Tải bản đầy đủ - 97 (trang)
Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng trực tiếp

Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng trực tiếp

Tải bản đầy đủ - 97trang

Tất cả các số liệu, giá cả tính tốn đều đã được đề tài quy về thời điểm năm 2005.
1. Giá trị sử dụng 1.1. Giá trị sử dụng trực tiếp
a. Giá trị gỗ Giá trị gỗ thu được tại VQG là từ phần diện tích có rừng, tài ngun rừng
ở đây bao gồm RNM cả rừng trồng, rừng tự nhiên và rừng phi lao. VQG Xuân thuỷ có 14 lồi cây gỗ, chúng thường mọc tự nhiên thuần
loài hoặc trồng thuần loài nên nghèo về thành phần. Các loài cây gỗ chủ yếu là Mắm biển, Sú, Vẹt dù, Trang, Đước và Phi lao mọc tập trung ở Cồn Lu,
Cồn Ngạn, các lồi còn lại có số lượng ít, xuất hiện rải rác. Hiện nay, diện tích rừng của VQG có trữ lượng gỗ kinh tế ước tính
khoảng 3.000 ha với cấp tuổi từ 10 năm trồng năm đầu tiên 1995 đến 5 năm trồng năm 2000 và gần 100 ha rừng phi lao. Theo số liệu thống kê của VQG
thì trữ lượng gỗ bình quân ở RNM là 65 m
3
ha. Theo lý thuyết, sản lượng gỗ kinh tế lấy ra hàng năm sẽ bằng 110 tổng
trữ lượng của một khu rừng, với một chu kỳ rừng ở đây vào khoảng 15 năm. Tại VQG Xuân Thuỷ, do tuổi cây khác nhau nên sản lượng gỗ kinh tế thực tế
có thể khai thác chỉ là 80 của 110 trữ lượng đây là đánh giá của các cán bộ lâm sinh làm việc tại VQG. Với giá gỗ đứng ở rừng là 50 nghìn đồng1cây,
hay 200 nghìn1m
3
, và giá gỗ thương phẩm tại địa phương vào thời điểm tính tốn là 300 nghìn đồng1m
3
. Như vậy, tổng sản lượng gỗ có thể khai thác tại 3.000 ha rừng của
VQG là: 3.000 x 65 x 110 x 0,8 = 15.600 m
3
Giá trị kinh tế trung bình của sản lượng gỗ hàng năm là:
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
47
15.600 x 300.000 : 15 = 312.000.000 đồng b. Giá trị củi
Sản phẩm củi chủ yếu thu được từ hơn 3000 ha rừng ngập mặn của vùng đất ngập nước, người dân khai thác không để đem bán trên thị trường mà
phần lớn được dùng trực tiếp làm chất đốt, làm hàng rào bảo vệ các đầm tôm. Quá trình khai thác diễn ra dưới hai hình thức:
+ Q trình tỉa thưa RNM: Trong q trình ni tơm các chủ đầm đã tiến hành tỉa thưa rừng ngập mặn xuống còn dưới 50. Theo số liệu thống kê
tại VQG, diện tích RNM trong các đầm tơm là 1.063 ha, sản lượng củi bình quân thu được sau những lần tỉa thưa là 7 m
3
ha trong 1 chu kỳ 15 năm. Giá 1m
3
sản phẩm củi vào thời điểm tính tốn là 200.000đ. Giá trị kinh tế trung bình hàng năm của sản lượng củi thu được do tỉa
thưa là:
1.063 x 7 x 200.000 : 15 = 99.213.333 đồng + Ngồi ra, sản lượng củi còn được khai thác ở cả rừng ngập mặn tự
nhiên và rừng trồng với tổng diện tích hơn 2.000 ha. Theo lý thuyết thì sản lượng củi có thể khai thác chỉ chiếm 110 tổng trữ lượng trong một chu kỳ
rừng là 15 năm. Theo số liệu thống kê của VQG thì các loại hình RNM ở khu vực được tạo bởi những lồi thực vật thấp nhỏ nên trữ lượng củi ít, trung bình
là 4,2 m
3
1ha. Tổng sản lượng củi có thể khai thác: 2.000 x 4,2 x 110 = 840 m
3
Vậy giá trị kinh tế trung bình hàng năm của sản lượng củi khai thác là:
840 x 200.000 :15 = 11.200.000 đồng
Như vậy, giá trị kinh tế bình quân của sản phẩm củi thu được tại VQG là
110.413.333 đồng năm.
c. Các lâm sản ngoài gỗ
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Mơi trường 44
48
Các lâm sản ngồi gỗ lấy được từ VQG bao gồm nhiều loại cây rừng tự nhiên, nhiều lồi cây cỏ như các cây họ cói làm thảm, chiếu, quả vẹt làm
tananh, rễ các cây ngập mặn làm nút Lie, các loại cây làm thuốc có giá trị như: dứa dại, sài hồ, sâm đất, củ gấu... Các sản phẩm phụ này do các hộ gia
đình thu hoạch để bán hoặc để tự tiêu dùng. Theo số liệu ước tính của phòng thống kê huyện Giao Thuỷ thì hàng năm có
khoảng 50 hộ dân địa phương và các đối tượng vãng lai đến VQG thu hoạch các sản phẩm phụ trên. Khi xuống thực tế tại VQG, tiếp xúc với các hộ khai
thác nguồn lâm sản phi gỗ này, họ cho biết thu nhập trung bình một năm từ nguồn sản phẩm này của họ là 600.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị kinh tế thu được từ các lâm sản ngoài gỗ là:
50 x 600.000 = 30.000.000 đồng
d. Giá trị đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là ngành được hưởng lợi nhiều nhất từ nguồn tài
nguyên phong phú của VQG, khu dự trữ thiên nhiên sẽ đem dến môi sinh an lành cho nghề NTTS. Khu RNM là sinh cảnh, đồng thời cũng là vườn ươm
con giống và cung cấp một nguồn thức ăn là bùn bã hữu cơ dồi dào cho nguồn lợi thuỷ sản sinh sôi. Nghề nuôi trồng nhuyễn thể ở các xã Giao Lạc,
Giao Xuân, Giao Hải phát triển mạnh, hàng năm đã cho thu nhập nhiều chục tỷ đồng. Ngồi ra nghề ni rong câu, nghề ni tơm trong hệ thống các đầm
tôm cũng khá phát triển. Tuy nhiên các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản này vẫn mang tính tự phát, quảng canh, chưa ổn định nên tính bền vững khơng cao.
Sản phẩm thuỷ sản đem lại giá trị kinh tế từ RNM là lượng thuỷ sản từ đánh bắt và nuôi trồng, chủ yếu là các loại: cá, tơm, cua, ngao, vạng.... chúng
được ni bằng hình thức quảng canh, tức là nguồn thức ăn và con giống từ tự nhiên là chính. Nguồn lợi thuỷ sản ở đây được đánh bắt chủ yếu theo các
phương pháp truyền thống đòi hỏi ít vốn đầu tư cho các phương tiện đánh bắt.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
49
Để tính được giá trị của nguồn lợi thuỷ sản của VQG, đề tài đã sử dụng các số liệu thu thập được từ Phòng thống kê huyện Giao Thuỷ kết hợp với các
thông tin thu được từ VQG, từ các hộ khai thác tại 19 đầm tôm và các bãi Vạng đang hoạt động trong phần lõi của VQG. Sau thời gian điều tra thực tế,
đề tài đã thu được sản lượng khai thác trung bình của từng nguồn lợi thuỷ hải sản. Bước tiếp theo là tìm hiểu giá thị trường trung bình tại địa phương trong
năm 2005 của từng loại sản phẩm mà các đầm tôm và bãi Vạng khai thác được. Cuối cùng giá trị thuỷ hải sản được xác định theo công thức:
GT =

= n
i i
i
Q P
1
.
Trong đó: GT là giá trị thuỷ hải sản.
P
i
, Q
i
lần lượt là giá bán và sản lượng của sản phẩm thứ i. Kết quả tính tốn được trình bày trong bảng 3.1 dưới đây:
Bảng 3.1 Giá trị thuỷ sản thu hoạch hàng năm từ VQGXT
Sản phẩm Sản lượng
kg Đơn giá VNĐ
kg Giá trị KT
VNĐ Cá
45.135 8.000 361.080.00
Tô m
Sú 15.296 45.000
688.320.00 Rảo
10.744 125.000 1.343.000.00
Cua bể 13.362 65.000
868.530.00
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
50
Rau câu 300.000 3.000
900.000.00 Ngao + vạng
5.000.000 7.000 35.000.000.00
ĐVthân mềm, hai mảnh vỏ các
loại -
- 143.820.000
Tổng 39.304.750.000
e. Giá trị khai thác các nguồn lợi tự nhiên ở khu vực Theo số liệu của phòng thống kê huyện Giao Thuỷ, trung bình một ngày có
tới 500 người dân từ các xã vùng đệm và dân từ các vùng lân cận tiến hành các hoạt động khai thác tự nhiên tại địa bàn VQG. Họ khai thác quanh năm
chỉ trừ một vài tháng có mưa lớn và dai dẳng, trung bình một năm người dân khai thác là 300 ngày. Vào thời điểm nông nhàn và mùa vụ khai thác vạng
giống và cua bể giống, con số này còn cao hơn nhiều khoảng một vài ngàn người . Qua điều tra thực tế bằng cách phỏng vấn trực tiếp những người dân
khai thác, họ cho biết bình quân một ngày họ thu được khoảng 45.000 đồng. Như vậy, thu nhập từ khai thác tự do đạt khoảng: 500 x 45.000 = 22.500.000
triệu đồngngày.
Như vậy, mỗi năm nguồn lợi tự nhiên của vùng đất ngập nước này là:
22.500.000 x 300 = 6.750.000.000 đồng f. Giá trị du lịch và giải trí
Theo số liệu thống kê của VQGXT, những năm gần đây số đoàn khách
quốc tế đến VQGXT khoảng 30 - 40 đồnnăm. Số lượng khách trung bình 150 lượt ngườinăm, với gần 30 quốc tịch. Khách có quốc tịch đơng nhất là
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
51
Anh, Mỹ, Hà Lan và Australia. Phần lớn du khách là những nhà khoa học về sinh học nghiên cứu chim hoặc rừng ngập mặn và thuỷ sinh. Một số khách
du lịch đến xem chim vào mùa chim di trú, theo thông tin trên mạng internet, hoặc qua môi giới của các công ty lữ hành như: Sài Gòn Tourist, Dalat
Tourist, Sao mai, Hồn Kiếm... Nói chung lượng khách quốc tế còn nhỏ, có ít khách du lịch đi theo tour sinh thái.
Khách trong nước gia tăng hàng năm, khoảng 200 đoànnăm. Số lượng khoảng 2.000 ngườinăm. Đối tượng chủ yếu là: sinh viên, học sinh, cán bộ
thăm quan và con em địa phương đi xa về thăm quê. Với khách trong nước, Vườn quốc gia chưa có dịch vụ nên chưa quản lý tốt đối tượng này, bởi vậy
hiện trạng du lịch còn khá hoang sơ. Cũng theo số liệu mà VQG cung cấp thì thời gian các đồn nghỉ lại trung
bình là 2 ngàyđồn với mức doanh thu trung bình là 100.000đ1 khách nội địa và 1001khách nước ngoài 1 = 15.900 VNĐ, thời giá 122005 .
Như vậy hoạt động du lịch đã mang lại lợi ích cho VQG trung bình một năm là:
150 x 100 x 15.900 + 2.000 x 100.000 = 438.500.000 đồng
g. Nguồn lợi từ sinh vật hoang dã Các lồi động vật trên cạn được tính ở VQG bao gồm các lồi chim, thú,
cơn trùng... xuất hiện, tồn tại và phát triển từ sinh cảnh RNM. Hầu hết các lồi động vật hoang dã nơi đây khơng thể định giá kinh tế theo giá thị trường
ví dụ như tính theo giá trị thực phẩm đặc sản, lơng, hiện vật trang trí... trừ một số lồi cho sản phẩm kinh tế gián tiếp trong khuôn khổ luật pháp cho
phép thu hoạch như : ong cho mật ong lấy nhuỵ hoa các cây rừng ; một số loài chim đặc biệt là chim nước cho một phần nhỏ số trứng có thể dùng làm
thực phẩm.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
52
Các cán bộ lâm sinh của VQG cho biết, mặc dù hoa của các loài cây trong rừng ngập mặn chỉ nở trong một vài tháng nhất định, trung bình khoảng 4
thángnăm nhưng chúng đã cung cấp một lượng khá lớn phấn hoa cho mật ong, khoảng 40 tấn mậtnăm. Với giá thị trường của mỗi kg mật onấntị thời
điểm năm 2005 là 12.000 đồng thì lợi ích kinh tế thu được từ việc nuôi ong trong rừng ngập mặn là:
40.000 x 12.000 = 480.000.000 đồng
Giá trị về mặt tiền tệ của những sản phẩm trên tuy không lớn nhưng xét về ý nghĩa khoa học, đa dạng sinh học phải được định giá theo tiêu chí bảo
tồn thiên nhiên thì tổng giá trị của tập đồn động vật hoang dã tại khu vực là rất lớn.
h. Giá trị kinh tế thu được từ việc chăn thả gia súc trong vùng ĐNN Hàng ngày có khoảng 400 con trâu bò của người dân và hơn 100 con dê
của bộ đội biên phòng chăn thả tự do trong khu vực VQG. Nhờ có nguồn thức ăn từ VQG nên các hộ gia đình khơng phải mất thêm một khoản chi phí cho
hoạt động chăn ni của mình. Vậy để ước tính lợi ích mà vùng ĐNN của VQG mang lại cho dân cư địa phương thì phương pháp đơn giản nhất thường
được áp dụng là tính tốn xem hàng năm các hộ chăn nuôi gia súc tự do tiết kiệm được bao nhiêu chi phí do khơng phải mua thêm thức ăn cần thiết. Khi
hỏi các hộ gia đình về vấn đề này, họ cho biết rằng nếu khơng chăn thả gia súc ở VQG thì trung bình mỗi ngày họ sẽ phải mất thêm 3.000 đồng để mua
các loại rau, cỏ cho một con gia súc.
Như vậy mỗi năm lợi ích kinh tế thu được do việc chăn thả gia súc là:
500 x 3.000 x 360 = 540.000.000 đồng 1.2. Giá trị sử dụng gián tiếp
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
53
Giá trị sử dụng gián tiếp được tính tốn dựa trên lợi ích thu được từ các chức năng sinh thái của ĐNN.
a. Chức năng bảo vệ đê biển, chắn sóng và gió bão Từ xa xưa, những người dân ven biển vùng đồng bằng sơng Hồng đã biết
trồng cây chắn sóng để bảo vệ cuộc sống của cộng đồng, đặc biệt họ đã biết trồng các loại cây như trang, bần, đước, sú vẹt... dọc bờ biển cửa sơng để bảo
vệ đê vì rễ thực vật của RNM làm giảm năng lượng của sóng, dòng chảy và các lực lượng xói mòn khác.
Những dải đất ngập mặn sau khi có rừng khơng chỉ được bồi tụ và nâng cao, thành phần bùn sét chặt lại, tạo nên đất phù sa phì nhiêu, khơng chỉ đóng
vai trò như “bức tường xanh” vững chắc chắn sóng và bảo vệ đê biển và cộng đồng dân cư mỗi khi mưa bão mà RNM còn có tác dụng ln ổn định địa hình
bờ biển, phân tán bớt năng lượng của sóng, gió và thuỷ triều. Nghiên cứu của Mazda và cộng sự 1997 ở xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình
cho thấy: nơi có rừng ngập mặn rộng 1,5km thì sóng cao 1m từ ngồi bãi trống sẽ giảm chiều cao của sóng chỉ còn 0,05m khi tới chân các bờ đầm do
đó khơng gây hư hại. Nếu khơng có rừng cũng khoảng cách đó chiều cao của sóng 1m khi đến chân bờ đầm chiều cao của sóng còn 0,75 m làm bờ đầm bị
xói lở. Như vậy, ta thấy vai trò của RNM trong việc bảo vệ đê biển, chắn sóng
và gió bão là rất lớn. Để đánh giá được giá trị này đề tài chia làm hai giai đoạn tính tốn là trước mùa mưa bão và sau mùa mưa bão.
Trước mùa mưa bão Để giảm thiểu thiệt hại do bão lũ gây ra, hàng năm trước mùa mưa bão
các địa phương gần biển đều phải bỏ chi phí để tu bổ, bảo dưỡng đê biển. Theo báo cáo của huyện Giao Thuỷ, trong những năm địa phương bị mất
RNM do hoạt động khai thác rừng bừa bãi thì mỗi lao động ở các xã vùng
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
54
đệm phải đóng góp 20.000 đồng hoặc một ngày côngnăm. Nhưng 3 năm trở lại đây, với tổng số 32km đê biển của huyện Giao Thuỷ trong đó có 11km bờ
biển tại VQGXT được RNM trưởng thành bảo vệ nên hầu như khơng phải mất chi phí cho cơng tác tu bổ đê hàng năm. Hiện nay, hàng năm mỗi lao
động chỉ phải đóng góp 15.000 đồng cho cơng tác bảo vệ phần đê biển còn lại khơng có rừng bảo vệ.
Theo số liệu thống kê toàn huyện Giao Thuỷ có 23.412 người trong độ tuổi lao động. Vậy giá trị bảo vệ đê biển hàng năm của RNM là:
11 11
- 32
23.412 x
15.000
x
=
184.000.000 đồng
Sau mùa mưa bão Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nắng nhiều, mưa
nhiều, hạn hán lũ lụt thường xuyên xảy ra và để lại hậu quả rất nặng nề đặc biệt là ở các địa phương ven biển. RNM giúp đê biển chống đỡ được sự tàn
phá của thiên nhiên, điều này đã được chứng minh rất rõ qua cơn bão số 7. Bão số 7 ập đến với sức gió giật cấp 11-12, nước biển dâng cao đã làm nhiều
vùng của tỉnh Nam Định gập trong bể nước, nơi chịu thiệt hại nặng nhất là huyện Hải Hậu do RNM nơi đây còn lại khơng nhiều. Sau cơn bão này, Nhà
nước đã dành 80 tỷ đồng từ ngân sách cho tỉnh Nam Định để đắp lại đê biển bị vỡ, bị sạt lở. Trong đó huyện Giao Thuỷ được nhận 30 tỷ đồng, số tiền này
dùng cho việc khắc phục 4 km đê bị hư hại tại Giao Phong, Quất Lâm. Đây là những đoạn đê gần VQGXT và cũng là nơi tâm bão đi qua, nếu khơng có
RNM bảo vệ thì 11 km đê biển của VQG cũng sẽ bị hư hại. Vậy lợi ích của RNM trong việc bảo vệ đê biển khi thiên tai xảy ra là:
30 : 4 x 11 = 82,5 tỷ đồng
= 82.500.000.000 đồng
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
55
Con số trên chưa phản ánh hết lợi ích của RNM trong việc chắn sóng và gió bão vì nó mới chỉ cho biết số tiền ngân sách phải chi cho khắc phục thiệt
hại chứ chưa đề cập tới giá trị bảo vệ cộng đồng tức là những thiệt hại của dân cư địa phương nếu đê biển bị vỡ. Khi đê biển bị vỡ, sóng biển tràn vào sâu
trong nội đồng không chỉ gây ra những thiệt hại trước mắt mà còn để lại những hậu quả lâu dài do ruộng vườn bị xâm nhập mặn nên khoảng 2 năm
đầu sẽ khơng có khả năng canh tác. Giá trị của VQGXT trong việc bảo vệ đê biển, chắn sóng và gió bão hàng
năm là:
184.000.000 + 82.500.000.000 = 82.684.000.000 đồng
b. Giá trị của RNM trong việc hấp thụ cacbon Bên cạnh những giá trị đã đề cập, RNM còn có giá trị trong việc giảm
thiểu ơ nhiễm khơng khí, bụi và tiếng ồn. Chu trình sinh lý thực vật nói chung và tập đồn cây rừng ngập mặn nói riêng, đặc biệt q trình quang hợp của lá,
đã được các nhà nghiên cứu chứng minh rằng có tác dụng rất lớn đối với giảm thiểu ô nhiễm không khí, thanh lọc độc tố, hấp thụ CO
2
và sản sinh O
2
, ngưng tụ và giảm tác hại của bụi, giảm tiếng ồn… Những cây xanh thân gỗ có chiều
cao trên 10 m, lá rộng như: Đước, Bần, Đâng… số lượng lá ở mức trung bình thấp có khả năng cung cấp lượng dưỡng khí tương đối lớn.
Muốn tính tốn khả năng tích tụ CO
2
của thực vật rừng ở VQGXT phải dựa trên cơ sở tính tốn tổng sinh khối tươi và sinh khối khơ của chúng. Quy
trình thực hiện lần lượt như sau:  Bước 1, sử dụng phương pháp điều tra theo ơ tiêu chuẩn điển hình để đo
đếm sinh khối của hệ thực vật RNM. Lấy ít nhất 3 ơ tiêu chuẩn điển hình để nghiên cứu, diện tích của mỗi ơ là 100 m
2
với kích thước 10 x 10 m.  Bước 2, đo đếm sinh khối tươi bao gồm sinh khối trên mặt đất và dưới
mặt đất.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
56
Đo đếm sinh khối tươi trên mặt đất - Đối với cây gỗ: Ở từng ô tiêu chuẩn tiến hành đo đường kính, chiều
cao của từng loại cây, từ kết quả đó sẽ xác định được các cây trung bình đại diện cho mỗi lồi khác nhau trong RNM . Sau đó sử dụng phương pháp chặt
hạ toàn diện để đo đếm sinh khối. Cụ thể, tại mỗi ô nghiên cứu, chặt hết các cây trung bình đã chọn và tiến hành cân để xác định tổng trọng lượng .
Sau khi chặt hạ tách riêng từng bộ phận: thân, cành, lá và cân ngay tại hiện trường để xác định sinh khối tươi của từng bộ phân đã phân tách.
- Đối với thảm mục: Tiến hành thu nhặt toàn bộ thảm mục trong ơ tiêu chuẩn và cân.
Sau khi tính tốn được trọng lượng từng bộ phận của cây gỗ và thảm mục trong ơ tiêu chuẩn thì lấy khoảng 10 trọng lượng của thân, cành, lá, thảm
mục để làm đại diện phân tích trọng lượng khơ kiệt trong phòng thí nghiệm. Đo đếm sinh khối tươi dưới mặt đất sinh khối rễ
- Tại mỗi ô tiêu chuẩn sau khi đo đếm sinh khối trên mặt đất của cây gỗ và thảm mục. Dùng cuốc đào toàn bộ rễ của cây đại diện, đào sâu từ 0 - 20 cm và
loại bỏ đất trong rễ cây thu được, rửa sạch, để se nước và cân để xác định sinh khối tươi. Lấy khoảng 10 trọng lượng rễ đã thu nhặt để phân tích trọng
lượng khơ kiệt trong phòng thí nghiệm. 
Bước 3, xác định sinh khối khô
Qua bước 2 đã lấy được mẫu đại diện của thân, cành, lá, rễ, thảm mục. Dùng phương pháp sấy mẫu bằng tủ sấy ở nhiệt độ 75
C trong khoảng 6 - 8 giờ. Trong quá trình sấy nếu sau 3 lần kiểm tra thấy trọng lượng khơng đổi thì
đó chính là trọng lượng khô của mẫu. Dựa trên trọng lượng tươi và trọng lượng khô kiệt, độ ẩm của từng mẫu
bộ phận thân thân, cành, lá, rễ, thảm mục sẽ thu được tính tốn theo cơng thức sau:
MC = [ FW - DW FW] x 100
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Mơi trường 44
57
Trong đó: MC là độ ẩm của mẫu tính bằng . FW là trọng lượng tươi của mẫu đơn vị kg
DW là trọng lượng khô kiệt của mẫu đơn vị kg. Sinh khối khô của từng bộ phận thân, cành, lá rễ, thảm mục được tính
tốn theo cơng thức : TDM l = [ TFW l x 1 - MCl] x Nx 0.001
TDM t = [ TFW t x 1 - MCt] x Nx 0.001 TDM c = [ TFW c x 1 - MCc] x Nx 0.001
TDM r = [ TFW r x 1 - MCr] x Nx 0.001 TDM tm = [ TFW tm x 1 - MCtm] x 10
Trong đó TDM l, TDM t, TDM c, TDM r, TDM tm là tổng sinh khối khơ
trên 1 ha tính bằng tấn của lá, thân, cành rễ và thảm mục. TFW l, TFW t, TFW r,TFW c, TFW tm là tổng sinh khối tươi của
lá, thân, cành, thảm mục đo đếm được của cây đại diện tính bằng kg. MC l, MC t, MC c, MC r, MC tm là độ ẩm tính bằng của lá,
thân, cành và thảm mục. N là mật độ cây trên 1 ha.
Vậy tổng sinh khối khô TDB của 1 ha rừng được tính như sau: TDB tấnha= TDM l + TDM t + TDM c + TDM r + TDM tm
 Bước 4, xác định hàm lượng cacbon CS
Cách 1, có thể xác định hàm lượng cacbon bằng phương pháp Walkley Black nghĩa là sinh khối khơ của từng bộ phận được đem phân tích trong
phòng thí nghiệm để xác định xem cacbon chiếm bao nhiêu phần trăm, sau đó tính tốn hàm lượng cacbon theo công thức:
CS = [ TDM l+TDM t +TDM c+TDM r +TDM tm] x C Trong đó, CS là hàm lượng các bon đơn vị tấn Cha
C là tỉ lệ cacbon trong sinh khối khô.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
58
Cách 2, hàm lượng cacbon trong sinh khối khô được xác định thông qua việc áp dụng hệ số mặc định 0.5 thừa nhận bởi Uỷ ban liên chính phủ về
biến đổi khí hậu IPCC, 2003. Nghĩa là hàm lượng cacbon được tính bằng cách nhân sinh khối khơ với 0.5. Theo đó, hàm lượng cacbon của 1 ha rừng sẽ
là tổng hàm lượng cacbon ở các bộ phận: lá, thân, cành, rễ, cỏ và thảm mục và được tính theo cơng thức dưới đây :
CS = [ TDM l+TDM t +TDM c+TDM r +TDM tm]x0.5 tấn C ha
Sau khi có được hàm lượng cacbon trên 1 ha rừng ta có thể quy đổi ra khối lượng khí CO
2
mà rừng đã hấp thụ bằng phép quy đổi sau: CO
2
= CS x 3,67 do M
CO2
= 3,67 x M
C
Qua các bước tiến hành trên đây, khối lượng cacbonic được rừng hấp thụ đã được xác định, cơng việc còn lại chỉ là nhân khối lượng tìm được này với
đơn giá CO
2
trên thị trường thế giới sẽ thu được giá trị của RNM trong việc hấp thụ CO
2
. Theo bản tin trên thị trường Carbon Châu Á tháng 122005 thì giá CO
2
dao động từ 3 – 5 USD tấn. Như vậy, việc xác định khối lượng cacbonnic được hấp thụ bởi rừng ngập
mặn tuân theo một quy trình khoa học rất rõ ràng nhưng lại đòi hỏi sự đầu tư rất lớn cả về công sức và vật chất. Trong phạm vi nghiên cứu, giá trị này chưa
được định lượng một cách cụ thể, tuy nhiên nếu so sánh với một số cơng trình nghiên cứu tại các địa điểm khác của Việt Nam thì giá trị này là rất lớn. Cụ
thể như nghiên cứu trữ lượng cacbon của thảm tươi và cây bụi tại các huyện Cao Phong, Đà Bắc tỉnh Hồ Bình và Hà Trung, Thạch Thành, Ngọc Lạc tỉnh
Thanh Hoá của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng RCFEE đã đưa ra kết quả trữ lượng cacbon trong sinh khối lau lách là cao nhất 20 tấn
Cha. Còn tại Rừng Vàng - huyện A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế thì trữ lượng cacbon trong của rừng Quế từ 8 - 17 tuổi là 47,8 tấn Cha, của rừng Thông ba
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
59
lá từ 12 - 18 tuổi là 58,7 tấn Cha, của rừng Keo tai tượng từ 7 - 17 tuổi là 45,3 tấn Cha.
Mặc dù chưa có nghiên cứu chính thức nào về hàm lượng cacbon tại VQG nhưng theo tác giả nếu được tính tốn đây sẽ là giá trị rất lớn. Đề tài gọi
giá trị này là A triệu đồngnăm.
1.3. Giá trị lựa chọn Bất kỳ giá trị lựa chọn nào liên quan tới phương án bảo tồn đều rất khó
đánh giá và định lượng. Giá trị của các lợi ích này hiện khơng phải lúc nào cũng được thừa nhận, mà có thể chỉ trở nên rõ ràng khi các vùng đất ngập
nước được bảo tồn. Bởi vì các giá trị lựa chọn nảy sinh từ việc không dự báo trước được những lợi ích chưa biết tới của vùng đất ngập nước trong tương lai
nên chúng đặc biệt khó có thể ước tính. Nhằm mục đích bước đầu tính tốn được giá trị lựa chọn, tác giả sử dụng
phương pháp CVM và tiến hành một cuộc điều tra nhỏ nhằm xác định mức WTP trung bình cho mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên tại vườn quốc gia
nhằm duy trì và phát triển chúng phục vụ nhu cầu sử dụng hiện tại. Điều tra thu thập số liệu
Trong phạm vi của đề tài, đối tượng của cuộc điều tra chỉ bao gồm dân cư tại 5 xã vùng đệm. Thông tin được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối
với từng hộ gia đình được chọn làm đại diện để trả lời phỏng vấn. Sau khi xác định được đối tượng và cách thức thu thập số liệu thì yêu cầu
đặt ra là phải xác định cỡ mẫu điều tra. Lý thuyết thống kê chỉ ra rằng cỡ mẫu càng lớn, độ tin cậy càng cao và ngược lại. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian
và kỹ thuật nên cỡ mẫu được lựa chọn trong đề tài là khoảng 150 đến 200 hộ gia đình sinh sống trên địa bàn 5 xã vùng đệm.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
60
Mẫu phiếu điều tra được trình bày tại phụ lục 4. Với 172 phiếu phát ra phỏng vấn thì có 22 phiếu bị loại bỏ do phiếu khơng đầy đủ thơng tin. Do đó
phân tích trong nghiên cứu dựa trên 150 phiếu hợp lệ. Tổng hợp số liệu thu thập được về đặc điểm KT - XH của người được
phỏng vấn  Giới tính
Trong tổng số 150 người dân được phỏng vấn thì 67 nữ chiếm 44.7 và 83 nam chiếm 55.3
 Tuổi
Tuổi của 150 người tham gia trả lời phỏng vấn thấp nhất là 25 tuổi và cao nhất là 75 tuổi, trong đó nhóm tuổi từ 45-55 chiếm tỷ lệ cao nhất là 27,6.
Bảng 3.2 Tuổi của người dân được phỏng vấn
Nhóm tuổi Số lượng người
Tỷ lệ 25-35
35-45 45-55
55-65 65-76
Tổng 23
37
41
26 23
150 15,4
25,0 27,6
17,1 14,9
100
 Số người trong gia đình
Quy mơ các gia đình được điều tra phản ánh khá rõ nét quy mô tại địa phương, số hộ gia đình có 5 người chiếm tỷ lệ khá lớn. Kết quả thu được thể
hiện trong bảng 3.3.
Bảng 3.3 Quy mơ gia đình của người được phỏng vấn
Quy mơ gia đìnhngười Số lượng người
Tỷ lệ 2
3 6
30 4,0
20,0
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
61
4
5
6 7
Tổng 33
46
22 13
150 22,0
30,7 14,6
8,7 100
 Trình độ học vấn Phiếu điều tra đưa ra 5 cấp độ trình độ học vấn là trung học cơ sở, phổ
thông trung học, trung cấp - cao đẳng, đại học và trình độ khác. Qua số liệu thu thập được cho thấy, tỉ lệ vùng đệm tốt nghiệp PTTH cao nhất tới 44,7, tỉ
lệ tốt nghiệp Đại học tương đối thấp chỉ là 4,0.
Bảng 3.4 Trình độ học vấn của người được phỏng vấn
Trình độ học vấn Số lượng người
Tỉ lệ Trung học cơ sở
PTTH
Trung cấp - Cao đẳng ĐH
Khác Tổng
54
67
17 6
6 150
36.0
44.7
11.3 4.0
4.0 100
 Nghề nghiệp
Trong 150 người được phỏng vấn có 63 người tham gia sản xuất trong ngành ngư nghiệp, chiếm 42 và cũng trong kết quả thu được thì có tới 51
mà cơng việc hàng ngày của họ có liên quan tới nguồn tài nguyên thiên nhiên của VQG, có thể là tham gia khai thác trực tiếp hoặc kinh doanh bn bán các
nguồn tài ngun này để có thu nhập.
Bảng 3.5 Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn
Nghề nghiệp Số lượng người
Tỷ lệ Nông nghiệp
62 41,3
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
62
Ngư nghiệp
Giáo viên CBCNV
Kinh doanh Nghỉ hưu
Tổng
63
1 5
15 4
150
42,0 0,7
3,3 10,0
2,7 100
 Thu nhập
So với các địa phương thuần nơng khác thì thu nhập của người dân ở đây khá cao do ngoài sản xuất nơng nghiệp họ còn có thêm thu nhập từ khai thác
thủ công nguồn tài nguyên phong phú tại VQG. Hơn nữa nhờ thiên nhiên ưu đãi nên ngành kinh tế biển ở địa phương phát triển mạnh. Thu nhập của người
dân ở mức 1 triệu đến 1 triệu rưỡi chiếm tỉ lệ cao nhất là 40,7.
Bảng 3.6 Thu nhập hàng tháng của người tham gia phỏng vấn
Thu nhập nghìn đồng Số lượng người
Tỷ lệ Dưới 500
500 - 1.000 1.000 - 1.500
1.500 - 2.000 2.000 - 2.500
Trên 2.500 Tổng
14 33
61
22 14
6 150
9,3 22,0
40,7 14,7
9,3 4,0
100
 Mức sẵn sàng chi trả cho quỹ 1 ký hiệu WTP
OV
Trong số 150 người dân trả lời phỏng vấn thì có tới 14 khơng sẵn sàng chi trả cho quỹ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì chúng cho
thế hệ hiện tại sử dụng.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
63
Đối với những người không sẵn sàng chi trả cho quỹ 1, WTP của họ được giả định bằng 0, tuy nhiên trên thực tế khơng đồng ý chi trả khơng có
nghĩa là họ không nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên của VQG. Lý do chủ yếu trong quyết định của họ là vì họ cho rằng số tiền đóng
góp đó sẽ bị sử dụng lãng phí khơng đúng mục đích. Đối với các hộ sẵn sàng chi trả, mức WTP được lựa chọn nhiều nhất là
50.000 đồng chiếm tỉ lệ 26. Kết quả điều tra được thể hiện trong bảng 3.7.
Bảng 3.7 Mức sẵn sàng chi trả của người dân cho quỹ 1
Mức WTP nghìn đồng Số lượng người
Tỷ lệ
10 20
30 40
50
60 70
80 90
100 Tổng
21 26
12 18
10
39
9 10
2 3
150 14,0
17,3 8,0
12,0 6,7
26,0 6,0
6,7
1,3 2,0
100
Xây dựng mơ hình hồi quy mức sẵn sàng chi trả cho quỹ 1 WTP
OV
- Mơ hình hồi quy của WTP
OV
có dạng như sau: WTP
OV
= β
1
+ ∑
= n
j
2
β
j
X
ji
+ u
i
1
Trong đó:
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
64
i chỉ số quan sát j chỉ số của các biến
β
1
là hệ số chặn β
j
hệ số hồi quy của các biến trong mô hình X
ji
giá trị của quan sát thứ i u
i
yếu tố ngẫu nhiên
- Theo tác giả, các biến số có thể ảnh hưởng tới WTP
OV
trong bảng hỏi của đề tài là : giới tính ký hiệu là GT, tuổi T, số người trong gia đình SN,
trình độ học vấn HV, nghề nghiệp NN và mức thu nhập TN. Như vậy, mơ hình 1 có thể viết dưới dạng:
WTP
OV
= β
1
+ β
2
GT
i
+ β
3
T
i
+ β
4
SN
i
+ β
5
HV
i
+ β
6
NN
i
+ β
7
TN
i
+ u
i
2
Trong các biến dự đốn có ảnh hưởng đến WTP
OV
thì có 3 biến chất lượng là trình độ học vấn HV, giới tính GT và nghề nghiệp NN. Để lượng hố
được biến chất lượng, trong phân tích hồi quy người sử dụng kỹ thuật biến giả. Biến giả được sử dụng trong mơ hình hồi quy giống như biến số lượng
thông thường. Các biến giả được dưa vo mụ hỡnh l: + GT
i
=


ữ là n
vấn phỏng
lời trả
người nếu
là nam vấn
phỏng lời
trả người
nếu 1
+ HV
i
=



n lê
trở CĐ
từ tốt nghiệp
vấn phỏng
lời trả
người nếu
2 PTTH
tốt nghiệp vÊn
pháng lêi
tr¶ ng­êi
nÕu 1
THCS tèt nghiƯp
vÊn pháng
lêi tr¶
ng­êi nÕu
+ NN
i
=




VQG của
TNTN nguồn
các tới
quan n
liê không
vấn phỏng
lời trả
của người nhập
thu nếu
VQG TNTN
nguồn dụng
sử thác,
hai k
việc tới
quan n
liê vấn
phỏng lêi
tr¶ cđa ng­êi
nhËp thu
nÕu 1
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Mơi trường 44
65
Dùng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS có thể ước lượng các hệ số hồi quy của 2 mơ hình trên. Sau khi tổng hợp kết quả thu được sau
khi phỏng vấn các hộ gia đình, đề tài sử dụng phần mềm MFIT3 để ước lượng các hệ số hồi quy xem MH[1] bảng 3.8.
Bảng 3.8 Ước lượng mơ hình hồi quy WTP
OV
theo các biến bằng phần mềm MFIT3 mơ hình [1]
Ordinary Least Squares Estimation
Dependent variable is WTP
150 observations used for estimation from 1 to 150
Regressor Coefficient Standard Error T-Ratio[Prob]
INPT -37.0042 11.3592 -3.2576[.002] GT .35963 .32167 1.1180[.270]
T .68276 .17427 3.9179[.000] SN -3.5215 1.1147 -3.1591[.003]
HV 3.7551 1.6171 2.3220[.025] NN 8.2574 1.9111 4.3207[.000]
TN .037840 .0031631 11.9628[.000]
R-Squared .98803 F-statistic F 6, 143 591.6859[.000]
R-Bar-Squared .98636 S.E. of Regression 3.0935 Residual Sum of Squares 411.4907 Mean of Dependent Variable 34.1000
S.D. of Dependent Variable 26.4901 Maximum of Log-likelihood -123.6410 DW-statistic 1.2039
Mơ hình hồi quy của WTP
OV
thu được là: WTP
OV
= - 37 + 0,359 GT + 0,682T - 3,52 SN + 3,75 HV + 8,26NN + 0,038 TN + u
i
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
66
Bảng kết quả mơ hình hồi quy trên đây đưa ra WTP
OV
trung bình là 34.100 đồng, do đó tại thời điểm phỏng vấn thì giá trị lựa chọn của VQG
hàng năm là: OV = WTP
OV
trung bình x Tổng số hộ dân trong vùng = 34.100 x 11.464 = 390.922.400 đồng
Vậy tại thời điểm tính tốn năm 2005 thì giá trị lựa chọn của VQG là: 0,075
1 390.922.40
+
= 363.648.744 đồng
Phân tích các ảnh hưởng của các nhân tố tới WTP
OV
Muốn biết các biến đưa vào trong mô hình có thực sự ảnh hưởng tới sự sẵn sàng chi trả hay không, ta tiến hành kiểm định cặp giả thuyết sau:
H : β
j
= 0 hệ số hồi quy khơng có ý nghĩa thống kê. H
1
: β
j
≠ hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê.
. Nếu
α
p bác bỏ giả thuyết H , nhận H
1
. . Nếu
α
p chưa có cơ sở bác bỏ giả thuyết H với p-value = [Prob] và
α
= 0,05
Ảnh hưởng của giới tính tới WTP
OV
: Với β
2
= 0,359 0 có nghĩa là nam giới sẵn sàng chi trả cao hơn nữ giới là 359 đồng. Tuy nhiên với mức ý nghĩa
α
= 5 thậm chí 10 thì hệ số hồi quy của biến giới tính đều khơng có ý nghĩa thống kê. Do đó chưa thể khẳng định giới tính có ảnh hưởng tới WTP
OV
hay khơng. Điều này có thể do sai số trong quá trình lấy mẫu vì tỉ lệ nam nữ tham gia phỏng vấn chênh lệch nhau và không phản ánh đúng tỷ lệ nam nữ
hiện tại của địa phương. Ảnh hưởng của tuổi đến WTP
OV
: β
3
= 0,682 0, p-value = 0.000
α
nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Như vậy khi các nhân tố khác không đổi, nếu tuổi của người tham gia phỏng vấn tăng thêm 1 năm thì mức WTP
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
67
tăng 683 đồng. Do đó, tuổi có ảnh hưởng thuận tới WTP
OV
. Điều này có thể giải thích là do tuổi càng cao, nhận thức của người dân về giá trị của nguồn
TNTN cũng cao hơn. Do đó, WTP của những người cao tuổi có xu hướng tăng.
Ảnh hưởng của số người trong gia đình tới WTP
OV
: β
4
= - 3.521 0, p- value = 0.003
α
, điều đó có nghĩa là khi các biến số khác không đổi, nếu số người trong gia đình tăng thêm 1 thì sự sẵn sàng chi trả của họ giảm đi 3.521
đồng. Có thể giải thích hiện tượng này là do khi gia đình có nhiều người, họ sẽ phải chi tiêu nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày, do đó ngân sách dành
cho những vấn đề khác sẽ giảm bớt. Như vậy, số người trong gia đình tác động ngược chiều WTP
OV
, tức là số người trong gia đình càng tăng thì mức sẵn sàng chi trả cho quỹ 1 càng giảm.
Ảnh hưởng của học vấn tới WTP
OV
: β
5
= 3.755 0, p-value = 0,025
α
nên có thể nói học vấn có ảnh hưởng tới mức sẵn sàng chi trả và đây là ảnh hưởng cùng chiều. Cụ thể, khi các nhân tố khác cố định, nếu trình độ học vấn
của người được phỏng vấn cao hơn 1 bậc sẽ sẵn sàng chi trả cao hơn 3.755 đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế do học vấn càng cao thì nhận
thức của người dân về TNTN, về môi trường càng cao, họ hiểu được tầm quan trọng của chúng đối với cuộc sống của bản thân cũng như của cộng
đồng. Do đó, họ sẵn sàng chi trả cao hơn cho việc bảo tồn TNTN. Ảnh hưởng của nghề nghiệp tới WTP
OV
: Qua kết quả hồi quy thu được β
6
= 8.257 0, p-value = 0.000
α
, như vậy những người có thu nhập gắn liền với tài nguyên VQG sẽ sẵn sàng chi trả cao hơn những người mà thu nhập của
họ không liên quan tới nguồn TNTN của VQG là 8.257 đồng. Nghề nghiệp có ảnh hưởng thuận tới WTP
OV
, bởi lẽ những người tham gia trong ngành kinh tế biển hiểu rất rõ tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên này tới sự phát triển
kinh tế địa phương cũng như tới mức sống hàng ngày của họ.
Trương Thị Minh Hà Lớp Kinh tế Môi trường 44
68
Ảnh hưởng của thu nhập tới WTP
OV
: β
7
= 0,038 0, p-value = 0.000
α
trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi thu nhập của người dân tăng thêm 1000 đồng thì WTP
OV
tăng 37,8 đồng. Mối quan hệ của thu nhập tới WTP
OV
là mối quan hệ dương nghĩa là thu nhập càng cao thì sự sẵn sàng chi trả càng cao. Điều này có thể được giải thích là những người có thu nhập cao
hơn sẽ có ngân sách lớn hơn cho các việc khác ngồi chi tiêu đảm bảo cuộc sống gia đình. Song cũng có thể hiểu theo cách khác rằng những người có thu
nhập cao ở địa phương đa phần là do khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên biển. Do đó, họ đánh giá cao hoạt động bảo tồn vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới
thu nhập hàng ngày của họ. Từ nhận xét trên có thể thấy các biến có thể có mối tương quan lẫn nhau ví
dụ như biến nghề nghiệp và thu nhập, biến học vấn và thu nhập...Nhưng trong phạm vi nghiên cứu, mối liên quan này chưa được đề cập.
2. Giá trị phi sử dụng 2.1 Giá trị để lại

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng trực tiếp

Tải bản đầy đủ ngay(97 tr)

×