điều khó hiểu. Ngoài ra, hiện nay viƯc sư dơng khoa häc kü tht ¸p dơng vào
sản xuất nông nghiệp không theo một kế hoạch nhất định đã làm cho nhiều nơi đất đai nông nghiệp trở nên thoái hoá, cằn cỗi và đất đai đang mất đi độ phì nhiêu tự nhiên của
nó. Không chỉ khoa học kỹ thuật mà ngay cả chế đọ canh tác của con ngời cũng không hợp lý, chúng ta đã khai thác, sử dụng không đi liền với bảo vệ và cải tạo đã làm cho đất
đai đang bị bào mòn trở thành đất cằn, đất trơ sỏi đá không thể tiếp tục sản xuất đợc.
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
24
Ttđtđckdbđs
Bình quân đất nông nghiệp lại giảm, đất không sử dụng đợc vào nông nghiệp lại co xu hớng tăng mà nhu cầu về lơng thực thực phẩm lại tăng hàng ngay. Điều này đòi hỏi
chúng ta phải có biện pháp thoả đáng giải quyết vấn dề này. Tuy nhiên cũng do sức ép về dân số, lao động, việc làm nên đồng bằng sông Hồng
cũng nh cả níc ®· tÝch cùc khai hoang ®Êt ®ai ®Ĩ ®a vào sản xuất nông nghiệp. Điều này là rất cần đợc khuyến khích và đầu t. Thế nhng đây cũng chỉ là biện pháp giải quyết
phần nào những nhu cầu trên trứơc mắt, chứ trong tơng lai xa chung ta không thể tiếp yuc khai hoang đợc nữa vì đất đai là có hạn nh vậy đất nông nghiệp giảm là một điều
tất yếu.
Đất đai đang dần đợc tập trung hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng cung nh cả nớc để đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Để một xã hội phát triển nhất là nông thôn thì việc tập trung ruộng đất sản xuất lớn cũng là tất yếu của qui luật kinh tế thị trờng. Tập trung ruộng đất có thể phát triển
lên trang trại , nông trờng sẽ có điều kiện đầu t
sản xuất , tăng năng xuất , tăng thu nhập, giải quyết việc làm. Xu hớng này đang đợc khuyến khích tại nghị quyết số
032003NQ CP ngày 02022000 của chính phủ về phát triển kinh tế trang trại và tại điều 82 luật đất đai năm 2003 có quy định về sử dụng đất đai trong trang trại. Tuy
nhiên điều này lại dẫn đến một vấn nạn là một số ngời sẽ trở thành không có đất hoặc có sự chênh lệch lín vỊ diƯn tÝch sư dơng trong c¸c hé nÕu việc tập trung diễn ra theo hớng
mua bán, vì lợi ích trớc mắt. Nh vậy, điều này là cần hạn chế. Thế nhng nếu là cần thiết để phát triển sản xuất hàng hoá lớn thì ta cũng có thể chấp nhận điều này và đào tạo
cho nông dân nghề nghiệp khác để họ có thể đảm bảo thu nhập cho cuộc sống, và thực hiên tốt chủ trơng ly nông bất ly hơng, cùng với việc thay đổi quan điểm từ nông
dân có ruộng sang nông dân có thu nhập.
Ngoài ra sự biến động đất đai còn diễn ra trong nội bộ quỹ đất nông nghiệp khi đất đai đang đợc chuyển dần sang trồng cây lâu năm, cây công nghiệp thay vì trồng cây
lơng thực và đất đai cũng chuyển từ trồng trọt sang chăn nuôi. Điều này là do tr
ớc đây đất nớc ta cũng nh vùng đồng băng sông Hồng còn trong tình trạng nghèo đói, nhu cầu
ăn cho no đợc đặt lên hàng đầu. Vì vậy đất đai trong nông nghiệp đợc sử dụng hầu hêt vào việc trồng cây lúa nớc.Hiện nay khi xã hội đã phát triển, nhu cầu của con ngời đã
thay đổi, không những ăn cho no mà còn ăn cho ngon. Chúng ta không những đã đảm bảo đợc lơng thực thực phẩm trong vùng, cho cả nớc mà đã trở thành một nớc xuất
khẩu gạo lớn trên thể giới. Cùng với việc này là quá trình công nghiệp hoá, chúng ta cần nhiều đất cho các hoạt động khác cũng gắn với nông nghiệp nh việc nghiên cứu giống,
chế biến thực phẩm sau thu hoạch. Vì thế việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất cho nông nghiệp là một điều dĩ nhiên và hợp với quy luật phát triển.
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
25
Ttđtđckdbđs
3.Thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Vùng đồng bằng sông Hồng là một vùng châu thổ lớn, có truyền thống sản xuất
nông nghiệp từ lâu đời, tuy nhiên cho đến nay thì tập quan sản xuất chủ yếu của vùng vẫn là sản xuất nhỏ lỴ, tù cung tù cÊp mang tÝnh chÊt hé gia đình và chủ yếu vẫn là độc
canh.
Sở dĩ thực trạng này cha đợc giải quyết vì công tác quản lý sử dụng đất còn buông lỏng, cha thực sự có hiệu lực và thực thì thì kém hiệu quả.
Quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai cha chặt chẽ Chúng ta nhận thấy một tình trạng khá phổ biến là rất nhiều những quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất đai đợc lập ra và đều bị treo, hay vừa đợc công bố thì đã phải tiến hành điều chỉnh ngay, nó không phải do một nguyên nhân khách quan nào khác mà lại
do những mâu thuẫn nội tại chính trong những bản quy hoạch kế hoạch. Cùng với tình trạng này là một tình trạng rất phổ biến khác, đó là hiện tợng những bản quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất đai đặc biệt là đất nông nghiƯp, chØ co quy ho¹ch kÕ ho¹ch tỉng thĨ chø không hề có quy hoạch kế hoạch kế hoạch chi tiết. Điều này gây khó khăn rất lớn
cho việc khai thác sử dụng hay đầu t thâm canh của ngời sử dụng đất và nó cũng gây khó khăn cho các cơ quan quản lý cấp địa phơng trong việc quản lý sử dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nơi có quy hoạch kế hoạch từ tổng thể đến chi tiết những việc thực thi chỉ mang tính hình thức, làm dở chừng qua lao rôi báo cáo lấy thành tích, ngay
cả từ khi lập quy hoạch kế hoạch đã không phản ánh đúng khả năng, tiềm lực cũng nh điều kiên tự nhiên kinh tế xã hội của vùng để rôi bản quy hoạch kế hoạch đợc làm ra nh-
ng lại không có tính khả thi. Việc lập quy hoạch kế ho¹ch l¹i mang tÝnh chđ quan cđa mét sè ngêi, một số cán bộ lập quy hoạch kế hoạch, không đợc thực hiện lấy ý kiến của
dân nh trong luật đất đai năm 2003 đã quy định.
Đồng thời, quy hoạch kế hoạch lại không mang tính chiến lợc ở nhiều nơi, mặc dù kỳ quy hoạch là 10 năm, kỳ kế hoạch la 5 năm nhng nó không hề phản ánh đợc thực tế
và xu hớng biến động cuả thời gian để có những biện phap hong tới những mục tiêu kinh tế xã hội trong tơng lai không có sự điều chỉnh quy hoạch kế hoạch phù hợp khi
có những thay đổi, biến động trong thời gian thực hiện.
Mục tiêu của chúng ta là phát triển nông nghiệp hàng hoá, thế nhng trong quy hoạch lại cha hế phản ánh và đề cập tới việc chuyên môn hoá sản xuất trong nông
nghiệp hay việc tập trung ruộng đất, giao ®Êt theo mét diƯn tÝch lín ®Ĩ cã ®iỊu kiƯn thuận lợi cho sản xuất. Việc lập quy hoạch cha hề tính tới lợi thế so sánh của địa phơng
để rồi có biện pháp chuyển đổi cơ cấu lao động để rồi từ đó tạo ra sự thay đổi cơ cấu ngành và thay đổi cơ cấu đất đai và góp phần vào thực hiện mục tiêu phát triển xã hội
theo hớng u tiên các ngành phi nông nghiệp .
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
26
Ttđtđckdbđs
Không những thế, ngay cả việc tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch cũng có những bất cập. Đó là việc quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai cha hề gắn với trách
nhiêm, quyền lợi , lợi ích của những ngời , những cán bộ lập và tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai. Vì thế nó dẫn đến những hậu quả tiếp theo, đó là việc
buông lỏng thanh tra, kiểm tra , giám sát, theo dõi và rồi quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai cũng chỉ còn là trên giấy tờ, vi phạm vẫn xảy ra trong viƯc giao ®Êt, sư dơng ®Êt,
cÊp giÊy chøng nhËn quyền sử dụng đất Vì thế mà ta không thể nắm bắt đ
ợc tình
hình, không có đợc những giải pháp khắc phục những phát sinh. Hậu quả là quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai bị bỏ dở hay không đạt đợc mục tiêu.
Việc quản lý khai thác, cải tạo và bảo vệ cha đợc đôn đốc, khuyến khích thực hiện nh một nội dung quan trọng của hoạt động quản lý sử dụng ®Êt .
HiƯn nay ë nhiỊu n¬i cđa vïng ®ång b»ng sông Hồng việc khai thác diễn ra một cách bừa bãi, không thể quản lý đợc . Tình trạng ngời dân lấn chiếm đất công còn nhiều,
sử dụng đất không có một kế hoạch cụ thể nào , những phơng thức canh tác , chế độ sử dụng cây trồng cũng không hế có mộtkế hoạch định trớc , mà chủ yếu do ngời dân tự
quyết định. Vì thế mà s¶n xt cho tíi hiƯn nay vÉn mang tÝnh tù cấp tự túc, nhỏ lẻ. Ng- ời dân vẫn sản xt theo mét trun thèng tõ ngµn xa, thËm chÝ nó đã trở thành lạc
hậu,nên năng suất không cao.
Cùng với nó là công tác khai thác sử dụng đất, bao gåm c¶ viƯc khai hoang, më réng diƯn tÝch canh tác. Thế nhng công tác này lại cha đợc khuyến khích, cha có chủ tr-
ơng,kế hoạch cụ thể . Tuy với một vùng đồng bằng nh đồng bằng sông hồng thì diện tích cha sử dụng còn có thể khai thác đợc không phải là nhiều. Thế nhng nó vẫn cần
phải đợc khuyến khích để khai thác sử dụng đất đai triệt để, hiệu quả.
Cải tạo, bảo vệ đất đai nhất là với đất đai nông nghiệp là công tác quan trọng và phải đợc đi liền với hoạt động sử dụng khai thác đất đai .Thế nhng hiện tại lại không
diễn ra theo chiều hớng đó, nó không thực hiện theo một chơng trình của nhà nớc và cũng không đợc quan tâm ỏ nhiều nơi. Tình trạng ruộng nhà ai ngời nấy lo vẫn còn. Một
công tác bảo vệ , cải tạo cho một khu vực lín theo mét kÕ ho¹ch tỉng thĨ vÉn cha cã, tình trạng sạt lở, ngập lụt đồng ruộng không có cách giải quyết vẫn còn tồn tại ở nhiều
nơi.
Hoạt ®éng gi¸m s¸t, dù b¸o viƯc sư dơng ®Êt ®ai cha đợc tiến hành thờng xuyên. Chính vì lẽ đó mà những tiêu cực trong quản lý và phát sinh khi sử dụng đất lại
không thể kịp thời phòng tránh. Và cũng chính từ lý do đó mà những kết quả của một quá trình khai thác sử dụng đất không hề đợc quan tâm và nó luôn là không có hiệu quả.
Nguyên nhân của những yếu kém trên:
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
27
Ttđtđckdbđs
Những quy phạm pháp luật về qui chế lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sư dơng ®Êt ®ai cha thËt sù cã hiƯu lùc lành mạnh.
Vì thế việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai trở nên không khẩ thi và kén hiệu quả.
Công tác thanh tra kiểm tra cha đợc chú trọng và cha nhận thấy vai trò của công tác này đối với hoạt động quản lý sử dụng đất .
Cha gắn quyền lợi , lợi ích và trách nhiệm của ngời, cơ quan lập và ngời, cơ quan thi hành với nhau và với chính những bản quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai đó.
Việc phân quyền , phân cấp nhiều khi cha rõ ràng để dẫn đến tình trạng cấp dới trông chờ chỉ thị của cấp trên ,ỉ lại vào cấp trên để rồi công việc không đợc thực hiện và
trách nhiệm không thuộc về ai. Những cơ chế chính sách về khuyến khích đầu t cải tạo đất cha tạo đợc cú huých
vào ngời dân để ngời dân hiểu đợc những lợi ích của công tác này. Cha có chế tài mạnh trong việc sử lý những vi phạm hành chính trong quản lý và
sử dụng đất đai. Do năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ còn yếu kém, không có nghiệp vụ
chuyên môn , tha hoá về đạo đức.
4. Đánh giá công tác quản lý sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hông Từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị 1988 thì đất đai trong nông nghiệp của nớc
ta đặc bịêt là vùng đồng bằng sông Hồng đã đợc chuyển sang giao cho nông dân tự quản, để phát huy tính tự chủ , từ đây nó đã làm thay đổi căn bản cách thức quản lý sử
dụng đất từ việc quản lý theo hợp tác xã sang hình thức giao và có đánh thuế bằng sản phẩm nông nghiệp . Từ cách thức quản lý này nó đã tạo ra một kết quả hết sức to lớn.
Đó là việc đã khuyến khích đợc ngời dân tăng gia sản xuất vì đây nó liên quan trực tiếp tới lợi ích của họ và đã tạo ra đợc một lợng nông sản rất lớn sau một thời gian thay đổi
cơ chế. Khi luật đất đai năm 1993 ra đời thì điều này nó đã đợc thể hiện trong luật. Đây là một động lực kích thích ngời dân sản xuất và đồng thời nó cũng mở ra một cách thức
quản lý mới là việc quản lý theo những quy hoạch đã đợc định sẵn. Tiếp đến là năm 2001, khi luật đất đai năm 1993 đợc sửa đổi bổ xung lần 2, trong luật này có quy định
việc chuyển từ đất đợc giao sang đất thuê. Nó đã thay đổi nhận thức của ngời dân về cách thức sử dụng đất đai , ngời dân đã hiểu rằng họ cần phải sử dụng đất đai hiệu quả ,
tiết kiệm vì quỹ đất họ sử dụng liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ. Đặc biệt , có sự ra đời của luật đất đai năm2003, nó đã mở ra một cách thức quản lý hiệu quả hơn và sử
dụng cũng hiệu quả hơn. Khi trong luật có quy định rất cụ thể về quyền lợi , nghĩa vụ của ngời sử dụng đất và vai trò nhiƯm vơ cđa nhµ níc. Trong lt nµy cã quy định cả
việc đất đai đợc sử dụng làm trang trại.
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
28
Ttđtđckdbđs
Chính nhờ những đổi mới này mà công tác quản lý sử dụng đất ngày càng đạt đợc những chuyển biến rõ rệt. Đất đai trong nông nghiệp đang đợc sử dụng một cách hợp lý
hơn, hiệu quả hơn, chất lợng đất đai đang dần đợc năng cao, khai hoang mở rộng đất đai ngày càng nhiều hơn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng đất Đất đai đang đân đ
ợc tập trung
hoá vào sản xuất hàng hoá, thông qua các hoạt động dồn điền đổi thửa nh ở Hà Nam, Bắc Ninh những năm gần đây và đã bắt đầu hình thành tại tỉnh Hà Tây từ đầu những
năm 1991.
Tuy nhiên , ngoài những thành công trong công tác quản lý sử dụng đất , góp phần vào quản lý nhà nớc về đất đai đợc ổn định, hiệu quả hơn thì những năm qua cũng đã để
lại nhiều bất hợp lý trong công tâc quản lý sử dụng đất nh: ở nhiều nơi thì quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai còn cha khả thi và thực sự hiệu quả, cũng nh côngtác khai thác,
bảo vệ, cải tạo cha đi liền với nhau để dẫn đến tình trạng đất đai bị thoái hoá, không thể canh tác đợc . Đồng thời những hoạt động dự báo sử dụng đất cha đợc tiến hành thờng
xuyên làm ảnh hởng tới công tác khai thác sử dụng đất cũng nh công tác quản lý ở các cấp, các ngành còn gặp nhiều khó khăn.
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
29
Ttđtđckdbđs
Phần III Giải pháp tăng cờng quản lý sử dụng đất nông nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng 1. Các giải pháp tăng cờng nội dung quản lý sử dụng đất nông nghiệp
1.1.Các giải pháp tăng cờng nội dung quản lý quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là một công cụ quan trọng để quản lý . Tuy nhiên để công cụ này thật sự có hiệu quả thì ta cần có thêm các giải pháp sau đi cùng với nó khi ta ban
hành và tổ chức thực hiện. Trớc hết, ta cần phải thay đổi quan điểm, t duy suy nghĩ không những của ngời
dân là đối tợng trực tiếp của quy hoạch sử dụng đất mà còn cả những cán bộ các cấp , các ngành chức năng. Nhiều khi quy hoạch đợc đa ra nhng cả ngời dân và cán bộ đề cha
hiểu cha hiểu rõ hết chức năng, tầm quan trọng của nó và cha thấy đợc lợi ích của bản quy hoạch. Vì vậy mà việc sử dụng đất của ngời dân và việc quản lý sử dụng của cán bộ
đề diễn ra không theo một trật tự và không theo quy hoạch đã đợc phê duyệt. Từ đó dẫn đến những trờng hợp bị thiệt hại lớn do không nắm đợc quy hoạch, cũng nh việc khiếu
kiện, khiếu nại không đúng luật.
Nh vậy về mặt nhận thức thì cần thay đổi lại , thực sự coi nó là một công cụ quản lý khoa học và là cơ sở để tiến hành điều tiết, điều phối hoạt động sử dụng . Cùng với nó là
những quy hoạch tạo ra phải thực sự có hiệu lực pháp lý và có giá trị pháp lý cao, để tránh tình trạng có quy hoạch , vẫn biết nhng vẫn vi phạm. Điều này có nghĩa là yêu cầu
của quy hoạch khi lập ra, cùng với nó là những chế tài pháp luật cho việc tổ chức hớng dẫn , thực thi và sử phạt vi phạm cũng phải đợc ra đời để đảm bảo tính hiệu lực, tính khả
thi cho bản quy hoạch.
Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đất nớc, vì thế việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất là góp phần vào thực hiện quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên đó không phải là một vấn đề lớn , đáng đợc quan tâm nhiều mà vấn đề là có những sự không đồng bộ giữa các loại quy hoạch, có
sự mâu thuẫn và phơng hớng chung của các bản quy hoạch là không thống nhất gây khó khăn cho thực hiện chiến lợc, quy hoạch tỉng thĨ ph¸t triĨn kinh tÕ x· héi . nh vậy để
nội dung quản lý quy hoạch sử dụng đất thực sự có vai trò lớn trong quản lý sử dụng đất thì cần phải có sự đồng bộ thống nhất về tính khoa học, tính dự báo giữa các bản quy
hoạch của các cấp và giữa các nội dung quy hoạch , tất cả phải phù hợp với chiến lợc, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội .
Sinh viên
: nguyễn duy dơng
30
Ttđtđckdbđs
Quy hoạch sử dụng đất phải đợc cụ thể hoá thành bản đồ và phải đợc công bố công khai. Nếu điều chỉnh quy hoạch , cũng cần phải đợc công bố công khai trên phơng
tiện thông tin đại chúng nh quy hoạch lần đầu và nên rõ lý do. Điều này giúp quản lý quy hoạch sử dụng đất đợc chặt chẽ hơn và tính khả thi , hiện thực đợc nâng lên.

1.2. Các giải pháp tăng cờng quản lý kế hoạch sử dụng đất đai


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quỹ đất nông nghiệp và biến động sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng

Tải bản đầy đủ ngay(40 tr)

×