Tải bản đầy đủ - 96 (trang)
Đầu t vào hàng tồn trữ:

Đầu t vào hàng tồn trữ:

Tải bản đầy đủ - 96trang

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đầu t MMTB gắn bó chặt chẽ với chiến lợc sản phẩm của các doanh nghiệp. Đây là bộ phận chiếm tỉ trọng vốn lớn nhất trong hoạt động đầu t của doanh nghiệp sản
xuất. Mặt khác, trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ nên có nhiều tầng công nghệ, nhiều cơ hội để lựa chọn MMTB phù hợp về nhiều mặt. Do đó, việc đầu t
cho MMTB, DCCN phải đợc thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn sau:
- Cho phép sản xuất ra sản phÈm cã tÝnh c¹nh tranh cao. - Cho phÐp khai thác và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh của doanh
nghiệp, của vùng nh lao động, nguyên liệu. - Giá cả và trình độ công nghệ phải phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và
xu thế phát triển công nghệ của đất nớc và thế giới. Khi đầu t, doanh nghiệp cần phải có đội ngũ cán bộ am hiểu nhất định về công
nghệ, biết định giá chính xác về thiết bị công nghệ. Giá của công nghệ gồm nhiều thành phần: chi phí sản xuất, chi phÝ mua b»ng s¸ng chÕ, bÝ quyÕt kÜ thuËt, thơng hiệu, chi phí
huấn luyện chuyên môn ... Phần khó định giá nhất là chi phí sáng chế, bí quyết kĩ thuật hay còn gọi là phần mềm . Hơn nữa, doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ lớn nếu mua đợc
thiết bị rẻ nhng hoạt động không hiệu quả. Để có đợc thiết bị nh mong muốn thông th- ờng các doanh nghiệp áp dụng phơng thức đấu thầu.
Hoạt động đầu t vào MMTB của doanh nghiệp có thể diễn ra dới hai hình thức: Đầu t chiều rộng trình độ kĩ thuật và công nghệ nh cũ và đầu t chiều sâu
hiện đại hoá công nghệ.Trong đó đầu t tăng cờng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhấn mạnh hình thức thứ hai. Để đổi mới công nghệ, các doanh
nghiệp có thể thực hiện bằng các con đờng sau:
- Cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thông hiện có. - Tự nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ mới.
- Nhập công nghệ tiên tiến từ nớc ngoài thông qua mua sắm trang thiết bị và chuyển giao công nghệ.

3.2. Đầu t vào hàng tồn trữ:


Hàng tồn trữ của doanh nghiệp là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng, thành phẩm đợc tồn trữ trong doanh nghiệp.
Trớc đây, ngời ta ít coi trọng đến đầu t hàng tồn trữ và coi đây nh là một hiện tợng bất thờng, không đa lại kết quả nh mong muốn của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, yêu cầu hoạt ®éng cđa doanh nghiƯp cho thÊy r»ng viƯc ®Çu t hàng tồn trữ là cần thiết, bởi hai lí do cơ bản sau:
22
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thứ nhất, hãng có thể dự đoán hay khẳng định giá cả sẽ tăng. Ví dụ giá dầu mỏ tăng mạnh, nhiều hãng muốn mua với khối lợng lớn vì mua bây giờ sẽ
rẻ hơn sau này. Tơng tự, các hãng có thể om hàng thành phẩm không chịu bán với hi vọng sẽ bán đợc giá cao hơn trong tơng lai gần.
Thứ hai, các hãng có ý định giữ lại hàng dự trữ là do nhiều quá trình sản xuất cần có thời gian để hoàn tất. Một số hàng dự trữ có vai trò là khâu trung
gian của các đầu vào trớc khi chúng trỏ thành sản phẩm. Nhng còn một động cơ khác nữa là để đề phòng nhu cầu về sản phẩm của hãng bất ngờ tăng lên. Do
không thể thay đổi công suất nhà máy một cách nhanh chóng, hãng có thể phải chi trả một khoản lớn cho việc làm ngoài giờ nếu hãng muốn đáp ứng đợc đơn
đặt hàng tăng vät; do vËy cã thĨ sÏ Ýt tèn kÐm h¬n nếu giữ một lợng hàng dự trữ để đáp ứng nhu cầu tăng đột ngột đó. Tơng tự, khi có suy thoái tạm thời, việc
tiếp tục sản xuất và tích trữ một số hàng không bán đợc có thể rẻ hơn là phải những khoản trợ cấp tốn kém trả cho số lao động dôi thừa với mục đích giảm
bớt lực lợng lao động và cắt giảm sản xuất.
Ngoài hai lí do trên thì đầu t hàng dự trữ còn có tác dụng điều hoà sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, hợp lí, hiệu
quả.
Căn cứ vào mục đích dự trữ, dự trữ đợc chia thành các loại cơ bản sau: - Dự trữ chu kì: là bộ phận dự trữ thay đổi theo qui mô của đơn đặt hàng.
- Dự trữ bảo hiểm: là khoản dự trữ cho tình trạng bất định về cung cầu và thời gian chờ hàng.
- Dự trữ thời vụ: là khoản dự trữ đáp ứng vào những thời kì thời vụ. Xét về mặt chi phí, bằng việc giữ lại các hàng hoá lẽ ra có thể bán đợc,
hay mua vào những hàng hoá mà việc mua đó đáng ra có thể hoãn lại, hãng giữ lại khoản tiền đáng ra có thể sử dụng theo cách khác để thu lãi. Do đó, chi phí
của việc giữ hàng tồn kho chính là khoản lãi cho số tiền có thể thu đợc bằng cách bán những hàng hoá này đi hay số tiền bỏ ra để mua chúng.
Khi lãi suất thực tế tăng, việc giữ hàng tồn kho trở nên tốn kém, cho nên các doanh nghiệp hành động hợp lí tìm cách giảm bớt hàng tồn kho của mình.
Bởi vậy, việc tăng lãi suất tạo ra áp lực đối với đầu t vào hàng tồn kho. Chẳng hạn vào những năm 1980, nhiều doanh nghiệp áp dụng kế hoạch sản xuất đúng
lúc Just in time, để cắt giảm khối lợng hàng tồn kho bằng cách sản xuất hàng
23
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
hoá ngay trớc khi bán. Lãi suất cao phổ biến trong phần lớn thập kỉ đó là một cách để lí giải sự thay đổi trong chiến lợc kinh doanh.
Đây là một khoản chi phí tơng đối lớn trong vốn đầu t của doanh nghiệp. Vì vậy, trong quá trình sử dụng phải tính toán kĩ lỡng, tránh tồn kho quá nhiều
hoặc quá ít, đảm bảo hiệu quả của đồng vốn và đáp ứng nhu cầu của thị trờng.

3.3. Đầu t phát triển nguồn nhân lực:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đầu t vào hàng tồn trữ:

Tải bản đầy đủ ngay(96 tr)

×