Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng Cách tính liều và liều điều trị

Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng Cách tính liều và liều điều trị

Tải bản đầy đủ - 78trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Mạch nhanh chiếm tỷ lệ 90,9, cơn bốc hoả 90,9, ra nhiều mồ hôi 93,2, run tay 77,2, lồi mắt 61,4. kết quả này của chúng tôi không
khác nhiều so với nhiều tác giả khác [1], [7].

4.1.3. Một số biểu hiện về cận lâm sàng trước điều trị


- ECG. Hai trường hợp có rối loạn trên điện tâm đồ rung nhĩ, 40 bệnh nhân có
rối loạn nhịp nhanh, khơng có biểu hiện các rối loạn khác. - Thể tích Tuyến giáp.
Thể tích tuyến giáp trong nghiên cứu của chúng tơi: Cao nhất là 300,3 ml, thấp nhất là 10,6 ml, trung bình là 74,7 ± 21,4 ml.
So với một số tác giả: Mai Trọng Khoa [19], thể tích trung bình là 45,2 ± 5,1 ml; Phan Sỹ An [1], là 46,8 ± 5,7ml.
Chúng tơi thấy thể tích tuyến giáp trong nghiên cứu của chúng tôi là to hơn rất đáng kể so với các tác giả. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi cũng
chưa có đủ cơ sở để lý giải cho sự khác biệt trên. Có phải chăng những bệnh nhân Basedow trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ yếu nằm trong vùng địa
dư có tỷ lệ bướu cổ đơn thuần cao, và những bệnh nhân này có nhiều người đã mắc một bướu cổ đơn thuần từ trước.

4.3. Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng


131
I
Trong 44 bệnh nhân chúng tơi điều trị có đầy đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh Basedow và độ tập trung
131
I tại tuyến giáp đủ cao 30 sau 24h, không giới hạn về tuổi.
Quan điểm về tuổi trong chỉ định điều trị
131
I ngày càng có sự thay đổi. Chỉ định cho tuổi 40 [21], [38].
Chỉ định cho tuổi 30 [33]. Chỉ định cho tuổi 35 [44].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Chỉ định cho trẻ em và vị thành niên [22], [62]. Qua đó chúng tơi thấy có nhiều quan điểm khác nhau về tuổi chỉ định.
Từ lâu trên thế giới
131
I đã được áp dụng vào điều trị bệnh Basedow ở cả trẻ em và vị thành niên, qua theo dõi dài ngày trên hàng ngàn bệnh nhân được
điều trị đã cho thấy tính hiệu quả cao an tồn, kinh tế, tiện lợi nhất là trong những trường hợp điều trị nội khoa dài ngày không khỏi hoặc tái phát hoặc bị
tác dụng phụ của thuốc kháng giáp tổng hợp hoặc biến chứng nặng nề không thể phẫu thuật được. Ngày nay một số nơi đã chọn đây là giải pháp đầu tiên
trong điều trị trẻ em và vị thành niên như ở Châu Âu và Canada [53], [58]. Các tác giả cho rằng có thể tiên lượng được kết quả điều trị nội khoa dài ngày
qua kết quả điều trị nội khoa từ 4 đến 6 tháng và khuyên nên chọn lựa phương pháp điều trị khác nếu đã điều trị nội khoa 4 đến 6 tháng đáp ứng kém [61].
Quan điểm chung hiện nay, đặc biệt ở các nước phát triển thì điều trị Basedow bằng
131
I cho cả trẻ em và thanh niên đều có kết quả tốt và khơng có bằng chứng nào cho thấy hậu quả di truyền với những bệnh nhân này [1].

4.4. Cách tính liều và liều điều trị


Chúng tơi dùng phương pháp tính theo công thức của Rubenfeld: D = C x WU.
Trong đó: D là tổng liều
131
I tính bằng mCi C là Ci cho 1 gam trọng lượng tuyến giáp.
W là trọng lượng tuyến giápg. U là độ tập trung
131
I tại tuyến giáp . Trong đề tài này chúng tôi lấy C = 70
 Ci. Đây là giải hoạt độ thấp trong
giải hoạt độ thường dùng ở Việt Nam cũng như trên Thế giới [1], [5]. Liều
131
I trung bình cho một bệnh nhân là 10,09 ± 3,74mCi.
Tính liều điều trị là vấn đề được quan tâm rất nhiều. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ rõ dù có tính tốn phức tạp, cơng phu đến đâu cũng ít đem lại
hiệu quả dù rằng dùng liều thấp 2mCi thì vẫn có nhược giáp xảy ra ngay sau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
dùng liều đầu tiên mà lại phải điều trị nhiều lần. Đa số các tác giả nước ngoài khuyên nên dùng liều cao ngay từ đầu để điều trị nhằm đưa tuyến giáp về thể
tích bình thường, làm tăng tỷ lệ khỏi bệnh vừa hạn chế làm tế bào tuyến giáp bị tổn thương và kích thích với liều nhỏ gây ra các hiệu ứng gián tiếp.
Rapoport và cộng sự dùng liều
131
I thấp 80 
Cig thì thấy có 38 bệnh nhân trở về bình giáp trong vòng một năm. Barzelatter và cộng sự thấy xuất
liều trung bình là 160 
Cig có thể đạt 62 bệnh nhân trở về bình giáp trong thời gian 2 đến 3 tháng. Safa và Skiller dùng liều
131
I cao từ 160 đến 240 
Cig thấy có 90 bệnh nhân bình giáp sau thời gian 2 đến 4 tháng. Tuy nhiên tỷ lệ
suy giáp sau đó là rất cao trích từ 7. Nhiều tác giả cho rằng, dù dùng liều
131
I bao nhiêu thì cũng gây tỷ lệ suy giáp cao. Hậu quả này không chỉ ở bệnh nhân xạ trị mà còn ở cả những bệnh
nhân điều trị phẫu thuật và dùng thuốc KGTH thậm chí chưa điều trị gì cũng có thể bị suy giáp sau cường giáp, mặc dù ban đầu của nó khác nhau và khơng
thể dự đốn trước được. Tuy nhiên, một điều hoàn toàn chắc chắn là dùng liều
131
I thấp thì sẽ giảm tỷ lệ suy giáp. Vì vậy, tất cả các bệnh nhân sau xạ trị đều phải khám định kỳ và làm các xét nghiệm để kiểm tra [7].
Một số bệnh nhân của chúng tôi đã được điều trị nội khoa dù đã được dừng thuộc kháng giáp tổng hợp 15 ngày trước điều trị nhưng giá trị độ tập
trung
131
I có thể vẫn bị ảnh hưởng. Do đó chúng tơi chủ trương áp dụng cách tính liều cố định có hiệu chỉnh theo thể tích tuyến giáp và độ tập trung
131
I sau 24h, có tham khảo đến tình trạng bệnh và bệnh nhân. Đây là cách tính đơn
giản mềm dẻo phù hợp với việc dùng
131
I dạng viên vừa có phần hài hồ giữa hai cách tính liều cố định và tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1gam tổ chức
tuyến giáp đây là hai cách tính chủ yếu ở Việt Nam cũng như trên thế giới. So với các tác giả:
Hoàng Đức Dũng và CS là: 6,45 ± 0,69 mCi. Phan Sỹ An và CS là:
6,30 ± 1,80 mCi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Bùi Thanh Huyền là: 6,33 ± 1,34 mCi.
Thấy liều dùng
131
I của chúng tôi là cao hơn hẳn các tác giả trên. Điều này có thể lý giải rằng: Do cách tính liều có tỷ lệ thuận với thể tích tuyến
giáp, trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi, thể tích tuyến giáp là to hơn hẳn so với các tác giả trên, dẫn đến tổng liều sẽ cao hơn. nhưng tính theo hoạt độ
phóng xạ cho 1gam tổ chức tuyến giáp thì liều của chúng tôi là tương đối thấp 70
 Cig.
4.5. Kết quả sau 4 tháng iu tr. 4.5.1. Lâm sàng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng Cách tính liều và liều điều trị

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×