Tải bản đầy đủ - 70 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 70trang

PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN


3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của lâm trường
Lâm trường Thác Bà được thành lập theo quyết định số 173-TCLN QĐ ngày 13121960 của Tổng cục lâm nghiệp. Trong những năm đầu trực
thuộc trung ương quản lí, có nhiệm vụ chính là khai thác lâm sản và nạo vét lòng hồ để phục vụ cho cơng trình thuỷ điện Thác Bà khởi cơng xây dựng.
Đến năm 1972 lâm trường Thác Bà được tách thành 2 lâm trường: Lâm trường Thác Bà và lâm trường Yên Bình.
- Lâm trường Thác Bà: Phạm vi quản lí mới bao gồm diện tích rừng của 16 xã và thị trấn phía đơng hồ Thác Bà với tổng diện tích tự nhiên là
43.951 ha. - Lâm trường Yên Bình: Phạm vi quản lí hoạt động tại 8 xã và thị trấn
phía tây hồ dọc theo quốc lộ 7. Giai đoạn này hai lâm trường đều thuộc địa phương tỉnh Yên Bái quản
lí. Nhiệm vụ chính là khai thác lâm sản rừng tự nhiên đi đôi với trồng rừng quy mô lớn để phục vụ nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng.
Vào những năm đầu của thập kỉ 90 theo sự vận hành của cơ chế mới, lâm trường được sắp xếp và tổ chức lại theo quyết định 202QĐ-UB ngày
10121992 của UBND tỉnh Yên Bái.

3.1.2. Vị trí địa lí và địa giới hành chính


- Vị trí địa lí: + Vĩ độ bắc: 21
O
40’ đến 23
O
3’ + Kinh độ đông:104
O
56’ đến 105
O
7’3”
22
- Địa giới hành chính: Lâm trường Thác Bà nằm ở thị trấn Thác Bà, phạm vi quản lí nằm trên rộng khắp 16 xã tả ngạn sơng Chảy.
+ Phía Bắc giáp huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái. + Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ.
+ Phía đơng giáp tỉnh Tun Quang. + Phía Tây giáp lâm trường n Bình tỉnh Yên Bái.
3.1.3. Điều kiện tự nhiên 3.1.3.1. Địa hình
Là vùng đồi núi thấp được tạo bởi các dãy núi chính có tên là : Núi Là, núi Yừn, núi Ngàng, núi Lương nằm trong khu vực sông Chảy và hồ Thác Bà.
- Độ cao tuyệt đối cao nhất là 958 m. - Độ cao tuyệt đối trung bình là 450 m.
- Độ cao tương đối bình quân là 70 m. - Độ dốc bình qn là 32
o

3.1.3.2. Khí hậu, thuỷ văn và thổ nhưỡng a. Khí hậu


Lâm trường Thác Bà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đơng khơ hanh, mùa hè nóng ẩm.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23
o
C. + Nhiệt độ bình quân cao nhất hàng năm là 37
o
C. + Nhiệt độ bình quân thấp nhất hàng năm là 3
o
C. - Độ ẩm khơng khí bình qn trong năm là 88.
- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 600-700 ml.
23
- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.750 mm. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm. Mùa
khô bát đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. - Chế độ gió:
+ Mùa Đơng có gió mùa đơng bắc, mùa hè có gió mùa đơng nam. + Hướng gió thịnh hành là hướng đơng, tốc độ gió bình qn là 1,4
ms. Thường có giơng và lốc xốy vào tháng 6, tháng 7. Cường độ xoáy là 11ms.
b. Thuỷ văn Do điều kiện địa hình tạo nên một hệ thống sơng ngòi, khe suối đổ ra
hồ Thác Bà và sơng Chảy. Có nhiều cơng trình thuỷ nơng, đập nước phục vụ cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Hệ thống đường giao thông thuỷ, bộ
thuận tiện cho vận xuất, vận chuyển nông - lâm sản và giao lưu kinh tế. c. Thổ nhưỡng
Trên cơ sở tài liệu khảo sát thổ nhưỡng năm 1976 kết hợp với kết quả điều tra bổ xung lập địa cấp 1 của Viện quy hoạch thiết kế nông - lâm nghiệp
Yên Bái. Đất đai trong vùng quản lí của lâm trường chủ yếu là đất ferarit vàng đỏ phát triển nên đất mẹ paragơlai, đá sét và đá biến chất, tầng dầy đất từ
50-70 cm.
3.1.4. Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội của vùng 3.1.4.1. Tình hình dân sinh kinh tế
Trong vùng hiện có 57.740 người với 9.940 hộ. Gồm 6 dân tộc: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Cao Lan và một số dân tộc khác. Trong đó người Kinh,
người Tày và người Dao chiếm đa số. Trong tổng 57.740 nhân khẩu thì có 40.000 lao động và 8.000 hộ
thường xuyên lao động nông - lâm nghiệp. Mật độ dân số bình quân là 131 ngườikm
2
. 24
Nhìn chung các dân tộc trên sống thành các bản làng ven theo đường quốc lộ, ven theo các khe ngòi và các cánh đồng nhỏ. Thu nhập bình quân của
người dân trong vùng chưa cao, khoảng 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng trên một năm.

3.1.4.2. Văn hoá xã hội a. Y tế


Để bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, trong vùng có 17 trạm xá và 2 phân viện với tổng số 53 y, bác sỹ và cán bộ quản lí với 85 giường bệnh.
b. Giáo dục Hệ thống giáo dục đã được xây dựng đến các xã. Các xã trong vùng
đều có trường PTTHCS và tiểu học. Tổng số có 21 trường trung học cơ sở, 2 trường trung học phổ thông với 462 giáo viên và cán bộ quản lí. Có 12.628
học sinh đang theo học tại các cấp. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 97. Trong những năm qua các trường đã thực hiện đa dạng hố mơ hình
phổ cập giáo dụ nên chất lượng giáo dục ngày càng tăng, số lượng học sinh theo học các trường Phổ thông trung học và trường nội trú ngày càng tăng lên.
c. Cơ sở hạ tầng - Hệ thống đường giao thông: Trên địa bàn vùng nghiên cứu có đường
bộ đi qua các xã với tổng chiều dài là 111 km đường các loại. Mặt hồ Thác bà tiếp giáp 1316 xã trong vùng, rất thuận tiện cho giao lưu dân sinh kinh tế .
- Văn phòng làm việc: 1 nhà 2 tầng và 2 nhà cấp 4 với tổng diện tích là 600 m
2
. - Hệ thống thuỷ lợi ở các xã đã được xây dựng và nâng cấp đảm bảo
tưới tiêu cho đồng ruộng sản xuất 2 vụ nông nghiệp. - Hệ thống điện: Đường điện lưới quốc gia đã có 1616 xã, phục vụ
cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

3.1.4.3. Tình hình sản xuất và đời sống dân cư


a. Tình hình sản xuất.
25
Qua biểu 01 ta thấy: Phần lớn diện tích đất sản xuất nơng nghiệp là để phục vụ cho trồng cây hàng năm và trồng cỏ phục vụ chăn ni. Diện tích đất
phục vụ cho trồng lúa rất ít, từ đây ta thấy trồng lúa không phải là thế mạnh của vùng. Mà thế mạnh của vùng là trồng rừng, với diện tích 18.993 ha đất
rừng chiếm 43,21 tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 6.283 ha là đất trồng rừng phòng hộ, còn lại là đất rừng phục vụ cho trồng rừng kinh tế. Vì thế
trồng rừng kinh tế là thế mạnh của vùng, nó mang lại cho người dân mức doanh thu trung bình trên 10.000.000đ năm.
Biểu 01: Hiện trạng sử dụng đất đai của lâm trường năm 2005 STT
Loại đất Diện tích ha
Cơ cấu Tổng
43.951 100
I Đất nông nghiệp 26.270
59,77 1 ộ?t s?n xu?t n?ng nghi?p
5.700 12,97
1.1 Đất trồng cây hàng năm 3.293
7,49 a Đất trồng lúa
333,8 0,76
b Đất cỏ dùng chăn nuôi 1.669,2
3,80 c Đất trồng cây hàng năm khác
1.290 2,94
1.2 Đất trồng cây lâu năm 830
1,89 2 Đất lâm nghiệp
18.993 43,21
2.1 Đất trồng rừng sản xuất 6.283
14,30 2.2 Đất trồng rừng phòng hộ
12.710 28,92
2.3 Đất trồng rừng đặc dụng -
- 3 Đất nông nghiệp khác
1.577 3,59
II Đất phi nông nghiệp 6.746
15,35 1 Đất ở
284 0,65
2 Đất chuyên dùng 6.462
14,70 III Đất chưa sử dụng
10.935 24,88
Nguồn: Tài liệu điều tra b. Đời sống của người dân
Thu nhập bình quân của các hộ gia đình còn thấp, bình qn đạt 10-12 triệu đồngnămhộ. Thế mạnh của vùng là sản xuất nông - lâm nghiệp, tuy
nhiên vùng vẫn chưa tận dụng hết các tiềm năng về lao động, đất đai... Trong những năm gần đây, được sự đầu tư phát triển của dự án 327 và dự án 5 triệu
ha rừng, trình độ sản xuất của người dân đã được nâng lên một bước nhất định. Tuy nhiên vùng vẫn chưa có bước đi hữu hiệu để nâng cao năng suất lao
động giúp cải thiện đời sống của người dân. 3.1.5. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
26

3.1.5.1. Những thuận lợi


- Điều kiện đất đai: Độ dốc, độ dày, thành phần đất thích hợp cho tập đồn cây lâm nghiệp sinh trưởng và phát triển.
- Điều kiện khí hậu và thời tiết: Vùng có hệ thống sơng Chảy và hồ Thác Bà nên khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao, ánh sáng, lượng mưa phù hợp với
yêu cầu sinh thái của các loài cây lâm nghiệp.
- Các loài cây lâm nghiệp được sử dụng trong trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế là : Trám, lát, muồng, keo, quế, bạch đàn... đã phát huy hiệu quả
tốt.
- Trong vùng có lực lượng lao động dồi dào, ít nhiều đã có kinh nghiệm trong sản xuất lâm nghiệp. Hiện nay người dân đã nhận thức được vai
trò và hiệu quả to lớn mà lâm nghiệp mang lại nên rất tích cực tham gia vào sản xuất lâm nghiệp.
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lí kinh tế, kỹ thuật có năng lực, nhiệt tình trong cơng việc sẽ là hạt nhân, nòng cốt để cùng người dân
trong vùng phát triển lâm nghiệp. 3.1.5.2. Khó khăn
- Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng, địa hình phức tạp nên điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn.
- Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, một số diện tích rừng phòng hộ,nhất là vùng ít xung yếu chuyển sang rừng kinh tế, cơ chế vay vốn gặp
nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ lâm sản khơng ổn định nên phần nào làm giảm phong trào trồng rừng
- Trình độ dân trí khơng đều, ảnh hưởng đến sự nhận thức và tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm nghiêp.
- Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất còn nghèo nàn, nhất là hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã.
3.2. Tình hình quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của lâm trường Thác Bà huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái
3.2.1. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái
3.2.1.1.Hiện trạng sử dụng đất đai của Huyện Yên Bình - Yên Bái
Theo tài liệu thống kế năm 2005, cơ cấu đất đai của huyện như sau
Biểu 02: Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện n Bình tỉnh n Bái.
27
STT Loại đất
Diện tích ha Cơ cấu
Tổng diện tích tự nhiên 89.227,44
100 I
Đất nơng nghiệp 56.584,87
63,42 1
Đất sản xuất nông nghiệp 8.828,33
9,89 a
Đất trồng cây hàng năm 6.127,50
6,87 a.1
Đất trồng lúa 634,50
0,71 a.2
Đất có dùng vào việc chăn nuôi 2.963,65
3,32 a.3
Đất trồng cây hàng năm khác 2.529,35
2,83 b
Đất trồng cây lâu năm 2.700,83
3,03 2
Đất lâm nghiệp 44.820,63
50,23 a
Đất rừng sản xuất 25.611,87
28,70 b
Đất rừng phòng hộ 19.208,76
21,53 c
Đất rừng đặc dụng -
- 3
Đất ni trồng thuỷ sản 2.535,37
2,84 4
Đất nông nghiệp khác 400,54
0,45 II
Đất phi nông nghiệp 12.492,95
14,11 1
Đất ở 545,82
0,61 a
Đất ở nông thôn 442,82
0,50 b
Đất ở thành thị 103,00
0,12 2
Đất chuyên dùng 8.880,68
9,95 a
Đất trụ sở, cơ quan 70,30
0,08 b
Đất quốc phòng, an ninh 642,15
0,72 c
Đất SXKD phi nông nghiệp 6.037,63
6,77 d
Đất có mục đích cơng cộng 2.130,60
2,39 3
Đất tơn giáo, tín ngưỡng 4,40
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
82,83 0,09
5 Đất sông suối, mặt nước CD
2.975,12 3,33
6 Đất phi nông nghiệp khác
4,10 III
Đất chưa sử dụng 20.149,62
22,58 1
Đất bằng chưa sử dụng 9,50
0,01 2
đất đồi núi chưa sử dụng 18.827,00
21,1 3
Núi đá khơng có rừng cây 1.613,12
1,81 Nguồn: Phòng TNMT huyện n Bình
Từ số liệu về hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Yên Bình - Yên Bái ở biểu 02 ta có thể thấy được tình hình sử dụng các loại đất ở địa bàn huyện
như sau: Trong tổng số 89.227,44 ha đất tự nhiên tồn huyện, thì diện tích đất
nông nghiệp chiếm 56.584,87 ha tương ứng với 63,42 tổng diện tích tự nhiên. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình của huyện là nhiều đồi núi nên diện
28
tích đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 8.828,33 ha trong tổng số 56.584,87 ha đất nông nghiệp. Nó tương đương 9,89 tổng diện tích
tự nhiên tồn huyện và 15,6 trong tổng diện tích đất nơng nghiệp của huyện. Điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp không phải là thế mạnh của huyện.
Trong tổng số 8.828,33 ha đất sản xuất nông nghiệp, cây trồng chủ yếu là đất trồng cỏ để phục vụ cho chăn nuôi. Với diện tích 2.963,65ha đất trồng cỏ
tương ứng chiếm 33,56 tổng diện tích đất nơng nghiệp và chiếm 3,32 tổng diện tích đất tự nhiên tồn huyện. Tiếp đến là đất trồng cây hàng năm khác là
2.529,35 ha chiếm 2,83 tổng diện tích đất tự nhiên. Đất trồng lúa tồn huyện chỉ có 634,5 ha chiếm 0,71 tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm
7,18 tổng diện tích đất sản xuất nơng nghiệp. Đất trồng cây lâu năm toàn huyện là 2.700,83 ha chiếm 3,03 tổng diện tích đất tự nhiên. Qua đây ta
thấy sản xuất nơng nghiệp trong tồn huyện khơng phải là thế mạnh, chủ trương của huyện trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp là để đảm bảo
lương thực cho dân cư trong vùng. Đất lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp trong toàn huyện là
44.820,63 ha chiếm 50,23 tổng diện tích đất tự nhiên, với hơn một nửa diện tích đất tự nhiên toàn huyện là đất lâm nghiệp, chứng tỏ lâm nghiệp là ngành
thế mạnh và huyện đang tập trung, chú trọng và phát triển nghề rừng. Với điều kiện địa hình trong huyện là đồi núi với độ cao trung bình thấp. Nên việc
phát triển rừng sản xuất đang được chú trọng. Tổng diện tích đất lâm nghiệp để phát triển rừng sản xuất là 25.611,87 ha chiếm 28,7 tổng diện tích đất tự
nhiên. Tuy nhiên việc phát triển rừng phòng hộ cũng được huyện quan tâm, với diện tích 19.208,76 ha đất rừng phòng hộ, chiếm 21,53 tổng diện tích
đất tự nhiên, sẽ góp phần tích cực vào việc bảo vệ mùa màng và môi trường. Diện tích đất nơng nghiệp còn lại phục vụ chủ yếu cho nuôi trồng thuỷ
sản là 2.535,37 ha, chiếm 24,8 và đất nông nghiệp khác là 400,54 ha chiếm 0,45 tổng diện tích đất tự nhiên tồn huyện.
Đất phi nơng nghiệp trong tồn huyện là 12.492,95 ha chiếm 14 tổng
29
diện tích đất tự nhiên. Diện tích này chủ yếu phục vụ cho xây dựng nhà ở, đường giao thơng, cơng trình thuỷ lợi, nghĩa trang, nghĩa địa … hiện nay, xu
hướng sử dụng loại đất này ngày càng tăng lên. Đất chưa sử dụng: Hiện nay, đất chưa sử dụng trong huyện chiếm tỷ lệ
rất cao. Với 20,149,62 ha tương ứng chiếm 22,58 tổng diện tích đất tự nhiên tồn huyện. Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 9,5 ha, chiếm 0,01; đất đồi
núi chưa sử dụng là 18.827 ha chiếm 21,1 ; đất núi đá khơng có rừng cây là 1.613,12 ha chiếm 1,81 tổng diện tích đất tự nhiên. Qua đây cho thấy việc
sử dụng đất đai ở huyện chưa triệt để. Huyện cần có biện pháp để khuyến khích sử dụng đất đai triệt để hơn.

3.1.1.2. Tình hình biến động đất đai của huyện trong 3 năm gần đây


Căn cứ vào số liệu thống kê của Phòng tài ngun Mơi trường huyện n Bình tỉnh n Bái về tình hình đất đai trong 3 năm 2003, 2004 và 2005
ta thấy được: Đất nơng nghiệp có xu hướng tăng dần lên từ 55.548,87 ha năm 2003
tăng lên 56.007,69 ha năm 2004, và 56.584,87 ha năm 2005. Trung bình mỗi năm tăng lên 1, đóng góp cho sự tăng này chủ yếu là do khai hoang và
chuyển mục đích sử dụng đất. Mặc dù đất nơng nghiệp của huyện biến động tăng nhưng trong đó: Đất sản xuất nơng nghiệp lại có xu hướng giảm dần từ
9.833,77 ha năm 2003 xuống còn 9.428,33 ha năm 2004 và còn 8.828,33 ha năm 2005. Hiện tượng giảm này chủ yếu là do đất trồng cây hàng năm và lâu
năm đều giảm dần. Ngun nhân chính là do sản xuất nơng nghiệp mang lại hiệu quả khơng cao vì thế mà người dân có xu hướng chuyển dần diện tích đất
trồng lúa và hoa màu sang trồng các cây hàng năm khác, đặc biệt là trồng các cây ăn quả.
Biểu 03: Tình hình biến động đất đai của huyện trong 3 năm gần đây.
TT Loại đất
Diện tích ha Cơ cấu
2003 2004
2005 2004
2003 2005
2004 2005
2003
30
I Đất nông nghiệp 55.548,87 56.007,69 56.584,87 100.76 101.03 101.8
1 Đất sản xuất NN 9.833,77 9.428,33 8.828,33 95.88 93.64 89.78
a Đất trồng cây hàng năm 6.664,43 6.664,43
6.127,5 100 91.94 91.94
a.1 Đất trồng lúa 654,5
654,5 634,5
100 100
100 b.2 Đất có dùng chăn ni
3.763,2 3.496,4 2.963,65 92.91 84.76 78.75
c.3 trồng cây hàng năm khác 2.246,73 2.513,53 2.529,35 111.88 100.63 110.58
b Đất trồng cây lâu năm 3.169,34
2.763,9 2.700,83 87.21 97.72 85.22 2 Đất lâm nghiệp
42.768,92 43.635,47 44.820,63 102.03 102.72 104.8 a Đất rừng sản xuất
24.312,2 24.510,17 25.611,87 100.8 104.49 105.35 b Đất rừng phòng hộ
18.456,72 18.425,3 19.208,76 99.83 104.25 104.07 c Đất rừng đặc dụng
- -
- -
- -
3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 2.532,39 2.532,39 2.535,37
100 100.12 100.12 4 Đất nông nghiệp khác
413,7 411,5
400,54 99.47 97.34 96.82 II Đất phi nông nghiệp
11.063,2 11.235,84 12.492,95 101.56 111.19 112.92 1 Đất ở
534,49 534,49
545,82 100 102.12 102.12
a Đất ở tại nông thôn 437,9
437,9 442,82
100 101.12 101.12 b Đất ở tại thành thị
96,59 96,59
103 100 106.64 106.64
2 Đất chuyên dùng 6.838,45 7.030,05 8.880,68 102.8 126.32 129.86
a Đất trụ sở, cơ quan 68
69,2 70,3 101.76 101.59 103.38
b Đất quốc phòng, an ninh 641,1
641,1 642,15
100 100.16 100.16 c Đất SXKD phi NN
5.006,85 5.116,26 6.037,63 102.19 118.01 120.59 d Đất mục đích cơng c

ng 2.122,5
2.147,3 2.130,6 101.17 99.22 100.38
3 Đất tơn giáo, tín ngưỡng 4,1
4,4 4,4 107.32
100 107.32 4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
81,96 82,83
82,83 101.06 100 101.06
5 Đất sông suối, mặt nước CD
3.598,3 3.578,32 2.975,12 99.44 83.14 82.68 6 Đất phi nông nghiệp khác
5 5
4,1 100
82 82
III Đất chưa sử dụng 22.616,3 21.948,7 20.149,6 97.05
91.8 89.09 1 Đất bằng chưa sử dụng
15 13,7
9,5 91.33 69.34 63.33 2 Đất đồi núi chưa sử dụng
22.398,0 21.812,44 18.827 97.39 86.31 84.06
3 Núi đá khơng có rừng cây 2.183,3
2.158,6 1.613,12 98.87 74.73 73.88
Tổng cộng 89.227,47 89.228,2 89.227,44
Nguồn: Phòng TN MT huyện Yên Bình Đối lập với hiện tượng đất sản xuất nơng nghiệp giảm thì diện tích đất
lâm nghiệp lại tăng lên rõ rệt. Từ 42.767,92 ha năm 2003 tăng lên 43.635,47 ha năm 2004 và lên 44.820,63 ha năm 2005. Bình quân mỗi năm tăng hơn
3. Đất để trồng rừng sản xuất tăng mạnh, từ 24.312,2 ha năm 2003 tăng
lên 24.510,17 ha năm 2004 và lên 25.611,87 ha năm 2005. Còn đất để trồng rừng phòng hộ thì tăng chậm hơn. Nguyên nhân của sự tăng này chủ yếu do
31
người dân đã trồng thêm nhiều rừng kinh tế bằng việc sử dụng tốt diện tích đất rừng sản xuất sẵn có, chuyển dần một phần diện tích đất rừng phòng hộ ít
xung yếu sang thành rừng kinh tế. Mặt khác người dân đã khai thác tối đa diện tích đất trống đồi núi trọc để phát triển rừng kinh tế.
Bên cạnh đó, đất ni trồng thuỷ sản và đất nơng nghiệp khác thì biến động ít và có xu hướng giảm dần.
Đất phi nơng nghiệp có xu hướng tăng và tăng nhanh vào năm 2004 và 2005, từ 11.062,3 ha năm 2003 tăng lên 11.235,84 ha năm 2004 và lên tới
12.492,95 ha năm 2005. Nguyên nhân chính là do nhu cầu của người dân tăng dần lên theo sự tăng của đời sống vật chất. Đáng chú ý nhất là diện tích đất
chuyên dùng tăng rất mạnh. Từ 6.838,45 ha tăng lên 7.030,05 ha năm 2004 và lên 8.880,65 ha năm 2005. Xu thế trong tương lai thì diện tích loại đất này
vẫn còn tăng lên. Đất chưa sử dụng: Bên cạnh việc diện tích đất nơng nghiệp và đất phi
nơng nghiệp đều có xu hướng tăng trong 3 năm gần đây, thì đất chưa sử dụng lại có xu hướng giảm dần. Từ 22.616,3 ha năm 2002 xuống còn 21.984,7 ha
năm 2004 và xuống còn 20.149,62 ha năm 2005. Nguyên nhân chính là do diện tích đất này đã được người dân đưa vào sử dụng cho nông nghiệp và phi
nông nghiệp. Tuy nhiên hiện nay, diện tích này vẫn còn khá lớn 18.827 ha. Đòi hỏi huyện có biện pháp để hỗ trợ, khuyến khích người dân sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả, tránh lãng phí đất.
3.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của lâm trường Thác Bà 3.2.2.1. Hiện trạng sử dụng đất đai của lâm trường Thác Bà
Căn cứ vào số liệu báo cáo hàng năm giữa lâm trường với các cơ quan Nhà nước và giữa các đơn vị sản xuất với lâm trường, cơ cấu các loại đất đai
của lâm trường được tổng hợp trong biểu sau: Trong toàn vùng thuộc địa bàn 16 xã có tổng diện tích tự nhiên là 43.951 ha.
Được chia ra các loại đất với cơ cấu như sau: Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 5.700 ha chiếm 12,97 tổng
32
diện tích đất tự nhiên tồn vùng. Trong đó: Đất trồng cây hàng năm là 3.293 ha chiếm 7,49 tổng diện tích tự nhiên và chiếm 57,8 tổng diện tích đất sản
xuất nơng nghiệp. Các loại cây nông nghiệp hàng năm được trồng chủ yếu là lúa, ngô, khoai, sắn …. Tuy nhiên, đất cỏ dùng cho chăn nuôi lại chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong diện tích cây hàng năm. Với 1.669,2 ha chiếm 3,8 tổng diện tích tự nhiên và chiếm 50,7 diện tích đất trồng cây hàng năm. Từ đó
cho thấy, bên cạnh việc phát triển các cây lương thực để đảm bảo lương thực cho dân cư thì chăn ni cũng được chú trọng để phát triển.
Đất lâm nghiệp: Với tổng diện tích 18.993 ha đất lâm nghiệp được Nhà Nước giao cho lâm trường quản lý, chiếm tỷ trọng 43,21 tổng diện tích tự
nhiên. Từ đây có thể thấy hơn 23 diện tích đất nơng nghiệp trong vùng là đất lâm nghiệp và hiện nay diện tích này đang được khai thác và sử dụng một
cách triệt để và có hiệu quả. Trong tổng số 18.993 ha thì có 6.283 ha đất rừng sản xuất chiếm 14,3 tổng diện tích tự nhiên và 12.710 ha đất rừng phòng hộ
chiếm 28,92 tổng diện tích tự nhiên và chiếm 67 diện tích đất lâm nghiệp tồn vùng.
Với diện tích 12.710 ha đất rừng phòng hộ, cho thấy: Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp mà Nhà Nước giao cho lâm trường là đất rừng phòng hộ. Các
loại cây trồng chính để phòng hộ là trám, lát, sấu, ràng ràng, muồng, lim, mỡ… bên cạnh đó lâm trường và người dân cũng tiến hành trồng các cây phù
trợ như bồ đề, keo, luồng, quế. Qua đây ta thấy, vai trò và hiệu quả mà lâm nghiệp mang lại là rất lớn và người dân đã nhận thức được điều này nên họ rất
tích cực tham gia sản xuất lâm nghiệp. Một lý do nữa để lý giải cho điều này là diện tích đất để sản xuất nơng nghiệp trong vùng khơng cao, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt. Chính vì thế hiệu quả từ sản xuất nông nghiệp mang lại thấp, thêm vào đó là sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước trong việc giao đất,
giao rừng đến tận tay từng hộ gia đình cá nhân nên họ có ý thức và trách nhiệm hơn trong phát triển rừng của nhà mình nói riêng và của tồn vùng nói
chung.
33
Biểu 04: Hiện trạng sử dụng đất đai của lâm trường năm 2005.
STT Loại đất
Diện tích ha
Cơ cấu Tổng
43.951 100
I Đất nơng nghiệp
26.270 59,77
1 Đất sản xuất nông nghiệp
5.700 12,97
a Đất trồng cây hàng năm
3.293 7,49
a.1 Đất trồng lúa
333,8 0,76
a.2 Đất cỏ dùng chăn nuôi
1.669,2 3,80
a.3 Đất trồng cây hàng năm khác
1.290 2,94
b Đất trồng cây lâu năm
830 1,89
2 Đất lâm nghiệp
18.993 43,21
a Đất rừng sản xuất
6.283 14,30
b Đất rừng phòng hộ
12.710 28,92
c Đất rừng đặc dụng
- -
3 Đất nông nghiệp khác
1.577 3,59
II Đất phi nông nghiệp
6.746 15,35
1 Đất ở
284 0,65
2 Đất chuyên dùng
6.462 14,70
III Đất chưa sử dụng
10.935 24,88
1 Đất bằng chưa sử dụng
4 0,01
2 Đất đồi núi chưa sử dụng
10.245 23,31
3 Đất núi đá khơng có rừng cây
686 1,56
Nguồn: Báo cáo của lâm trường Trong tổng số 6.283 ha đất rừng sản xuất thì chủ yếu người dân đầu tư
phát triển rừng nguyên liệu giấy và gỗ trụ mỏ với 2 loại cây trồng chủ yếu rất có hiệu quả là Keo lai và Bạch đàn với năng suất đạt 100m
3
ha. Đất nông nghiệp khác: Đất nuôi trồng thuỷ sản, đất nông nghiệp khác
chiếm 1.577 ha tương ứng 3,59 tổng diện tích tự nhiện. Trong đó chủ yếu là đất hồ Thác Bà, sông suối khác được người dân tận dụng để nuôi trồng thuỷ
sản. 34
Đất phi nông nghiệp trong toàn lâm trường là 6.746 ha chiếm 15,35 tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó chủ yếu là đất chun dùng phục vụ cho
xây dựng các cơng trình thuỷ lợi, đường giao thông, nghĩa trang - nghĩa địa và chiếm 95,8 tổng diện tích đất phi nơng nghiệp, còn lại là đất thổ cư. Xu
hướng trong tương lai thì nhu cầu sử dụng loại đất này ngày một gia tăng. Đất chưa sử dụng: Tính đến năm 2005 diện tích đất trống chưa sử dụng
là 10.935 ha chiếm 24,88 tổng diện tích tự nhiên. Trong đó chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng với 10.245 ha chiếm 23,31 tổng diện tích tự nhiên và
chiếm 93,7 diện tích đất chưa sử dụng. Lý do mà diện tích này lại chiếm tỷ trọng lớn như vậy là do: Diện tích này nằm ở vùng khó khăn về địa hình, đất
đai kém chất lượng nên việc tiến hành sản xuất gặp khó khăn. Vì vậy mà người dân khơng dám mạo hiểm để đầu tư vốn.
Bên cạnh đó đất núi đá khơng có rừng cây là 686 ha chiếm 1,56 tổng diện tích tự nhiên và 6,27 diện tích đất chưa sử dụng. Qua đây ta thấy việc
để trống gần 14 diện tích đất tự nhiên là lãng phí, trong khi diện tích đất lâm nghiệp lại khơng đủ so với nhu cầu của người dân. Vì vậy lâm trường cần có
biện pháp hỗ trợ, khuyến khích để sử dụng tối đa diện tích đất trong vùng một cách có hiệu quả, đảm bảo được nhu cầu đất để sản xuất của người dân.

3.2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai theo đơn vị hành chính xã năm 2005


Qua biểu 05: Hiện trạng sử dụng đất đai của lâm trường theo đơn vị hành chính xã, ta thấy đất đai mà Nhà Nước giao cho lâm trường quản lý nằm
trên địa bàn 16 xã tả ngạn sông chảy và hồ Thác Bà, sự phân bố đất đai trên địa bàn các xã như sau:
Đất sản xuất nông nghiệp phân bố phân tán ở các xã là không đều nhau, xã có diện tích đất nơng nghiệp lớn nhất là xã Cẩm Nhân với diện tích 708 ha
đất sản xuất nơng nghiệp, trong đó chủ yếu là đất trồng cây hàng năm với 525 ha và đất cỏ dùng vào chăn ni với 323 ha, còn đất trồng lúa chỉ có 85 ha,
được giao cho 668 hộ để trồng lúa. Xã có diện tích đất sản xuất nơng nghiệp ít nhất là xã Phúc Ninh với 87ha. Trong đó chủ yếu là đất trồng cây hàng năm;
35
đất trồng lúa và đất trồng cỏ cho chăn ni là 4 ÷
5 ha. Tóm lại, diện tích đất phục vụ cho sản xuất nơng nghiệp toàn vùng là
5.700 ha được phân bố phân tán cho 5.518 hộ sản xuất nơng nghiệp. Bình qn mỗi hộ sản xuất nơng nghiệp trong vùng có khoảng 1,03 ha. Từ đây có
thể thấy rằng đất phục vụ sản xuất nơng nghiệp trong vùng là rất ít, phân bố manh mún.
Trong vùng có 18.993 ha đất lâm nghiệp phân bố trên địa bàn 16 xã, bình quân mỗi xã có khoảng 1.187,06 ha đất lâm nghiệp. Qua bảng số liệu ta
thấy: xã có nhiều diện tích đất lâm nghiệp nhất là xã Xuân Long với 5.167 ha bao gồm 718 ha đất rừng sản xuất và 4.449 ha đất rừng phòng hộ. Tổng diện
tích đất lâm nghiệp này được giao hầu hết cho 330 hộ trong xã để sản xuất lâm nghiệp. Đây là những hộ thường xuyên tham gia vào hoạt động sản xuất
lâm nghiệp. Tiếp theo đó là các xã có diện tích lâm nghiệp lớn: xã Yên Thành với 1.962 ha; xã Ngọc Chấn với 1.699 ha; xã Tích Cốc, Cẩm Nhân …. xã có
ít diện tích đất lâm nghiệp nhất là xã Mỹ Gia có 351 ha và xã n Bình có 328 ha. Kết hợp với việc tìm hiểu về vị trí địa lý của các xã ta thấy rằng hầu như
các xã có diện tích đất lâm nghiệp nhiều đều nằm ở vị trí cách xa lâm trường, còn những xã nằm ở gần lâm trường thì có diện tích ít hơn, và chỉ những xã
nằm ở gần lâm trường thì lại có hoạt động sản xuất hiệu quả. Một lý do lý giải cho điều này là các xã nằm ở gần lâm trường thì sự quan tâm, chú ý của lâm
trường được thường xuyên hơn, còn những xã nằm xa lâm trường, giao thơng khó khăn nên việc quan tâm theo dõi, quản lý không được thường xuyên, liên
tục. Qua đây ta thấy: Việc phân bố đất đai lâm nghiệp trên địa bàn các xã
thuộc vùng quản lý của lâm trường không đều nhau, các xã lại nằm ở cách xã lâm trường nên việc quản lý sử dụng, sản xuất kinh doanh của lâm trường gặp
rất nhiều khó khăn và hiệu quả đạt được vẫn chưa cao. Có một tồn tại trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở địa bàn các xã mà cho đến nay nó vẫn chưa
được giải quyết dứt điểm là: Hiện tượng xâm lấn và tranh chấp đất đai, chính
36
điều này làm cho người dân không yên tâm làm chủ và mạnh dạn đầu tư vào kinh doanh rừng. Chính vì vậy mà trong tương lai lâm trường cần có sự phối
kết hợp với chính quyền địa phương ở các xã, cơ quan địa chính và kiểm lâm rà sốt lại quy hoạch tổng thể đất đai theo tinh thần của Nghị quyết 28 của Bộ
chính trị, giải quyết dứt điểm tồn tại tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất đai trên quan điểm hợp tình, hợp lý. Từ đó xác định chủ đất, chủ rừng cụ thể và
tiến tới cấp sổ đỏ sử dụng đất đai lâu dài, ổn định cho các hộ nhận đất, nhận rừng, nhận khoán được yên tâm để đầu tư kinh doanh có hiệu quả cao nhất.
Đất chưa sử dụng: Diện tích đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng ở các xã còn khá nhiều. Nhiều nhất là ở xã Vũ Linh với 1.900
ha đất đồi núi chưa sử dụng. Sau đó là xã Xuân Long với 1.120 ha đất đồi núi chưa sử dụng và 251 ha đất núi đá không có rừng cây; tiếp đến là xã Xuân Lai
và xã Vĩnh Kiên đều có diện tích đất đồi núi chưa sử dụng là trên 1.000 ha, xã có diện tích đất chưa sử dụng ít nhất là xã Đại Minh chỉ có 48 ha đất chưa sử
dụng. Qua tìm hiểu nhận thấy: Phần lớn diện tích loại đất này nằm ở những nơi có điều kiện địa hình phức tạp, giao thông không thuận tiện, đất đai kém
chất lượng. Trong khi vốn của chủ sở hữu lại hạn chế nên họ không dám mạo hiểm đầu tư vào phát triển sản xuất. Vì vậy trong tương lai cần phải có kế
hoạch quản lý và sử dụng diện tích đất này có hiệu quả hơn, nhằm đảm bảo đủ đất cho người dân sản xuất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giải quyết tình
trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, đảm bảo mục tiêu quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả.
37

3.2.2.3. Cơ cấu tổ chức quản lý sử dụng đất đai của lâm trường


a.Cơ cấu đất đai của lâm trường theo đối tượng sử dụng Thực hiện nhiệm vụ giao, khoán đất đến người dân để họ làm chủ trong
việc quản lý, sử dụng đất đai lâm nghiệp trên tinh thần của nghị định 01CP và Nghị định 02CP của Chính phủ, lâm trường tiến hành giao, khốn đất lâm
nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức để họ tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Cho đến nay công việc này đã đạt được những kết quả khả quan,
đất đai được giao cho người dân làm chủ. Cụ thể như sau:
Biểu 06: Cơ cấu diện tích đất đai của lâm trường phân theo đối tượng sử dụng năm 2005.
STT Loại đất
Tổng diện tích ha
đối tượng sử dụng Hộ
gia đình UBND Tổ chức
khác Lâm
trường
I Đất sản xuất nông nghiệp
5.700 4.935
80 685
- II Đất lâm nghiệp
18.993 16.520,4 -
244,6 2.228 1
Đất rừng sản xuất 6.283
5.466 -
44 773
2 Đất rừng phòng hộ
12.710 11.054,4 -
200,6 1.455 3
Đất rừng đặc dụng -
- -
- -
III Đất phi nông nghiệp 6.746
284,6 86,4
6.375,4 -
IV Đất chưa sử dụng 10.935
4.306 1.751 2.150 2.728
1 Đất bằng chưa sử dụng
4 4
- -
- 2
Đất đồi núi chưa sử dụng 10.245
4.306 1.700 2.000 2.239
3 Đất núi đá khơng có rừng
686 -
51 150
489 Nguồn: Tài liệu điều tra
Qua biểu 06 biểu về cơ cấu diện tích đất của lâm trường theo đối tượng sử dụng ta thấy:
Thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà Nước về giao đất để người dân quản lý và sử dụng, ở hầu hết các địa phương trong cả nước nói chung và
ở địa bàn nghiên cứu nói riêng, đất nơng nghiệp hầu hết được giao cho các hộ nông dân quản lý sử dụng, số còn lại nằm trong diện quy hoạch quỹ đất công
của xã và các tổ chức kinh tế khác. Trong 5.700 ha đất sản xuất nông nghiệp thì hộ gia đình quản lý sử dụng 4.935 ha, UBND xã quản lý 80 ha thơng qua
nhận khốn để làm quỹ đất riêng của xã, còn lại là các tổ chức kinh tế khác.
38
Đất lâm nghiệp: Với diện tích 18.993 ha mà Nhà Nước giao cho lâm trường quản lý thì hầu như đã được giao khốn cho các hộ gia đình và các tổ
chức kinh tế khác quản lý. Hiện nay hộ nông dân đang được giao khoán quản lý và sử dụng 16.520,4 ha, tương đương 87 diện tích đất lâm nghiệp của
vùng. Lâm trường chỉ quản lý sử dụng trực tiếp 2.228 ha, còn lại 244,6 ha được quản lý sử dụng bởi các tổ chức kinh tế khác như các hiệp hội, tổ chức
Trong biểu 06 cho thấy UBND các xã không quản lý sử dụng trực tiếp đất lâm nghiệp. Hầu như các UBND chỉ quản lý một phần nhỏ đất để làm
công quỹ. Tuy nhiên diện tích này cũng được UBND cho đấu thầu các hộ gia đình, cá nhân sản xuất. Trong diện tích giao cho các hộ gia đình quản lý sử
dụng thì người dân có nhu cầu hơn với việc nhận đất rừng sản xuất. Có tới 87 5.466 ha đất rừng sản xuất được giao cho các hộ gia đình. Diện tích
này được các hộ sử dụng tốt, mang lại hiệu quả, tích cực cải thiện được đời sống của người dân. Lâm trường quản lý sử dụng 773 ha, số còn lại là 44 ha
được các tổ chức kinh tế khác quản lý và sử dụng. Mục đích chính trong việc sử dụng diện tích đất này là trồng rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ và nguyên liệu
giấy. Các loại cây chính là Bạch đàn và Keo lai, còn lại 12.710 ha đất rừng phòng hộ được giao các hộ gia đình quản lý sử dụng là 11.054,4 ha, cho các
tổ chức kinh tế khác là 200,6 ha và lâm trường trực tiếp quản lý sử dụng 1.455 ha. Diện tích đất rừng này cũng mang lại một phần thu nhập cho người
dân thông qua việc tỉa thưa và trồng xen các loại cây trồng. Trong những năm tới để đáp ứng nhu cầu đất đai cho phát triển nghề rừng ngày càng tăng, lâm
trường đang đẩy mạnh việc đưa diện tích đất đồi núi chưa sử dụng vào phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ, vừa đảm bảo yêu cầu phòng hộ, vừa
đảm bảo phát triển rừng nguyên liệu để cung cấp cho nhà máy giấy bãi bằng.
Qua điều tra thực tế 30 trong tổng số 267 hộ gia đình có tham gia vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp ở thị trấn Thác Bà nói riêng và trong tổng số
3.467 hộ trong tồn vùng nói chung thì: Hầu như hộ nào cũng mong muốn có đất để phát triển nghề rừng. Tuy nhiên, do quỹ đất có hạn chỉ có 18.993 ha
đất có rừng trong tổng 43.951 ha đất tự nhiên. Trong khi có 3.467 hộ gia đình với 9.282 nhân khẩu thường xuyên tham gia sản xuất lâm nghiệp nên một số
người, một số gia đình muốn nhưng khơng có đất. Từ đây có thể thấy mức độ
39
thu hút của lâm nghiệp, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khiến người dân không yên tâm để phát triển nghề rừng là vấn đề vốn, công nghệ và đầu ra.
Bên cạnh việc giao khốn đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ cho các đối tượng sử dụng đất chưa sử dụng cũng được giao cho đối tượng sử dụng.
Trong 10.935ha đất chưa sử dụng thì các hộ gia đình quản lý 4.306ha ; UBND quản lý 1.751ha; các tổ chức khác quản lý 2.150ha; còn lại lâm trường
quản lý 2.728ha. Đây chủ yếu là đất đồi núi trọc và đồi núi chưa sử dụng đến. Huyện Yên Bình và Lâm trường Thác Bà đang có kế hoạch để đưa loại đất
này vào sử dụng nhằm tăng độ che phủ, tăng hiệu quả sử dụng đất, bằng nhiều biện pháp tích cực như giao khoán cho các hộ, các tổ chức, liên doanh với các
hộ, các tổ chức. Từ đây ta thấy hai tồn tại hoàn toàn trái ngược nhau, trong khi đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ khan hiếm, tranh chấp lấn chiếm xảy
ra thì đất đồi núi trọc còn nhiều mà chưa có nhiều người đầu tư. Biện pháp tốt nhất để giải quyết có hiệu quả những tồn tại này là: Chính quyền địa phương,
lâm trường thực hiện tốt cơng tác giao khốn, cho th, liên doanh, hướng dẫn và giúp đỡ trong khâu vốn, công nghệ và đầu ra. Đồng thời cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình để họ yên tâm sử dụng và tránh các tranh cãi, lấn chiếm đất đai. Nó giúp người dân có trách nhiệm
hơn với mảnh đất của mình.Vì thế họ sẽ tích cực tìm kiếm cách đầu tư, sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
b. Cơ cấu đất đai của lâm trường phân theo các hình thức tổ chức sản xuất
Qua biểu số liệu ta thấy: ở vùng quản lý của lâm trường hiện nay đang tồn tại 3 hình thức tổ chức sản xuất phổ biến là: Liên doanh - liên kết; giao
khoán và lâm trường tự tổ chức sản xuất.
Biểu 07: Cơ cấu đất đai của Lâm trường theo các hình thức tổ chức sản
40
xuất năm 2005. STT
Loại đất Diện
tích ha Các hình thức tổ chức sản
xuất LT tự tổ
chức SX Liên
doanh Giao
khoán
1 Đất lâm nghiệp
18.993 2.728
6.311 9.954
a Đất rừng sản xuất
6.283 728
701 4.854
b Đất rừng phòng hộ
12.710 2.000
5.610 5.100
c Đất rừng đặc dụng
- -
- -
2 Đất chưa sử dụng
10.935 2.000
4.629 4.306
a Đất bằng chưa sử dụng
- -
- 4
b Đất đồi núi chưa sử dụng
10.245 2.000
3.990 4.255
c Núi đá khơng có rừng cây
686 -
639 47
Nguồn: Báo cáo của lâm trường
Hình thức giao, khốn đất: Thực hiện chính sách giao đất theo nghị định số 02CP và chính sách khốn đất theo nghị định số 01CP, phần lớn
diện tích đất lâm nghiệp đã được giao đến tay người dân để họ tự tổ chức sản xuất trên lơ đất được giao đó. Trong số 18.993ha đất lâm nghiệp thì có đến
9.954ha đã được giao khốn cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng. Trong đó có 4.854ha đất rừng sản xuất và 5.100ha đất rừng phòng hộ. Chính
sách này đã đảm bảo được: Người dân có đất và tự chủ trên mảnh đất đó. Chính điều này đã làm rõ trách nhiệm của người nhận đất, và bắt họ phải tự
chủ và chủ động hơn trong việc tiến hành sản xuất. Vì vậy làm tăng dần hiệu quả sử dụng đất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân làm nghề
rừng. Bên cạnh những mặt tích cực trong việc thực hiện chính sách giao đất, thì vẫn còn những hạn chế như diện tích đất được giao khốn khơng được xác
định rõ ranh giới, việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy gây ra tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai.
Mặt khác, chính sách giao khoán đất thực hiện chưa đồng đều và tập trung, hộ muốn có đất thì khơng có, hộ có đất thì diện tích đất này lại phân tán lơ,
khoảnh nhỏ, có khoảnh ở gần nhà, có khoảnh ở cách xa nhà. Như vậy, mỗi hộ được giao vài mảnh nhỏ, tách biệt nhau, gây ra khơng ít khó khăn cho
người dân trong việc chăm sóc, bảo vệ, làm giảm hiệu quả sử dụng đất lâm 41
nghiệp. Đây là một điểm kém cần được khắc phục, để góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp và nâng cao được mức sống của người dân trên
địa bàn, góp phần giữ vững trật tự xã hội trong nơng nghiệp nông thôn. Giúp cho người dân nhận đất, nhận rừng thực hiện được quyền và nghĩa vụ của
mình theo quy định của pháp luật. Liên doanh, liên kết theo hình thức một bên bỏ vốn, cơng nghệ, bên kia
có đất và lao động. Đây là hình thức tổ chức sản xuất đang được chú trọng. Hiện tại có 6.311ha đất lâm nghiệp có rừng được tổ chức sản xuất theo hình
thức này. Trong đó có 701ha là đất rừng sản xuất, 5.610ha là đất rừng phòng hộ. Phần lớn diện tích được tiến hành liên doanh sản xuất dưới 2 hình thức:
Liên doanh sản xuất trên đất của người dân và liên doanh sản xuất trên đất của lâm trường.
Hình thức liên doanh để cùng sản xuất tỏ ra có hiệu quả trong trường hợp người dân có đất nhưng thiếu vốn và cơng nghệ, còn người có vốn, có
cơng nghệ lại thiếu đất. Diện tích đất trống đã giảm xuống, thay vào đó là đất có rừng. Trước kia có nhiều hộ nhận đất về thì bỏ trống hoặc trồng sắn vì
thiếu vốn, thu nhập hàng năm thấp, thậm chí còn khơng đủ ăn. Nhưng nhờ hình thức này mà đất được sử dụng có hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập,
giúp cải thiện đời sống cho người dân. Hình thức tự tổ chức sản xuất: Lâm trường chỉ tiến hành tổ chức sản
xuất trên 2.728ha đất lâm nghiệp, trong đó có728ha đất rừng sản xuất phục vụ trồng rừng nguyên liệu giấy và 2.000ha đất rừng phòng hộ. Sở dĩ lâm trường
chỉ quản lý sử dụng một diện tích nhỏ so với tổng diện tích đất lâm nghiệp tồn vùng, là vì hiện nay lực lượng cán bộ công nhân viên trong lâm trường
không lớn, gồm có 120 người được tổ chức thành 5 đội sản xuất và 1 trạm để chỉ đạo và dịch vụ cho dân làm rừng. Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất trên
diện tích nhỏ nên việc quản lý và tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả cao. Việc tự tổ chức sản xuất này đã tạo công ăn việc làm và đời sống cho cán bộ
công nhân viên lâm trường. Vừa thực hiện vai trò “Bà đỡ” dịch vụ cho dân
42
làm rừng. Tuy nhiên, vì đất của lâm trường là “Đất cơng” nên tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai xảy ra thường xuyên, tình trạng khai thác trộm, phá
rừng cũng xảy ra khá mạnh. Diện tích đất chưa sử dụng toàn vùng là 10.935 ha. Trong đó nó được
giao khốn cho người dân là 4.306 ha; tiến hành liên doanh - liên kết để trồng rừng, phủ xanh đất trống là 4.629 ha. Lâm trường tự tổ chức trồng mới là 200
ha. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đất đồi núi chưa sử dụng lớn như vậy là vì từ khi nhận giao khốn đất, có hộ vì thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên bỏ trống,
phần vì đất này đã kém chất lượng nên hiệu quả mang lại khơng cao. Chính vì vậy hiện nay lâm trường đang cố gắng đưa diện tích này vào phát triển nghề
rừng, giải quyết được nhu cầu về đất sản xuất cho người dân, phủ xanh được đất trống và tăng hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn.
Tóm lại, các hình thức tổ chức sản xuất lâm nghiệp trên đất đai của lâm trường là chưa đa dạng. Tuy nhiên mỗi hình thức đều phát huy được hiệu quả
tích cực của nó trong việc tiến tới xã hội hoá nghề rừng tại địa bàn. c. Cơ cấu đất đai của các hình thức tổ chức sản xuất phân theo đối tượng sử
dụng Qua biểu 08 chúng ta thấy được cơ cấu đất đai của từng đối tượng tham gia
vào từng hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể. Từ đó ta thấy được vai trò của từng đối tượng trong mỗi hình thức tổ chức sản xuất.
Đối với hình thức tự tổ chức sản xuất đối tượng chính nghiên cứu trong đề tài là lâm trường. Lâm trường là người trực tiếp tham gia từ khâu lên kế
hoạch, tiến hành và tìm nguồn đầu ra, đầu vào cho quá trình sản xuất.
Biểu 08: Cơ cấu đất đai của các hình thức tổ chức SX theo đối tượng sử dụng
43
STT Loại đất
LT tự SX
Liên doanh - liên kết Giao khoán
HGĐ Cộng
đồng Tổ
chức HGĐ Cộng
đồng Tổ
chức
1 Đất lâm nghiệp 2.728 4.733,25 1.072,8 504,8 9.058,1 497,7 398,2
a Đất rừng sản xuất 728
500 100
101 4.417,1 242,7 194,2 b Đất rừng phòng hộ
2.000 4.233,25 972,8 403,8
4.641 255
204 c Đất rừng đặc dụng
- -
- -
- -
- 2 Đất chưa sử dụng
2.000 2.545,9 1.157,3 925,8 3.617,04 387,5 301,4 a Đất bằng chưa sử dụng
- -
- -
4 -
- b Đất đồi núi
2.000 2.045,9 1.052,3 891,8 3.576,04 382,5 296,4 c Núi đá không có rừng
500 105
34 37
5 5
Nguồn: Số liệu điều tra
Đối với hình thức liên doanh, liên kết đối tượng chính vẫn là các hộ gia đình. Trong tổng số 6.311 ha đất lâm nghiệp tiến hành liên doanh liên kết có
4.733 ha tương đương 75 được tiến hành liên doanh liên kết với các hộ gia đình, cá nhân trong đó có hơn 500 ha được liên doanh để trồng rừng sản xuất
và 4.233,25 ha liên doanh đất rừng phòng hộ. Việc tiến hành liên doanh, liên kết vừa góp phần giải quyết được cơng ăn việc làm, tình trạng dư thừa lao
động, vốn và kỹ thuật, vừa giúp đôi bên tạo môi quan hệ hợp tác trong phát triển rừng, đơi bên tham gia cũng sẽ có trách nhiệm hơn đối với vốn và cơng
sức mà mình bỏ ra. Bên cạnh đó còn có 2.545,9 ha đất trống cũng được tiến hành liên doanh với các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện trồng mới rừng, góp
phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Qua đây có thể thấy rằng các hộ gia đình, cá nhân là đối
tượng tham gia chủ đạo và không thể thiếu trong hình thức liên doanh, liên kết vì mục đích phát triển lâm nghiệp.
Các tổ chức kinh tế và các cộng đồng khác cũng là những đối tượng chính tham gia liên doanh liên kết để phát triển sản xuất kinh doanh nghề
rừng. Với 1.072,8 ha đất lâm nghiệp được tiến hành liên doanh liên kết với cộng đồng và 504,8 ha đất lâm nghiệp liên doanh với các tổ chức kinh tế để
trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ. Mặt khác có 3.471,7 ha đất đồi núi trọc chưa sử dụng dược tiến hành liên doanh liên kết với các cộng đồng. Các đối
44
tượng này chủ yếu là các công ty, tổ chức hoặc cá nhân những tư thương... thường chọn hình thức liên doanh là họ bỏ vốn và sản phẩm thu hoạch được
sẽ chịu trách nhiệm tiêu thụ. Có thể nói đây là đối tượng tham gia có vai trò quan trọng trong phát triển nghề rừng bằng hình thức liên doanh.
Đối với hình thức giao khoán: Thực hiện trên tinh thần của Nghị định 01CP và nghị định 02CP. Đất đai được giao đến tận tay các hộ gia đình, cá
nhân để họ nắm quyền sở hữu và chủ động tiến hành tổ chức sản xuất, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp và đất đồi núi trọc chưa sử dụng được giao đến
cho các hộ gia đình quản lý và sử dụng. Trong số 9.954 ha đất lâm nghiệp dược giao khốn thì có đến 9.058,1 ha được giao khoán cho các hộ gia đình,
tương đương 91 đất lâm nghiệp. Bên cạnh đó là 3.617,04 ha đất chưa sử dụng trong tổng số 4.629 ha dược giao đến các hộ gia đình để họ tiến hành
phát triển rừng sản xuất, phòng hộ và trồng rừng mới. Các cộng động như các doanh nghiệp, công ty cà phê … cũng được
nhận giao khoán một diện tích đất nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh. Có 497,7 ha đất lâm nghiệp và 387,5 ha đất trống chưa sử dụng được giao cho
các cộng đồng. Mặc dù diện tích được giao khơng lớn, tuy nhiên sự tham gia của đối tượng này vào hình thức tổ chức sản xuất này tạo nên sự đa dạng về
đối tượng tham gia và sự hiệu quả của việc áp dụng hình thức sản xuất này vào việc phát triển kinh doanh lâm nghiệp.
Các tổ chức kinh tế như các Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh … cũng là đối tượng tham gia tích cực vào hình thức sản xuất này.
các tổ chức cũng nhận giao khoán 398,2 ha đất lâm nghiệp gồm 194,2 ha đất rừng sản xuất và 204 ha đất rừng phòng hộ để tiến hành phát triển sản xuất.
Bên cạnh đó, các tổ chức cũng đảm nhận 387,5 ha đất đồi núi trống chưa sử dụng để đầu tư trồng mới và phát triển sản xuất trên diện tích đất này. Sự
tham gia của các tổ chức này và hình thức này chứng minh sự thu hút của lâm nghiệp đối với các đối tượng ngày một tăng. Điều này cũng chứng tỏ hiệu quả
từ nghề rừng mang lại cho các đối tượng tham gia là kha quan. 45
Tóm lại: Thơng qua các hình thức này vào các đối tượng có đất để tiến hành sản xuất, khi họ đã là người làm chủ trên mảnh đất của mình thì họ sẽ có
trách nhiệm hơn trong việc làm cho mảnh đất của mình sinh ra lợi nhuận. Đây cũng chính là điều mà Đảng và Nhà Nước ta mong muốn có được khi ban
hành các chính sách về giao khốn và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất lâm nghiệp.
3.2.2.4. Nghiên cứu tình hình biến động đất đai của lâm trường qua các giai đoạn 1995 - 2000 - 2005
a. Tình hình biến động diện tích đất đai của lâm trường theo mục đích sử dụng qua các năm 1995 - 2000 - 2005.
Căn cứ vào số liệu báo cáo hàng năm giữa lâm trường với các cơ quan Nhà nước và giữa các đơn vị sản xuất với lâm trường, tình hình biến động đất
đai của lâm trường thông qua các năm được tổng hợp ở biểu 09. Qua biểu 09 ta thấy tình hình biến động diện tích đất đai qua các năm
như sau: Trong tổng số 43.951 ha đất tự nhiên năm 2005, có 26.270 ha đất nơng
nghiệp. Trong đó đất phục vụ cho sản xuất nơng nghiệp là 5.700 ha. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp này tăng dần qua các năm, từ 4.312 ha năm 1995
tăng lên 5.424 ha năm 200 và tăng lên 5.700 ha năm 2005. Lý do có sự tăng lên là từ việc phát rừng, khai hoang, trong thời kỳ này người dân chú trọng
vào việc khai thác rừng là chính và đốt nương làm rẫy. Với diện tích 18.993 ha đất lâm nghiệp được Nhà Nước giao cho lâm
trường quản lý sử dụng thì có đến 12.710 ha đất rừng phòng hộ và 6.283 ha đất rừng sản xuất. Diện tích đất lâm nghiệp này biến động lên xuống. Trong
giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000 đất lâm nghiệp có xu hướng tăng lên. Từ 15.549 ha năm 1995 tăng lên 20.123 ha năm 2000. Lý do dẫn đến sự biến
động tăng này là do: Năm 1995, khi mới tiến hành giao khoán cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức. Các đối tượng này chỉ tập trung vào khai thác mà
không chú ý đến trồng mới lại, vì vậy mà diện tíchđất trống tăng dần. Đến 46
năm 2000, khi đã nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả của lâm nghiệp cộng với sự tác động từ phía Nhà Nước nên người dân đã chú trọng hơn vào
trồng rừng. Chính vì vậy mà diện tích đất đồi núi trống giảm xuống, từ 17.280 ha năm 1995 đến 11.568 ha năm 2000 và diện tích đất lâm nghiệp tăng lên
gần 5000 ha trong giai đoạn này.
Biểu 09: Biến động diện tích đất đai theo mục đích sử dụng qua các năm 1995 – 2000 – 2005.
Đơn vị tính: ha.
STT
Mục đích sử dụng Mã số Diện tích
2005 So với 1995
So với 2000
Diện tích 1995
Tăng + Giảm -
Diện tích 2000
Tăng + Giảm -
1
2 3
4 5
6=4-5 7
8=4-7
Tổng diện tích tự nhiên
43.951 43.841 +110 43.841
+110
1
Đất nơng nghiệp
nnp 26.270 19.861
+6.409 25.547 +723
a
Đất sản xuất nông nghiệp
sxn 5.700
4.312 +1.388
5.424 +276
b
Đất lâm nghiệp
lnp 18.993 15.549
+3.444 20.123 -1.130
-
Đất rừng sản xuấtt
rsx 6.283
5.217 +1.066
7.111 -828
-
Đất rừng phòng hộ
rph 12.710 10.332
+2.398 13.012 -302
-
Đất rừng đặc dụng
rđd -
- -
- -
c
Đất lâm nghiệp khác
1.577 1.577
1.577
2
Đất phi nông nghiệp
pnn 6.746
6.700 +46
6.725 +21
3
Đất chưa sử dụng
csd 10.935 17.280
-6.345 11.569 -634
a
Đất bằng chưa sử dụng
bcs 4
12 -8
6 -2
b
Đất đồi núi chưa sử dụng
dcs 10.245 16.568
-6.323 10.872 -627
c
Núi đá không có rừng
ncs 686
700 -14
691 -5
Nguồn: Tài liệu điều tra Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, diện tích
đất lâm nghiệp lại giảm đi 1.130ha giảm từ 20.123 ha năm 2000 xuống còn 18.993 ha năm 2005. Trong khi diện tích đất trống đồi núi trọc chưa sử dụng
được đưa vào sử dụng thêm 634 ha tức là chỉ còn 10.935 ha đất trống chưa sử dụng năm 2005. Lý do của sự giảm này là: trong giai đoạn này, người dân
đã nhận thức rõ hơn về hiệu quả mà lâm nghiệp mang lại về kinh tế và mơi trường. Vì vậy hộ chủ động hơn trong phát triển nghề rừng trên mảnh đất
mình được giao và cũng chính vì thế mà tranh chấp đất đai xảy ra, bao gồm cả tranh chấp giữa các hộ gia đình, giữa các hộ với các tổ chức và giữa các hộ,
47
các tổ chức với lâm trường. Bên cạnh đó việc quản lý đất đai của các cấp có thẩm quyền lỏng lẻo dẫn đến việc kiểm soát đất đai khơng triệt để. Từ đó làm
cho diện tích đất lâm nghiệp thuộc phạm vi quản lý của lâm trường bị hao hụt dần. Cho đến nay hiện tượng này vẫn đang tồn tại, lâm trường và các cấp
quản lý của thẩm quyền địa phương đang tìm biện pháp để giải quyết vấn đề kết hợp với việc giải quyết 10.935 ha đất trống chưa sử dụng để có được hiệu
quả sử dụng đất tốt nhất, tiết kiệm nhất. Tóm lại, trong tương lai lâm trường và chính quyền các địa phương cần
chuyển đổi được diện tích đất trống thành rừng, ngăn chặn được các tranh chấp, lấn chiếm đất đai. Có như vậy mới tạo tâm lý an tồn để người dân
mạnh dạn và yân tâm đầu tư vào sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. b. Biến động đất đai theo các hình thức tổ chức sản xuất
Qua biểu 10 ta thấy được xu hướng phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong giai on t nm 1995
ữ 2005 nh sau
i vi hỡnh thức tự sản xuất: Trong giai đoạn từ năm 1995 đến
năm 2000 diện tích đất lâm nghiệp mà lâm trường tự tiến hành tổ chức sản xuất trực tiếp trên đất đó có xu hướng tăng dần từ 2.500 ha
tăng lên 3.630,5 ha. Trong khi đó diện tích đất trống cũng giảm dần từ 4.459 ha năm 1995 xuống còn 2.260 ha năm 2000. Như vậy tổng
diện tích đất lâm nghiệp có rừng và chưa có rừng là 7.049 ha năm 1995 và 5.890,5 ha năm 2000.
Biểu 10: Cơ cấu đất đai của lâm trường theo các hình thức tổ chức sản xuất qua các năm 1995 – 2000 – 2005
Đơn vị tính: Ha
STT
Loại đất Các hình thức tổ chức sản xuất
Tự sản xuất Giao khoán
Liên doanh
1995 2000 2005 1995 2000 2005 1995
2000 2005 1 Đất lâm nghiệp
2.500 3.630,5 2.728 8.327 11.641 9.954 4.722 4.851,6 6.311 a Đất rừng sản xuất
800 778
728 1.121 3.500 701 3.296 2.833 4.854 b Đất rừng phòng hộ
1.700 2.852,5 2.000 7.206 8.141 5.610 1.426 2.018,6 5.100
48
c Đất rừng đặc dụng -
- -
- -
- -
- -
2 Đất chưa sử dụng 4.549 2.260 2.000 8.152 5.304 4.629 4.579 4.005 4.306
a Đất bằng chưa sử dụng
- -
- 12
- -
- 6
4 b Đồi núi chưa sử
dụng 4.549 2.260 2.000 7.619 5.177 3.990 4.400 3.434,8 4.255
c Núi đá không có rừng
- -
- 521
127 639 179
564 47
Nguồn: Tài liệu điều tra Lý do mà đất lâm nghiệp giảm dần là do trong giai đoạn này lâm
trường một mặt tiến hành giao khoán tiếp đất lâm nghiệp có rừng và khơng có rừng cho các đối tượng sử dụng. Mặt khác lâm trường tăng cường tiến hành
trồng mới rừng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Bên cạnh đó là sự lấn chiếm đất cơng của các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức.
Đến giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, đất lâm nghiệp có rừng và khơng có rừng lại có xu hướng giảm dần. Từ diện tích 5.890,5 ha năm 2000
xuống còn 4.728 ha năm 2005. Tuy nhiên cường độ giảm ít hơn so với ở giai đoạn 1995 – 2000. Lý do là trong giai đoạn này, việc quản lý đất đai của lâm
trường và các cấp chính quyền địa phương tốt hơn. Vì thế đã hạn chế được hiện tượng tranh chấp lấn chiếm, tuy nhiên chỉ mới hạn chế mà vẫn chưa ngăn
chặn hồn tồn. Vì thế nó làm cho diện tích đất lâm nghiệp của lâm trường quản lý ngày một giảm dần.
Đối với hình thức giao khoán: Trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000 diện tích đất lâm nghiệp được
giao khốn tăng lên từ 8.327 ha năm 1995 đến 11.641 ha năm 2000. Bên cạnh đó, diện tích đất trống được giao khốn giảm xuống. Nguyên nhân là trong
giai đoạn này quỹ đất lâm nghiệp của vùng nhiều, vì thế khi đối tượng sử dụng có nhu cầu nhận giao khốn. Mặt khác, diện tích đất đồi núi trống chưa
có rừng được giao khốn giảm dần, một phần vì lý do vị trí, chất lượng của đất, phần khác là vì đất trống đã biến thành rừng. Chính vì thế mà diện tích
đất trống chưa sử dụng giảm và đất lâm nghiệp có rừng được giao khốn tăng lên trong giai đoạn này.
49
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, đất lâm nghiệp có rừng và chưa có rừng đều có xu hướng giảm xuống. Đất lâm nghiệp có rừng giảm từ
11.641 ha xuống còn 9.954 ha năm 2005, đất chưa có rừng giảm từ 5.304 ha năm 2000 xuống 4.629 ha năm 2005. Nguyên nhân là trong giai đoạn này quỹ
đất lâm nghiệp đã hết, hầu như diện tích nào cũng đã có chủ. Người dân muốn phát triển nghề rừng phải đi từ đất đồi núi trống. Vì vậy mà diện tích đất lâm
nghiệp được giao khốn giảm dần. Mặt khác là do sự lỏng lẻo trong việc quy hoạch, thống kê lại diện tích đất của từng đối tượng nhận giao khốn nên
nhiều diện tích đất khơng được xác định rõ ràng và chính xác. Đối với hình thức liên doanh, liên kết đây là hình thức tổ chức sản
xuất mới mẻ và mang lại hiệu quả cao. Chính vì vậy mà trong những năm qua diện tích đất lâm nghiệp tăng lên từ 4.722 ha năm 1995 tăng lên 4.851,6 ha
năm 2000 và lên 6.311 ha năm 2005. Không những chỉ liên doanh để phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ mà cả liên doanh liên kết để trồng rừng
mới, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cũng tăng lên. Nguyên nhân chính là do hiệu quả mà hình thức này mang lại cho cả đơi bên. Chính vì vậy mà hình
thức tổ chức sản xuất kiểu liên doanh liên kết ngày càng được chú trọng và phát triển.

3.2.3. Tình hình tích tụ và tập trung đất đai giai đoạn 1995


÷
2005
Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp là tình trạng phân tán, manh mún đất đai, hiện tượng này làm hạn chế
sự áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, làm tăng chi phí chăm sóc, bảo vệ … dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay không chỉ với nông nghiệp, mà cả với lâm nghiệp là làm sao để phát triển lâm nghiệp tập trung, để các đối
tượng sử dụng có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng làm tăng sức sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu này, chính quyền các địa phương đang kết hợp với lâm trường để thực hiện tốt q trình tích tụ, tập trung đất đai để sản xuất
mang lại hiệu quả cao hơn.
50

3.2.3.1. Kết quả giao khoán đất lâm nghiệp theo Nghị định 02CP ngày 1511994


a. Tình hình giao đất lâm nghiệp 02NĐCP theo đối tượng sử dụng đất
Thực hiện Nghị định 02CP của chính phủ ngày 1511994 về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục
đích lâm nghiệp tồn vùng nghiên cứu đã tiến hành khoán được 14.260 ha đất lâm nghiệp. Kết quả giao khoán được thể hiện cụ thể ở biểu 11.
Qua biểu 11 ta thấy: Trong tổng số 14.260 ha đất lâm nghiệp có rừng và chưa có rừng được tiến hành giao cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức
nằm ở địa bàn 1416 xã trong vùng dự án. Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp ở địa bàn xã được giao cho các hộ gia đình, cá nhân với 12.976 ha đất lâm
nghiệp được giao cho các hộ, chiếm 91; diện tích đất lâm nghiệp giao cho các tập thể, tổ chức kinh tế là 570 ha, còn lại 714 ha được giao cho các đối
tượng khác. Nhờ chính sách này mà người dân có quyền làm chủ trên mảnh đất mà mình nhận giao khốn. Tuy nhiên, cho đến nay thì danh giới quyền
làm chủ đất đai của người dân vẫn chưa được phân định rõ ràng. Điều này gây ra tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai. Tạo tâm lý không yên tâm sản xuất
cho người dân. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do: Việc giao khốn đất đai tiến hành một cách thụ động trên sổ sách mà không được đo giao một
cách cụ thể trên thực địa, đồng thời cấp sổ đỏ cho dân.
Trong số 12.976 ha đất được giao cho các hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn các xã. Nhưng một thực trạng yếu kém vẫn tồn tại là: Có hộ ở gần rừng
nhưng khơng có đất lâm nghiệp để sản xuất trong khi có những hộ lại được giao quá nhiều đất, chính vì vậy gây ra tâm lý bất mãn trong người dân.
Biểu11: Kết quả khoán đất lâm nghiệp theo đối tượng sử dụng cấp xã năm 2005
Đơn vị: ha STT
Tên xã Diện tích giao
khốn ha Chia ra
Hộ gia đình Tập thể Đối tượng khác
1 TT Thác Bà
476,8 437
18 21,8
2 Hán Đà
644,4 589
25,4 30
3 Vĩnh Kiên
1.043,2 879,2
73 91
4 Vũ Linh
1.693,4 1.492,4
65 82
51
5 Bạch Hà
992,6 897
43 52,6
6 Phúc An
1.528,6 1.393
60,6 75
7 Yên Thành
1.137,4 938,4
88 111
8 Ngọc Chấn
1.312,6 1.116
43,5 54,1
9 Phúc Ninh
988 901
39 48
10 Xuân Lai 578,5
528 23,5
27 11 Mỹ Gia
461,6 413
22 26,6
12 Cẩm Nhân 558
500 26
32 13 Tích Cốc
459 410
23 26
14 Xuân Long 2.526,1
2.472,2 24
29,9
Tổng 14.260
12.976 570
714
Nguồn: báo cáo của lâm trường Đây là những thực trạng yếu kém mà lâm trường và chính quyền dịa
phương cần sớm đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp, nâng cao được mức sống của người dân làm nghề rừng
trong địa bàn các xã, góp phần giữ vững trật tự xã hội trong nông nghiệp nông thôn và giúp cho người nhận đất, nhận rừng yên tâm sản xuất và thực hiện
được quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. b. Tình hình giao đất 02NĐCP qua các năm
Căn cứ vào số liệu báo cáo hàng năm của lâm trường về tình hình giao khốn đất rừng và rừng cho các đối tượng sử lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
theo nghị định 01CP 1995 của chính phủ. Kết quả giao khốn đất lâm nghiệp ở lâm trường từ năm 1995 đến nay được thể hiện ở biểu 12.
52
Biểu 12: Kết quả giao khoán đất lâm nghiệp qua các năm. STT
Tên xã Tổng diện
tích tự nhiên năm 2005
Chia ra Năm 1995
Năm 2000 Năm 2005
1 TT Thác Bà
1.492 707
485 476,8
2 Hán Đà
2.404 837
772 644,4
3 Vĩnh Kiên
2.821 973,6
1.028,5 1.043,2
4 Vũ Linh
3.680 1.600
1.893,9 1.693,4
5 Bạch Hà
2.198 1.043
1.182,8 992,6
6 Phúc An
2.505 1.699
1.887 1.528,6
7 Yên Thành
4.585 1.405
1.587,9 1.137,4
8 Ngọc Chấn
2.716 1.161,7
1.250 1.213,6
9 Phúc Ninh
2.106 1.055
1.100 988
10 Xuân Lai
2.807 810,8
690 578,5
11 Mỹ Gia
1.792 797
687 461,6
12 Cẩm Nhân
2.958 877,2
781 558
13 Tích Cốc
1.712 659,7
669 459
14 Xuân Long
7.151 2.853
2.831 2.526,1
Tổng 16.479
16.945 14.260
Nguồn: Báo cáo của lâm trường Qua biểu 12 ta thấy: Xu hướng giao khốn đất lâm nghiệp có rừng và
khơng có rừng biến động lên xuống. Diện tích đất được giao khoán đạt lớn nhất vào năm 2000 với 16.945 ha đất được giao cho các hộ gia đình, cá nhân
và các tổ chức sử dụng. Thấp nhất là năm 2005, chỉ có 14.260 ha đất lâm nghiệp có và chưa có rừng được giao cho các đối tượng sử dụng.
Trong số diện tích được giao khốn, thì hầu như là giao khốn đất đã có rừng là chính. Năm 1995, giao khốn 8327 ha đất rừng sản xuất và phòng hộ,
còn lại là 8.152 ha là đất trống chưa có rừng. Đến năm 2000, diện tích đất có rừng được giao khốn là 11.641ha, chỉ có 5.304 ha đất trống được giao khốn.
Đến năm 2005 có 9.954 ha đất có rừng và 4.306 ha đất chưa có rừng được giao khoán.
Việc tiến hành giao khoán phần lớn diện tích đất là đất đã có rừng là nhằm huy động lao động, vật tư và tiền vốn của các đối tượng để tiến hành
quản lý kinh doanh vốn rừng đã có tốt hơn, giải quyết được cơng ăn việc làm cho một lượng lớn lao động dư thừa. Chính vì vậy mà phần lớn đời sống của
53
người dân đã được cải thiện. Người dân thấy được hiệu quả từ nghề rừng, có kinh nghiệm và vốn tích luỹ từ việc sản xuất kinh doanh trên rừng. Từ đó hộ
sẽ tiếp tục và mạnh dạn hơn nữa để đầu tư vào phát triển nghề rừng trên đất trống. Vì vậy mà quỹ đất trống trong vùng ngày càng giảm đi và thay thế vào
đó là những rừng cây xanh tốt. Cho đến năm 2005, diện tích đất trống, đồi núi trọc chỉ còn 10.935ha, trong đó có 4.306ha đã được giao cho các đối tượng để
họ trồng mới, phát triển nghề rừng. Tóm lại, thơng qua hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, lâm
trường đã tạo thêm công ăn việc làm cho các hộ nơng dân, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, thực hiện thành cơng chính sách xố đói giảm
nghèo của Nhà Nước. Đồng thời thông qua công tác giao khoán giúp người dân hiểu rõ hơn về vai trò của rừng. Vì vậy ý thức bảo vệ rừng ngày càng cao,
tình trạng chặt phá rừng giảm. Tuy nhiên vấn đề đặt ra đối với lâm trường, đối với các cấp chính quyền địa phương và đối với người dân trong vùng là diện
tích đất đai được giao khốn không tập trung mà phân tán nhỏ lẻ, manh mún. Chính vì thế làm giảm hiệu quả sử dụng đất.
c .Kết quả liên doanh - liên kết đất lâm nghiệp đến năm 2005 Căn cứ vào số liệu báo cáo của lâm trường về tình hình liên doanh liên
kết để tiến hành sản xuất kinh doanh giữa lâm trường với các đối tượng khác, giữa các đối tượng khác với nhau. Kết quả cụ thể được tổng hợp ở biểu 13 .
Hiện nay, lâm trường đang thực hiện việc liên doanh, liên kết với các đối tượng chính là hộ gia đình theo hai hình thức: một là lâm trường bỏ vốn
và kỹ thuật, còn người dân bỏ đất và lao động. Trong trường hợp này thì lâm trường sẽ bảo đảm về vấn đề đầu ra và đầu vào cho sản phẩm. Thứ hai là
liên doanh trên đất của lâm trường. Như vậy thì lâm trường bỏ đất còn về phía đối tác là các cơng ty, nhà máy, xí nghiệp bỏ vốn. Nhìn chung cả hai hình
thức đều mang lại hiệu quả. Vì vậy mà diện tích đất đai được liên doanh ngày càng tăng, đối tượng tham gia liên doanh ngày càng nhiều. Thông qua biểu 13
ta thấy
54
Biểu 13: Kết quả liên doanh đất lâm nghiệp đến năm 2005.
STT Tên xã
Tổng diện tích liên
doanh ha Chia ra
Hộ gia đình, cá nhân
Số hộ Diện tích
ha
Đối tượng khác ha
1 TT Thác Bà
465 26
359 106
2 Hán Đà
490 34
378 112
3 Vĩnh Kiên
1.272 51
962,5 309,5
4 Vũ Linh
952 39
680 272
5 Bạch Hà
1.054,5 43
862 192,5
6 Phúc An
1.272 47
975 297
7 Yên Thành
1.322 52
962 360
8 Ngọc Chấn
700 38
700 -
9 Phúc Ninh
917 24
501 416
10 Xuân Lai
408 22
408 -
11 Mỹ Gia
247 13
247 -
12 Cẩm Nhân
517,5 17
344,9 162,6
13 Tích Cốc
345,5 19
345,5 -
14 Xuân Long
987 31
625 362
Cộng 10.940
492 8.350,25
2.589,6 Nguồn: Tài liệu điều tra
Qua biểu 13 ta thấy: Trong tổng diện tích 10.940 ha đất đai tham gia liên doanh bao gồm: 6.311 ha là đất lâm nghiệp đã có rừng và 4.629 ha là đất
lâm nghiệp chưa có rừng. Trong diện tích đất lâm nghiệp tham gia liên doanh thì chủ yếu là liên doanh với các hộ nông dân. Với 8.350,25 ha tương đương
76 đất lâm nghiệp có và khơng có rừng được tiến hành liên doanh với các hộ nông dân, phần lớn trong số hộ nằm trong hình thức liên doanh theo kiểu
hộ bỏ đất còn đối tác bỏ vốn và kỹ thuật, lợi nhuận phân chia theo thoả thuận, thông thường là phân chia 5050.
Có 2 xã có số hộ tham gia liên doanh nhiều nhất là xã Vĩnh Kiên và Yên Thành với 52 hộ tham gia trên tổng diện tích liên doanh là 962 ha, ít nhất
là xã Mỹ Gia chỉ có 13 hộ tham gia trong tổng diện tích 247 ha. Ngun nhân chính là những xã có diện tích đất lâm nghiệp nhiều, số hộ muốn tham gia
nhiều. Hiện nay tồn vùng mới chỉ có 492 hộ trong tổng số 9.940 hộ và 3.467 hộ lâm nghiệp. Con số này chứng tỏ sự hưởng ứng tham gia liên doanh của
các hộ còn hạn chế. Lý do để giải thích là trong quan niệm của người dân
55
nhận giao khoán đất rừng là “Đất của mình thì mình tự sản xuất, khơng muốn nhờ cậy ai”. Mặt khác phía đối tác cũng tìm hiểu kỹ trước khi đầu tư về địa
hình, chất lượng của đất. Vì thế mà mặc dù hình thức này đang ngày càng trở nên phù hợp và mang lại hiệu quả nhưng nó lại khơng nhận được sự hưởng
ứng của người dân.
Các đối tượng khác bao gồm các cơng ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế khác họ là những đối tượng có vốn hoặc có đất, họ cũng nhận thức được hiệu
quả và lợi ích từ việc áp dụng hình thức này. Vì vậy mà đến nay họ cũng đã tiến hành liên doanh liên kết được 2.589,6ha, trong đó có 1.576,6ha đã có
rừng và 1.012ha đất chưa có rừng, chủ yếu tập trung ở Phúc Ninh, Yên Thành, Vĩnh Kiên và Xuân Long. Đây là một xu hướng tốt vì nó sẽ làm
gương cho các hộ nơng dân ở các xã khác làm theo.
Tóm lại, liên doanh, liên kết cùng phát triển nghề rừng là một hình thức tổ chức sản xuất thích hợp, mang lại hiệu quả cho cả đơi bên và cho cả xã hội.
Vì vậy lâm trường và chính quyền các địa phương phải có biện pháp để tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn để người dân hiểu và tham gia vào. Từ đó mới
góp phần chiến thắng trong sự nghiệp xã hội hoá nghề rừng nói riêng và sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước nói chung, đưa lâm nghiệp của
vùng, của đất nước lên một tầm quan trọng mới. 3.2.3.2. Tình hình biến động đất đai của lâm trường qua giai đoạn 1995 -
2000 - 2005 và nguyên nhân của sự biến động đó
Trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay diện tích đất lâm nghiệp trong vùng thuộc quản lý của lâm trường đã có những biến động tăng, giảm nhất
định. Nguyên nhân của sự biến động được trình bày ở biểu 14.
Qua biểu 14 ta thấy: Đất đai lâm nghiệp của lâm trường từ năm 1995 đến năm 2005 có hai xu hướng biến động. Từ năm 1995 đến năm 2000 đất
lâm nghiệp biến động tăng, còn từ năm 2000 đến năm 2005 lại có xu hướng giảm dần.
Năm 1995 diện tích đất lâm nghiệp là 15.549 ha, đến năm 2000 nó đã tăng lên 20.123 ha, tức là tăng lên 4.574 ha. Phần tăng lên này chủ yếu là do
chuyển từ đất chưa sử dụng. Do trong giai đoạn này Nhà Nước bắt đầu thực 56
hiện việc giao khoán đất rừng đến tận tay đối tượng sử dụng. Chính vì thế hiệu quả sử dụng đất tăng lên, người dân bắt đầu chú trọng vào phát triển
nghề rừng. Nếu như trước đó họ chỉ tập trung vào khai thác, thì nay họ đã tập trung hơn vào khâu trồng mới và phát triển rừng. Chính vì vậy mà trong giai
đoạn này diện tích đất chưa sử dụng đã được khai hoá đưa vào sử dụng phục vụ cho mục đích phát triển lâm nghiệp.
Biểu 14:Nguyên nhân tăng giảm diện tích đất lâm nghiệp của lâm trường 1995 - 2005
STT Nguyên nhân tăng giảm
Diện tích ha
1 Đất lâm nghiệp hiện có năm 2005
18.993 2
Đất lâm nghiệp có trong năm 1995 15.549
3 Đất lâm nghiệp có trong năm 2000
20.123 I
Đất lâm nghiệp tăng từ 1995 – 2000 4.574
1 Do chuyển từ đất nông nghiệp
2 Do chuyển từ đất chuyên dùng
3 Do chuyển từ đất ở
4 Do chuyển từ đất chưa sử dụng
4.574 II
Đất lâm nghiệp giảm từ 2000 ÷
2005 1.130
1 Do chuyển sang đất nơng nghiệp
250 2
Do chuyển sang đất chuyên dùng 18
3 Do chuyển sang đất ở
2,5 4
Do chuyển sang đất chưa sử dụng 8
5 Do nguyên nhân khác
859,5 Nguồn: Tài liệu điều tra
Từ năm 2000 đến năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp lại có xu hướng giảm dần. Từ 20.123ha năm 2000 xuống còn 18.993 ha tức là giảm đi 1.130
ha. Nguyên nhân chính là do trong giai đoạn này, nhu cầu về giao thơng, cơng trình thuỷ lợi, đất để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa cũng tăng lên. Điều đó
làm cho 18ha đất lâm nghiệp chuyển sang đất chuyên dùng. Có thể nói những ngun nhân giảm này là tất yếu vì khi mà xã hội dần phát triển, đời sống
người dân ngày càng được cải thiện thì nhu cầu cho các hoạt động đó cũng tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm mạnh diện tích đất lâm
57
nghiệp là ở chỗ khác. Nó dần đến sự suy giảm 859,5ha, bao gồm chủ yếu là sự lỏng lẻo trong khâu quản lý đất đai của chính quyền địa phương và lâm
trường dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất. Trong đó có gần 100ha do cơng ty cà phê lấn chiếm, còn lại hơn 700ha do người dân lấn chiếm để làm trang trại và
vườn rừng. Vì vậy giải pháp trước mắt là lâm trường và các cấp chính quyền cần rà
soát lại và thực hiện chặt chẽ hơn về cơ chế giao khoán đất rừng đến các hộ thiết lập quyền chủ đất, chủ rừng thực sự và rõ ràng để có thể yên tâm đầu tư
cho sự phát triển rừng.

3.2.4. Hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp


Việc sử dụng đất hay việc sử dụng các hình thức tổ chức sản xuất có được chấp nhận hay khơng tuỳ thuộc vào những hiệu quả mà nó mang lại cho
xã hội và cho người dân. Để đánh giá hiệu quả các hình thức này tơi đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 30 hộ gia đình có tham gia hoạt động sản xuất lâm
nghiệp ở địa bàn của thị trấn Thác Bà. Hiệu quả của các hình thức sẽ được xác định trên các mặt: Hiệu quả về
tài chính, hiệu quả về xã hội và hiệu quả về mặt môi trường.

3.2.4.1. Hiệu quả kinh tế


a. Hiệu kinh tế trong trường hợp lâm trường tự sản xuất Trong trường hợp đánh giá hiệu quả kinh tế tài chính cho hình thức lâm
trường tự sản xuất. Chỉ tiêu được dùng là chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV, được tính cho một chu kỳ sản xuất rừng nguyên liệu 7 năm cho 1ha.
Căn cứ vào số liệu báo cáo hàng năm giữa lâm trường với các cơ quan Nhà Nước. Tình hình sản xuất kinh doanh cho 1ha trong một chu kỳ sản xuất
rừng nguyên liệu của lâm trường được thể hiện ở biểu 15. Trong trường hợp này mức lãi xuất vốn vay ngân hàng được áp dụng cho lâm trường là
7nămBáo cáo của lâm trường. Qua biểu 15 ta thấy: Đối với rừng nguyên liệu trong 1 chu kỳ sản xuất 7
năm. Trong 1ha lâm trường sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí 16.000.000đ.
58
Trong đó thì chi phí cho việc trồng, chăm sóc và khai thác chiếm nhiều nhất.
Biểu 15: Hiệu quả sản xuất kinh doanh 1 ha gỗ nguyên liệu.
STT Chỉ tiêu
Tổng vốn đầu tư1ha
Số năm
tính lãi
Tổng vốn và lãi đến cuối chu
kỳ r=7
1 Trồng, chăm sóc, bảo vệ năm 1 7.000.000
7 10.430.000
2 Trồng, chăm sóc, bảo vệ năm 2 2.000.000
6 2.840.000
3 Trồng, chăm sóc, bảo vệ năm 3 1.000.000
5 1.350.000
4 Bảo vệ năm 4 500.000
4 640.000
5 Bảo vệ năm 5 500.000
3 605.000
6 Bảo vệ năm 6 500.000
2 570.000
7 Bảo vệ năm 7 và khai thác cuối chu kỳ 4.500.000 1
4.815.000 I Tổng chi phí
16.000.000 21.250.000
II Tổng thu nhập 23.700.000
23.700.000
Cân đối NPV: II - I 7.700.000
2.450.000
Nguồn: tài liệu điều tra Sau chu kỳ 7 năm, sản lượng thu được là khoảng 100m
3
1ha, giá bán bình quân là 237.000đ1m
3
. Như vậy, đến cuối chu kỳ lâm trường thu được 23.700.000đ1ha. Nếu quy cả vốn và lãi trong cả chu kỳ sản xuất về hiện tại
với mức lãi bình quân là 7 thì ta có: Σ
CPV = 21.250.000đ; Σ
BPV = 23.700.000đ. Như vậy giá trị NPV = 2.450.000đ. Như vậy, qua phân tích trên ta thấy việc trồng rừng nguyên liệu để tiến
hành kinh doanh là phương án có hiệu quả. Hiệu quả này có được chính là do lâm trường đổi mới cơ chế quản lý, áp dụng khoa học và đưa những giống
mới có năng xuất cao hơn vào sản xuất. Từ đó rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng sản lượng khai thác.
Đối với rừng kinh tế là vậy, còn đối với rừng phòng hộ thì lâm trường cũng có được nguồn thu nhập từ việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản tận thu
khác từ rừng để cung cấp cho các cơ sở chế biến và nhu cầu lâm sản của nhân dân trong vùng dự án. Đồng thời phát huy tốt tính năng tác dụng phòng hộ
của rừng, bảo vệ được mùa màng, tăng năng xuất cây trồng. b. Hiệu quả kinh tế của rừng trong trường hợp người dân tự tiến hành sản xuất
Qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tham gia vào hoạt 59
động sản xuất, kinh doanh rừng gỗ nguyên liệu ta thấy được hiệu quả mà nó mang lại. Thể hiện ở biểu 16.
Biểu 16: Hiệu quả sản xuất kinh doanh 1 ha gỗ rừng nguyên liệu. STT
Chỉ tiêu Vốn đầu
tư1ha Số năm
tính lãi Tổng vốn và lãi
đến cuối chu kỳ
1 Chi phí trồng và chăm sóc năm 1 6.500.000
7 9.685.000
2 Chi phí trồng và chăm sóc năm 2 1.000.000
6 1.420.000
3 Chi phí trồng và chăm sóc năm 3 500.000
5 675.000
4 Chi phí khai thác cuối chu kỳ 4.000.000
1 4.280.000
5 Chi phí bảo vệ 4-7
6 Tổng chi phí 12.000.000
16.060.000 7 Tổng thu nhập
23.700.000 23.700.000
8 Cân đối 6 – 5 11.700.000
7.640.000 Nguồn: Tài liệu điều tra
Qua biểu thống kê ta thấy: Việc các hộ gia đình tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn lâm trường. Tính đến cuối chu kỳ, các hộ chỉ bỏ ra
tổng chi phí là 12.000.000đ1ha và thu được 23.700.000đ1ha. Như vậy cân đối lại lợi nhuận thu được là 11.700.000đ1ha. Nếu quy cả về hiện tại với lãi
xuất vốn vay bình quân là 7năm ta thu được : Σ
CPV = 16.060.000đ ; Σ
BPV = 23.700.000đ. Từ đó ta có chỉ tiêu là: NPV = 7.640.000đ, có được điều này là do các hộ gia đình nhận đất và tiến hành sản xuất kinh doanh trên
đất đó thì có trách nhiệm sản xuất hơn. Mặt khác họ lại tận dụng sức lao động trong nhà cho sản xuất kinh doanh, chính vì thế mà giảm được đáng kể chi phí
đặc biệt là chi phí bảo vệ và chăm sóc, tăng lợi nhuận thu được. Trong trường hợp các hộ nhận đất rừng phòng hộ, họ cũng có thể phát
triển sản xuất kinh doanh từ việc thâm canh các cây trồng ngắn ngày hoặc tỉa thưa gỗ và củi, các lâm sản khác để cải thiện đời sống và tăng thu nhập từ
diện tích đất rừng đó. Tóm lại, trong trường hợp lâm trường hay các hộ gia đình tự sản xuất
nghề rừng thì hiệu quả thu được vẫn khả thi. Tuy nhiên, các hộ dân tiến hành sản xuất thì sẽ có hiệu quả hơn so với việc lâm trường tự tiến hành sản xuất,
bởi vì khi đó họ có trách nhiệm với mảnh đất và việc sản xuất của mình hơn. 60
Mặt khác có thể tận dụng được tối đa sức lao động trong gia đình. Từ đó có thể vừa tạo cơng ăn việc làm, vừa tăng thêm thu nhập, góp phần tích cực để
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. c. Hiệu quả kinh tế trong trường hợp liên doanh – liên kết để sản xuất
Dựa trên cơ sở số liệu báo cáo của lâm trường và điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình có tham gia liên doanh, liên kết để phát triển sản xuất
rừng nguyên liệu. Kết quả được thể hiện ở biểu 17.
Biểu 17: Hiệu quả kinh tế từ liên doanh trồng rừng nguyên liệu Đơn vị tính: Đồng
STT Chỉ tiêu
Liên doanh trên đất của lâm trường
Liên doanh trên đất của dân
Vốn ban đầu cho
1ha Năm
tính lãi
Tổng vốn và lãi cuối
kỳ Vốn ban
đầu cho 1ha
Năm tính
lãi Tổng vốn
và lãi cuối kỳ
1 Trồng,CSBV năm 1
2 Trồng,CSBV năm 2
2.000.000 6
2.840.000 1.000.000 6
1.420.000 3
Trồng,CSBV năm 3 1.000.000
5 1.350.000
500.000 5
675.000 4
Trồng,CSBVnăm4 ÷
7 2.000.000 4
÷ 1
2.350.000 5
Chi phí khai thác 4.000.000
1 4.280.000 4.000.000
1 4.280.000
6 Tổng chi phí
9.000.000 10.820.00
5.500.000 6.375.000
7 Thu nhập
11.850.000 11.850.00
11.850.000 11.850.000
8 Cân đối 7-6
2.850.000 1.030.000 6.350.000
5.475.000
Nguồn: Tài liệu điều tra
Trường hợp liên doanh trên đất của lâm trường Khi tiến hành liên doanh, liên kết để trồng và phát triển kinh doanh
rừng nguyên liệu. Lâm trường sẽ phải bỏ ra các khoản chi phí gồm: Chi phí chăm sóc, bảo vệ; chi phí khai thác cuối chu kỳ và bỏ đất của mình ra. Phía
đối tác sẽ bỏ vốn đầu tư ban đầu và kỹ thuật, đến cuối chu kỳ lợi nhuận thu được sẽ chia theo tỷ lệ 5050. Như vậy, trong trường hợp này tổng chi phí
bằng tiền của lâm trường là 9.000.000đ1ha, tổng thu nhập là 11.850.000đ1ha. Nếu quy tất cả chi phí và thu nhập về thời điểm hiện tại thì
ta có được các chỉ tiêu sau: Σ
CPV = 10.820.000đ ; Σ
BPV = 11.850.000đ. Từ đó ta có NPV = 1.030.000đ.
61
Vậy, trong trường hợp này lâm trường vẫn có lãi, phía đối tác cũng được lợi. Nếu có rủi ro thì rủi ro sẽ được chia 2, nếu so sánh trường hợp này
với trường hợp lâm trường tự sản xuất thì kết quả thấp hơn, lợi nhuận ít hơn. Tuy nhiên đồng vốn bỏ ra ít hơn, an toàn hơn.
Trường hợp liên doanh trên đất của người dân Cũng như trường hợp liên doanh trên đất của lâm trường người dân sẽ
phải bỏ ra chi phí về chăm sóc, bảo vệ và khai thác, còn phía đối tác sẽ bỏ vốn đầu tư ban đầu và kỹ thuật. Như vậy người dân phải chịu tổng chi phí là
5.500.000đ1ha bằng tiền mặt. Trong khi thu nhập lại được phân chia theo tỷ lệ 5050. Vậy đến cuối chu kỳ người bán vẫn thu được 11.850.000đ1ha. Tính
ra lợi nhuận mà người dân thu được là 6.350.000đ1ha. Nếu quy tất cả chi phí và thu nhập về hiện tại ta có các chỉ tiêu sau:
Σ CPV = 6.375.000đ;
Σ BPV =
11.850.000đ. Từ đó ta có chỉ tiêu NPV = 5.475.000đ. Nếu so sánh trường hợp người dân liên doanh trên đất của mình với
trường hợp người dân tự tổ chức sản xuất thì sẽ có hiệu quả thấp hơn. Song nếu so sánh với trường hợp liên doanh, liên kết trên đất của lâm trường thì lại
có hiệu quả hơn do người dân giảm được chi phí đáng kể từ việc tận dụng sức lao động trong gia đình, vì thế chi phí chăm sóc, bảo vệ giảm đáng kể và
lợi nhuận tăng lên. Tóm lại, trong cả hai trường hợp liên doanh trên đất của dân và liên
doanh trên đất của lâm trường thì cả đơi bên đều có hiệu qủa. Từ đó góp phần vừa giải quyết được tình trạng thiếu vốn để sản xuất và khắc phục được tình
trạng đất đai bỏ trống, làm tăng độ che phủ, tăng thu nhập cho người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân trong vùng.

3.2.4.2. Hiệu quả về mơi trường


Việc giao khốn đất tận tay người dân để họ tích cực và tự chủ trong việc tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh rừng trên đất đó đã góp
phần tích cực vào việc tăng độ che phủ. Hiện nay, độ che phủ của rừng trong vùng đã lên tới 55. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2010 độ che phủ sẽ được
62
nâng lên là 70, từ đó góp phần giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, hạn chế bồi lập lòng hồ, đảm bảo nguồn nước cho thuỷ điện Thác Bà và cho
tưới tiêu, sinh hoạt của người dân, tăng độ phì cho đất, mơi trường sinh thái ngày càng được nâng cao, sức khoẻ của người dân cũng được nâng cao, cải
thiện và bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.

3.2.4.3. Hiệu quả về xã hội


Tạo được công ăn việc làm ổn định cho hơn 470 lao động tăng thu nhập cho người dân, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đây chính là hiệu quả xâu xa mà việc phát triển rừng mang lại. Một mặt giúp người dân có cơng ăn việc làm, tăng thu
nhập, mặt khác nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề phất triển lâm nghiệp, cải thiện môi trường...

PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(70 tr)

×