Tải bản đầy đủ - 81 (trang)
Đối với nền kinh tế

Đối với nền kinh tế

Tải bản đầy đủ - 81trang

Do số lượng các DN rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh trong mọi ngành nghề của nền kinh tế, thêm vào đó những khoản vay của các DN lại
tương đối nhỏ, không quá tập trung vốn, vì vậy việc cho vay đối với DNVVN có thể phân tán được rủi ro. Việc một hoặc một số DN gặp khó
khăn cũng thường không đem lại hậu quả quá lớn đối với hoạt động NH. Đồng thời, NH dễ quản lý việc sử dụng vốn vay của khách hàng. Do quy mô
của DN tương đối nhỏ gọn, địa bàn hoạt động của các DN cũng thường chỉ nằm trong một địa phương xác định. Vì vậy dễ dàng và nhanh chóng hơn rất
nhiều cho NH trong việc tìm hiểu, xác minh những thông tin về DN cũng như quản lý việc sử dụng vốn của DN. Vì thế sẽ sàng lọc được những khoản
tín dụng tốt, đảm bảo an tồn, hạn chế khả năng mất vốn cho NH.

1.3.2.3 Đối với nền kinh tế


− Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Khi DN có vốn thì sẽ phát triển rộng cả về quy mơ và chất lượng. Từ đó sẽ thu hút được một số lượng lớn lao động, giải quyết được nạn thất nghiệp
cho nền kinh tế, đặc biệt với nền kinh tế Việt Nam. Trong quá trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, các khu công nghiệp được mở rộng, đất nông
nghiệp bị thu hẹp, số nông dân nhàn rỗi không ngừng tăng lên, và các DNVVN là những DN có quy mô nhỏ, sản xuất giản đơn, không yêu cầu tay
nghề quá phức tạp sẽ là nơi thu hút số lao động dư thừa này. Do đó đời sống của người lao động cũng được nâng cao hơn.
− Thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế
Để ổn định và phát triển nền kinh tế, các nhà quản lý luôn thực thi hai chính sách quan trọng: chính sách tiền tệ và chính sách tài khố. Trong đó,
đặt biệt là chính sách tiền tệ bởi vì tiền tệ là đối tượng kinh doanh của các NHTM - trung gian tài chính. Do đó, các hoạt động kinh doanh tiền tệ của
Ngân hàng cụ thể là hoạt động cho vay chắc chắn sẽ tác động đến sự phát
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
triển của nền kinh tế theo nhiều chiều hướng. Nếu các NHTM thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, điều
này sẽ làm tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, kích thích sự tăng trưởng, ổn định tiền tệ, tạo ra nhiều công ăn việc làm….
Mở rộng cho vay các DNVVN giúp cho các DN này phát triển, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, nâng cao mức sống…đồng thời, nó còn thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, quan hệ thương mại quốc tế, đẩy nhanh quá trình hội nhập với kinh tế
quốc tế.
1.3.5
Các chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để đánh giá được sự phát triển của hoạt động cho vay DNVVN thì các ngân hàng thường dựa vào các chỉ tiêu:
− Số DNVVN tổng số DN
Các con số về mặt tuyệt đối như bao nhiêu DNVVN, tỷ trọng số DN này trên tổng số DN qua các năm. Qua các con số đó, chúng ta có thể đánh
giá hoạt động cho vay có được mở rộng thực sự hay khơng. Thậm chí có thể phân ra các DNVVN ở các thành phần và loại hình để phân tích. Chẳng hạn
số DNVVN ở khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng như thế nào, để thấy được ngân hàng có thực sự quan tâm đến cho vay DNVVN
hay chỉ chú trọng đến cho vay các DN nhỏ ở khu vực quốc doanh. Số lượng DN được đánh giá ở hạng nào: AAA, AA, A, BBB…, xem xét các DNVVN
có được hưởng ưu đãi lãi suất không. −
Doanh số cho vay Là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân cho khách
hàng trong một thời gian thường là theo năm. Doanh số cho phản ánh quy mô tuyệt đối của hoạt động cho vay của ngân hàng. Khi quy mô và tốc độ
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
tăng doanh số cho vay phản ánh khả năng phát triển của hoạt động cho vay của ngân hàng.
− Dư nợ DNVVN tổng DN
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó sẽ cho thấy về quy mơ tổng thì lượng cho vay của các DNVVN có tăng theo thời gian hay khơng qua các năm. Ta có
thể đồng thời xem xét cả số tuyệt đối và số tương đối về dư nưoj, tỷ trọng dư nợ của các DNVVN. Trong chỉ tiêu này chúng ta có thể chia ra tỷ trọng dư
nợ của các DNVVN trong ngắn hạn so với trung và dài hạn như thế nào, qua đấy ta thấy NH thường có xu hướng cho vay loại hình DN theo thời gian
như thế nào. −
Tốc độ tăng dư nợ DNVVN Chỉ tiêu này phản ánh việc phát triển hoạt động cho vay của ngân hàng
theo quy mô. Tốc độ tăng dư nợ = dư nợ năm n
+ 1
− dư nợ năm n dư nợ năm n
Nếu tốc độ tăng dư nợ lớn hơn không và lớn hơn tốc độ tăng dư nợ của các loại hình DN khác chứng tỏ NH đang mở rộng quy mơ cho vay
DNVVN. Còn nếu ngược lại thì NH đang theo chính sách thu hẹp quy mô cho vay DNVVN.
− Tỷ trọng NQH của DNVVN tổng số NQH
Mức độ an toàn của hoạt động cho vay đối với DNVVN được phản ánh qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN, do đó tỷ lệ này là một chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay DNVVN. Người ta tính tỷ lệ này như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN
= Nợ quá hạn đối với DNVVN
Tổng dư nợ đối với DNVVN 100
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng và mức độ rủi ro của khoản tín dụng. Tỷ trọng nợ quá hạn có những món khơng có khả năng thu hồi, nên
NH bị mất vốn. Chỉ tiêu này cũng thể hiện việc mở rộng cho vay thực sự có hiệu quả hay không, xu hướng mà NH sẽ theo, việc NH cân nhắc giảm bớt
tạm thời cho vay các DN lớn để khuyến khích các DNVVN… −
Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu Nợ xấu là các khoản nợ nhóm 3, 4, 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là
tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của NH.
1.3.6
Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.4.4.
Các nhân tố thuộc về Ngân hàng
∗ Khả năng cung ứng vốn của NH
Đối với NH, để mở rộng hoạt động cho vay, buộc các NH phải có đủ vốn để cung ứng cho việc mở rộng hoạt động của mình. Khả năng cung ứng
vốn của NH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: quy mô, kết cấu, tính ổn định của khoản tiền gửi, khả năng vay mượn của NH, quy mô vốn chủ sở
hữu…Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế, sự điều tiết của thị trường tài chính, tiền tệ do NHTW điều hành. Sức mạnh của Ngân hàng thể hiện
quy mô vốn tự có của nó. Vốn chủ sở hữu càng nhiều chứng tỏ Ngân hàng đó càng mạnh và có thể phát triển hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực
mà không bị hạn chế. Hiện nay, ở các nước trên thế giới các NHTM chỉ
được phép cho vay đối với một khách hàng trong một giới hạn nào đó trên vốn tự có của các NHTM tuỳ theo quy định mỗi nước. Do đó, nếu gia tăng
quy mơ vốn chủ sở hữu Ngân hàng khơng những có thể phát triển hoạt động cho vay về quy mơ mà còn có thể hạn chế bớt rủi ro liên quan xảy ra bởi vì
vốn chủ sở hữu như một tấm lá chắn an toàn giúp NHTM đứng vững trước các tổn thất không thu hồi các khoản cho vay. Để mở rộng cho vay thì các
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
NHTM phải có một nguồn vốn đủ mạnh để mở rộng các dịch vụ của mình, gia tăng doanh số cho vay.
∗ Chính sách tín dụng
Chính sách khách hàng: thông thường các NH thường xuyên tiến hành việc phân loại khách hàng thành các đối tượng khách hàng như khách hàng
truyền thống, khách hàng quan trọng và những khách hàng khác. Những khách hàng truyền thống và khách hàng quan trọng được NH đặc biệt quan
tâm hơn và thường được hưởng những chính sách ưu đãi của NH về nhiều mặt như thủ tục vay vốn, lãi suất vay vốn, phí sử dụng dịch vụ…chính vì
vậy việc NH có xác định đối tượng DNVVN là đối tượng khách hàng quan trọng hay không ảnh hưởng rất lớn đến việc mở rộng hoạt động cho vay đối
với đối tượng DN này. Nếu được xác định là đối tượng khách hàng quan trọng DNVVN sẽ có được những điều kiện ưu đãi tốt nhất có thể tiếp cận
nguồn vốn của NH. Chính sách quy mơ và hạn mức tín dụng: NH cho khách hàng vay tối
đa bằng nhu cầu của khách hàng và phù hợp với các quy định dựa trên tính tốn của NH về rủi ro và sinh lời. Ngồi các giới hạn do luật quy định mỗi
NH còn có quy định riêng về quy mơ và các giới hạn của mình gồm quy mơ cho vay tối đa tới từng đối tượng DN, từng ngành nghề kinh tế…
Chính sách về các khoản đảm bảo: do hai bên chưa có sự đồng thuận về sự đảm bảo cho việc vay vốn đã tạo nên cái vòng luẩn quẩn: DN không
đủ điều kiện về tài sản thế chấp, không vay được vốn, không mở rộng được sản xuất kinh doanh, khơng thu được nhiều lợi nhuận, vì thế cũng khơng có
nhiều tài sản để mà thế chấp…cái vòng luẩn quẩn ấy đã diễn ra nhiều năm nay. Các chính sách về các khoản bảo đảm của NH như mở rộng danh mục
các tài sản có thể sử dụng làm tài sản đảm bảo, tăng tỷ lệ cho trên giá trị tài
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
sản đảm bảo, mở rộng hình thức cho vay bảo lãnh…là những nhân tố tác động rất lớn đến việc mở rộng cho vay.
∗ Trang thiết bị, cơng nghệ
Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và
điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong cơng việc nhận tiền gửi, thanh tốn bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi
bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 2424 giờ;
Máy thanh tốn tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh tốn hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ
thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên tồn thế giới. Trang thiết bị và công nghệ hiện đại sẽ cho phép các NH
nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế.
∗ Trình độ của cán bộ NH
Trong mọi hoạt động, dù công nghệ kỹ thuật áp dụng ngày càng hiện đại, vai trò của con người khơng thể phủ nhận bởi chỉ con người mới có khả
năng sáng tạo, tạo ra sự phát triển đột biến. Đối với ngân hàng mà nói, con người là một nhân tố quyết định đến sự thành bại trong các hoạt động kinh
doanh cũng như hoạt động cho vay của nó. Trong hoạt động kinh doanh của NH, khách hàng thường xuyên tiếp
xúc, giao dịch với nhân viên, mọi thái độ, phong cách làm việc của nhân viên có ảnh hưởng quyết định đến hình ảnh, uy tín của NH. Vì vậy, với kiến
thức, kinh nghiệm, thái độ phục vụ và khả năng thuyết phục khách hàng, ngoại hình, trang phục nhân viên…có thể làm tăng thêm chất lượng dịch vụ
SV: Nguyễn Thị Kim Oanh Ngân hàng 47A
hoặc cũng có thể làm giảm chất lượng dịch vụ. Hiện nay, với sự xuất hiện của nhiều NH trong và ngồi nước, trình độ cơng nghệ, sản phẩm gần như
khơng có khác biệt, các NH chỉ có thể nâng cao tính cạnh tranh bằng chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên. Chất lượng nhân viên càng cao thì lợi
thế cạnh tranh của NH càng lớn. Do đó, để duy trì và phát triển quan hệ với khách hàng hiện tại cũng như khách hàng trong tương lai, các NH phải
không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên của mình. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, giỏi về năng lực quản lý cũng như
chun mơn có năng lực phân tích tín dụng, đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án cho vay, đánh giá tài sản bảo đảm để cho vay, giám sát khoản vay….
sẽ giúp Ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm đáng tiếc có thể xảy ra trong hoạt động cho vay.

1.3.4.5. Các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối với nền kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(81 tr)

×