Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
Cận lâm sàng

Cận lâm sàng

Tải bản đầy đủ - 78trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Bùi Thanh Huyền là: 6,33 ± 1,34 mCi.
Thấy liều dùng
131
I của chúng tôi là cao hơn hẳn các tác giả trên. Điều này có thể lý giải rằng: Do cách tính liều có tỷ lệ thuận với thể tích tuyến
giáp, trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi, thể tích tuyến giáp là to hơn hẳn so với các tác giả trên, dẫn đến tổng liều sẽ cao hơn. nhưng tính theo hoạt độ
phóng xạ cho 1gam tổ chức tuyến giáp thì liều của chúng tôi là tương đối thấp 70
 Cig.
4.5. Kết qu sau 4 tháng iu tr. 4.5.1. Lâm sàng
Qua theo dõi chúng tơi thấy tình trạng bệnh giảm rất nhanh chóng. Tất cả bệnh nhân đều tăng cân 1 kg đến 12 kg, các triệu chứng lâm sàng giảm rõ
rệt, riêng triệu chứng mắt lồi không giảm. Kết quả này cũng tương tự như nhiều tác giả khác [1], [19]...

4.5.2. Cận lâm sàng


- ECG: tất cả các bệnh nhân đều có ECG trở về bình thường sau điều trị, và khơng có diễn biến gì trong quá trình điều trị. Điều này có thể nói : Nếu
khống chế tốt được cường giáp thì sẽ khống chế được biến chứng tim mạch do Basedow gây nên.
- Xét nghiệm hormon: Sau điều trị chúng tơi thấy.
.
TSH, T
3,
FT
4.
đã trở về bình thường 79,6. TSH tăng, T
3,
FT
4
giảm dưới mức bình thường chiếm 11,3. TSH, T
3,
FT
4
khơng có sự thay đổi đáng kể sau điều trị chiếm 9,1. Ngơ Thị Phượng, Tạ Văn Bình cùng cộng sự [28], nghiên cứu thấy: Sau
3 tháng điều trị bệnh nhân Basedow bằng PTU, nồng độ TSH, T
3,
FT
4
đã trở về bình thường.
Dương Văn Hoén, Nguyễn Văn Lân và cộng sự [28], nghiên cứu thấy: sau 12 tháng điều trị bằng PTU, nồng độ TSH, T
3,
FT
4
đã trở về bình thường là 75,0.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
So sánh chúng tôi thấy kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả của Dương Văn Hoén cùng cộng sự. nhưng có sự khác biệt lớn với nghiên
cứu của Ngô Thị Phượng và cộng sự. Đây cũng là vấn đề cần xem xét để lựa chọn giữa hai phương pháp điều trị này.
- Một số xét nghiệm khác: CTM, SGOT, SGPT, Glucose, là khơng có sự thay đổi rõ rệt trước và sau
điều trị, riêng Cholesterol là có sự thay đổi rõ rệt trước và sau điều trị. - Thể tích tuyến giáp:
Trong nghiên cứu của chúng tơi, thể tích tuyến giáp trước điều trị, cao nhất là 300,3ml, thấp nhất là 10,6ml, trung bình là 74,7 ± 21,4ml, đây là nhóm
đối tượng nghiên cứu có thể tích tuyến giáp tương đối to so với nhiều tác giả. Sau điều trị thể tích đã giảm rất đáng kể, thể tích trung bình sau điều trị là
34,7 ± 7,9 tỷ lệ giảm thể tích là 53,5. Việc sử dụng
131
I để điều trị một số bệnh nhân tuyến giáp, đặc biệt để làm giảm thể tích tuyến giáp trong bệnh Basedow và bướu cổ đơn thuần đã
được một số tác giả tiến hành. Năm 1997 J. M. H. Klerk, J. W. Isselt và CS đã điều trị cho các bệnh
nhân bướu cổ đơn thuần bằng
131
I, kết quả cho thấy với liều điều trị trung bình là 34,8 ±1,98mCi, mức giảm thể tích trung bình khoảng 30 trích từ 19.
Theo một số tác giả theo sau một năm điều trị bệnh Basedow bằng
131
I thể tích tuyến giáp thay đổi như sau [ 1], [19].
Tác giả Vml TBTĐT
V ml TBSĐT Tỷ lệ giảm
Mai Trọng Khoa và cộng sự 2000
45,56 16,96
60,46 Phan Sỹ An và cộng
sự 2000 46,88
15,89 63,67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Nguyễn Huy Hùng 2009
74,7 34,70
53,5
Qua bảng này thấy rõ kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 53,5 so với các tác giả trên tỷ lệ giảm thể tích tuyến giáp là thấp hơn. Điều này có thể lí
giải rằng do thời gian theo dõi của chúng tôi là ngắn hơn 4 tháng của các tác giả một năm. Kết quả trên chưa thực chất đánh giá hết được kết quả điều trị

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cận lâm sàng

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×