Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
Chẩn đốn - Chẩn đốn xác định Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh Basedow bằng

Chẩn đốn - Chẩn đốn xác định Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh Basedow bằng

Tải bản đầy đủ - 78trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Lâm sàng: triệu chứng rầm rộ, có thể có phù phổi cấp, suy gan, suy thận... Các xét nghiệm hormon tăng rất cao...
- Biến chứng tim mạch Xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân có tiền sử tim mạch hoặc cao tuổi [13].
+ Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, flutter, LNHT do rung nhĩ. + Suy tim toàn bộ, trội hơn ở bên phải.
- Các biến chứng mắt
+ Liệt cơ vận nhãn một hoặc hai bên. + Lồi mắt ác tính:
Lồi mắt rất nặng, tiến triển nhanh làm bệnh nhân nhức mắt, chảy nước mắt, có thể liệt cơ vận nhãn, thủng nhãn cầu, viêm thần kinh thị giác,teo gai
thị. Ngày nay phẫu thuật cắt xương thành trong và xương sàn hốc mắt là phương pháp hiệu quả điều trị bệnh mắt Basedow mức độ nặng [11].
-Một số biến chứng khác: Suy kiệt, lỗng xương...

1.6. Chẩn đốn - Chẩn đoán xác định


+ Hội chứng cường giáp trạng trên cơ sở một bướu mạch, lan toả. + Hội chứng mắt vàhoặc bệnh lý da
+ T
3
, T
4,
FT
3
, FT
4
tăng. + TSI giảm vàhoặc TSH giảm [38].
Theo hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Australia và Hiệp hội tuyến giáp châu Âu thì chẩn đốn chủ yếu dự vào nồng độ hormon trong máu khi TSH dưới hoặc
bằng 0,1 
UI l. Nồng độ FT
4
vàhoặc T
3
cao hơn bình thường trên cơ sở gợi ý có một bướu mạch, mạch nhanh, mắt lồi...[51].
- Chẩn đốn phân biệt
+ Bướu cổ đơn thuần [43]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Các cường giáp trạng không phải Basedow. + Cường giáp trạng phản ứng.
+ Cường giáp trạng cận ung thư. + U độc giáp trạng.
+ Viêm tuyến giáp bán cấp. + Viêm tuyến giáp Hashimoto, viêm tuyến giáp sau đẻ [25].
+ Do sử dụng thuốc chứa Iod: Cordaron, thuốc cản quang có chứa Iod.
- Chẩn đốn mức độ
Baranov 1977 và Potemkin 1986 chia ra 3 mức độ: + nhẹ: Các triệu chứng rối loạn thần kinh nhẹ, nhịp tim nhanh nhưng
100 lầnphút, không có suy tim. sút cân ít 10 trọng lượng cơ thể so với lúc bình thường, chuyển hố cơ sở tăng 20-30. ĐTT
131
I sau 24h: 34 - 36. T
4
: 139 – 206 nmoll... +Trung bình: Các triệu chứng rối loạn thần kinh và tinh thần biểu hiện
rõ. Nhịp tim 100 – 120 lầnphút, có thể có suy tim giai đoạn hai đến ba . Sút cân 10 – 20. Chuyển hoá cơ sở tăng 30 – 60. T
4
: 246 – 268 nmoll... + Nặng: Các triệu chứng lâm sàng rầm rộ, có thể có triệu chứng không
phục hồi ở cơ quan nội tạng. Nhịp 120 lầnphút. ĐTT
131
I sau 24h 58. T
4
: 258 – 270 nmoll...

1.7. Các phƣơng pháp điều trị


Mục đích: + Giảm hoặc hết các triệu chứng lâm sàng của bệnh.
+ Đưa nồng độ hormon tuyến giáp trong máu về giới hạn bình thường. + Giảm hoặc phòng được các biến chứng.
Hiện nay, có 3 phương pháp điều trị bệnh Basedow [43],[44]: + Điều trị nội khoa bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Điều trị bằng Iod phóng xạ. + Phẫu thuật tuyến giáp.
Sự lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc nhiều yếu tố [56]. + Đặc điểm, tính chất của bướu giáp.
+ Thể trạng cụ thể từng bệnh nhân VD: phụ nữ có thai, người lớn tuổi. + Kinh nghiệm của bản thân thầy thuốc.
+ Điều kiện của cơ sở y tế. Nhiễm độc giáp trạng trong bệnh Basedow là do tăng tốc độ tổng hợp và
giải phóng hormon tuyến giáp tăng bất thường, khơng kìm hãm được nên cả ba phương pháp điều trị đều dựa trên hiệu quả kìm hãm tốc độ chế tiết
hormon giáp. Hiệu quả này được thực hiện nhờ những hoá chất có tác dụng: Ức chế một hoặc nhiều giai đoạn của q trình tổng hợp hormon.
Ức chế giải phóng hormon. Làm giảm khối lượng mô tuyến giáp.

1.7.1. Điều trị bằng Iod phóng xạ


Ở nước ta phương pháp điều trị Basedow bằng
131
I có xu hướng tăng nhanh, và được các cơ sở y học hạt nhân trong nước có đủ điều kiện sử dụng.
Tuy nhiên, chỉ định xạ trị Basedow ở Việt Nam có phần ít rộng rãi hơn cũng như chủ trương dùng liều
131
I thấp hơn, để phù hợp với sinh lý người Việt Nam [33], và để giảm thiểu số bệnh nhân bị suy giáp sau điều trị [9]. Đến nay
quan điểm này đã căn bản thay đổi,
13I
I được chỉ định rộng rãi hơn do tính hiệu quả, kinh tế của phương pháp điều trị này. Đã có những cơng trình
nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu kết quả điều trị bệnh Basedow bằng
131
I, sẽ giúp chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn.
- Nguyên lý: Hevesy G. V đã nêu lên một tiên đề: “Cơ thể sinh vật không phân biệt
được đồng vị phóng xạ của cùng một nguyên tố” trích từ 22. Có nghĩa đồng vị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
phóng xạ của cùng một nguyên tố có chung số phận chuyển hóa trong cơ thể sinh vật.
Khi vào cơ thể iod được hấp thu vào máu rồi theo tuần hồn đến Tuyến giáp. TG có khả năng bắt iod theo cơ chế ngược gradient nồng độ để tổng hợp
các hormon giáp. Khả năng bắt iod của TG phụ thuộc vào nồng độ iod trong TG và sự có mặt của NIS sodium iodide symporter. NIS có bản chất là
protein, có ở màng tế bào biểu mơ TG. NIS có vai trò vận chuyển tích cực Na
+
và I
-
từ dịch gian bào vào trong tế bào TG. Tùy theo tình trạng chức năng tuyến giáp mà nồng độ iod tại tuyến giáp có thể cao gấp hàng nghìn lần iod
trong máu [55]. Trong bệnh Basedow, do khả năng hoạt động của tuyến giáp cao, lượng máu đến tuyến giáp nhiều, các NIS hoạt động mạnh nên khả năng
hấp thụ iod của tuyến giáp tăng nên rất nhiều. Sau khi uống vào
131
I được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa 90 trong vòng 60 phút. Nhờ các NIS phát
triển mạnh trên màng tế bào tuyến giáp bị bệnh nên
131
I tập trung gần như hoàn toàn tại tuyến giáp và sẽ phát huy tác dụng tác dụng từ từ rồi được đào
thải ra ngoài chủ yếu qua thận và tái hấp thu khoảng 73 ở ống thận, thời gian bán huỷ của
131
I là 8 ngày [17]. - Tính chất vật lý và cơ chế tác dụng của tuyến giáp.
Tuyến giáp hấp thu chọn lọc iod và sự hấp thu càng mạnh khi tuyến giáp càng cường.
131
I có cùng số phận với iod tự nhiên.
131
I phát ra hai loại tia là tia 
và tia α. Tia 
của
131
I tác dụng lên tổ chức liên bào tuyến giáp làm giảm mức tưới máu cho tuyến, giảm mức sinh sản tế bào, do đó, làm tuyến giáp bé
lại. Nồng độ
131
I trong tổ chức tuyến cường năng cao gấp hàng ngàn lần so với tổ chức xung quanh và đường đi của tia
 ngắn nên chỉ tác dụng lên tuyến
mà ít ảnh hưởng đến tổ chức xung quanh [9], [10]. Tia
 chiếm 90 chỉ phóng gần ≤ 2mm, tia α chiếm 10 và phóng khá
xa, phá huỷ tuyến mạnh hơn [33].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Như vậy chủ yếu điều trị chọn lọc bằng tia 
. Thực tế khơng có nguy hiểm nào đối với các bộ phận lân cận ngay cả ở rất gần tuyến giáp như: Khí
quản, thần kinh quặt ngược, cận giáp trạng... Dùng một liều chức năng, không cần một liều quá mạnh nhằm phá huỷ
một tuyến quá sản như trong ung thư. Liều chức năng chỉ nhằm phá huỷ một số tế bào sản xuất, các tế bào chứa acid desoxyribolucleic. Tác dụng chỉ nhằm
tới sự phận chia các tế bào kế tiếp sau đó làm chết các tế bào đã biệt hoá. - Chỉ định:
+ Độ tập trung
131
I tuyến giáp phải đủ cao 30. + Có bệnh tim mạch, tâm thần, bệnh phổi nặng, không thể điều trị kéo
dài bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp hoặc phẫu thuật. + Thất bại sau điều trị nội khoa.
+ Tái phát sau điều trị phẫu thuật. - Chống chỉ định:
+ Thể bướu nhân, bướu lạc chỗ. + Bướu giáp quá to, có dấu hiệu chèn ép rõ, cần phải phẫu thuật.
+ Phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú chống chỉ định tương đối. + Có bệnh mắt nặng lồi mắt, tình trạng cường giáp nặng.
+ Tuyến giáp hấp thu Iode quá thấp. + Bạch cầu máu quá thấp hoặc quá cao 3 Gl hoặc 9 Gl.
- Liều dùng: Liều điều trị thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc xác định là khơng đơn giản có nhiều cách tính liều hiện nay chưa thống nhất
cách nào là tối ưu. + Phương pháp dùng liều cố định:
Một số tác giả cho bệnh nhân dùng liều cố định, khơng cần tính đến các yếu tố khác vì cho rằng dùng liều cố định sẽ đơn giản hơn và hiệu quả điều trị
không khác liều khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Một số tác giả dùng liều cố định có hiệu chỉnh theo các dấu hiệu lâm sàng và kinh nghiệm như: Tăng khi bướu giáp to, ĐTT
131
I thấp, giảm liều khi bệnh nhẹ...
Tính liều theo phương pháp này đơn giản dễ dàng. + Phương pháp tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1g tổ chức TG [1]:
Liều điều trị được tính theo cơng thức của Rubenfeld: D = C x WU.
Trong đó: D là tổng liều
131
I tính bằng mCi C là Ci cho 1 gam trọng lượng tuyến giáp.
W là trọng lượng tuyến giáp g. U là độ tập trung
131
I tại tuyến giáp . Thông thường liều dùng là 70 - 120 µCigam giáp trạng [33].
Tạ Văn Bình, Hồng Thuỷ Hồ, cùng Cộng sự đã đưa ra giải hoạt độ riêng từ 80-150µCig trọng lượng tuyến giáp, đó là giải hoạt độ tương đối
kinh điển và được nhiều Quốc gia sử dụng [5]. Giải hoạt độ này được tính dựa vào nồng độ T
3
của bệnh nhân.
Bảng. 1.1. Bảng tính hoạt độ riêng cho 1 gam Trọng lượng tuyến giáp dựa vào nồng độ T
3
của Bệnh nhân: Số thứ tự
Nồng độ T
3
nmoll Hoạt độ riêng
131
I µCig tuyến giáp 1
3,2-4 80
2 4,1-5
90 3
5,1-6 100
4 6,1-7
110 5
7,1-8 120
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
6 8,1-9
130 7
9,1-10 140
8 10
150
Đây là cách tính đơn giản và được nhiều người áp dụng. + Phương pháp tính liều theo liều hấp thụ Trích từ 22:
Phương pháp này dựa trên liều hấp thụ bức xạ của TG. Áp dụng công thức Qimby – Marinelli: D = D
h
x V U
24
x 90. Trong đó: D là liều
131
I điều trị µCi. D
h
là liều hấp thụ năng lượng bức xạ
131
I ở 1g tổ chức TG cGy V là thể tích tuyến giáp ml.
U
24
là độ tập trung
131
I sau 24h . 90 là hằng số dựa trên sự hấp thụ năng lượng bức xạ của TG với
thời gian bán rã hiệu dụng là 6 ngày. Tự chọn liều hấp thụ năng lượng bức xạ ở 1g tuyến giáp cGy cho phù
hợp với đối tượng bệnh nhân. Cách tính này phức tạp. Hiện nay các cơ sở điều trị y học hạt nhân ở
nước ta ít áp dụng. + Phương pháp chọn liều nhỏ 2 - 4 mCi để gây cường giáp an tồn sau
đó dùng KGTH [33]. Một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến việc tính liều là thể
tích khối lượng tuyến giáp. Có nhiều cách tính thể tích tuyến giáp như: Qua thăm khám lâm sàng
bằng sờ nắn và đánh giá qua kinh nghiệm, dựa vào xạ hình TG, dựa vào film Xquang cổ nghiêng, dựa vào siêu âm [53].
Trong thực tế hiện nay thường phối hợp siêu âm và thăm khám lâm sàng để xác định thể tích khối lượng tuyến giáp. Đây là cách làm thuận lợi và có
độ chính xác cao nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
- Biến chứng sau điều trị: + Cơn cường giáp kịch phát:
Là biến chứng nguy hiếm nhất. Xảy ra từ ngày thứ 3 đến 6 sau uống
131
I, do năng lượng bức xạ phá vỡ các nang TG làm giải phóng hormon TG ồ ạt
vào máu. Biến chứng này rất nguy hiểm. Ở Việt Nam từ khi sử dụng
131
I vào điều trị 1963 ở bệnh viện Chợ Rẫy, 1978 ở bệnh viện Bạch Mai đến nay
chưa thấy báo cáo có trường hợp nào cả người lớn và trẻ em [1] + Viêm tuyến giáp.
Thường nhẹ, xuất hiện 1 đến 3 ngày sau điều trị. + Nhược giáp.
Là biến chứng hay gặp xảy vài tháng sau điều trị, có tỷ lệ tăng lên theo thời gian, theo thống kê tỷ lệ nhược giáp sau điều trị bằng
131
I ở bệnh viện Bạch Mai là 3 sau 1 năm, 14,8 sau 10 năm [1]. Tỷ lệ nhược giáp nói
chung sau nhiều năm còn cao, nhưng có một tỷ lệ nhược giáp thoáng qua tự hồi phục. Tuy nhiên biến chứng này có thể dễ dàng kiểm soát bằng hormon
giáp trạng thay thế [1], [7].
+ Đột biến về di truyền và ung thư: Quan điểm hiện nay, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, thì điều trị
Basedow bằng
131
I cho cả trẻ em và thanh niên đều có kết quả tốt, khơng có bằng chứng nào cho thấy những hậu quả di truyền với những bệnh nhân này [1].
Holm và CS đã công bố tỷ lệ mắc ung thư sau điều trị
131
I với không điều trị
131
I ở BN Basedow là khơng có sự khác biệt đáng kể [7]. - Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị:
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới kết quả điều trị, có những yếu tố xác định và tiên đoán được, nhưng cũng nhiều yếu tố rất khó xác định và còn
nhiều tranh luận. Một số yếu tố sau đây được chứng minh là ảnh hưởng tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
kết quả điều trị, tuy nhiên trong phạm vi nào đó tuỳ thuộc vào từng yếu tố và từng cơ thể người bệnh.
Liều
131
I điều trị: Dùng liều thấp tỷ lệ NG giảm hơn song tỷ lệ còn CG và tái phát tăng lên,
phải điều trị nhiều lần và ngược lại liều cao tăng tỷ lệ khỏi bệnh song tỷ lệ NG cao lên [47], [55], [59].
Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng liều khơng ảnh hưởng hồn tồn đến kết quả điều trị. Ngày nay quan niệm về liều điều trị là khơng có sự thống nhất
giữa nhiều tác giả. + Bướu giáp: Bệnh nhân có bướu giáp tương đối lớn 40g -60g hoặc lớn
60g có tỷ lệ lâu khỏi, tái phát cao hơn [46], nhất là bướu giáp trên 80g [50]. + Độ tập trung
131
I tại tuyến giáp trước điều trị: De Bruin T 1994 thấy rằng: NG hay xảy ra ở những trường hợp có
ĐTT
131
I sau 24h thấp hơn 60 và tỷ lệ chậm khỏi hay tái phát cao hơn ở những trường hợp có ĐTT
131
I sau 24h cao hơn 80 [52]. + Tuổi trong thời gian xạ trị:
Trẻ ở giai đoạn tiền dậy thì thường có kết quả điều trị kém hơn ở giai đoạn dậy thì [61], [63].
+ Đã điều trị bằng phương pháp khác. Bệnh nhân đã điều trị nội khoa dai dẳng không khỏi, hay tái phát sau
điều trị, xu hướng khỏi bệnh thấp hơn [52].

1.7.2. Điều trị nội khoa


- Thuốc kháng giáp trạng tổng hợp + Chỉ định:
Bướu to vừa, lan tỏa, khơng có nhân. Bệnh nhân có thể điều trị lâu dài, dưới sự theo dõi thường xuyên.
Trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú nhóm Thiouracil được lựa chọn nhiều hơn nhóm Imidazol .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Bệnh nhân chuẩn bị điều trị Iod phóng xạ hoặc phẫu thuật. Bệnh nhân khơng có điều kiện phẫu thuật, điều trị Iod phóng xạ hoặc
điều trị phẫu thuật, Iod phóng xạ thất bại. Các thuốc kháng giáp trạng đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh
Basedow là Methimazole và Propylthiouracil của gốc thionamide. Hiện nay, các thuốc kháng giáp trạng tổng hợp gồm hai nhóm:
Nhóm Thiouracil: Propylthiouracil, Methythiouracil, Benzylthyouracil ... Nhóm Imidazol: Methimazol, Neomercazol, Metizol, Carbimazol...
+ Tác dụng của thuốc KGTH: Tác dụng tại tuyến:
Ức chế quy nạp Iod vô cơ từ máu vào mô tuyến giáp. Ức chế tạo Iod hữu cơ từ Iod vô cơ.
Ức chế kết hợp Iod hữu cơ với Tyrosin để tạo thành MIT, DIT. Ức chế sinh tổng hợp các phân tử Thyroglobulin hoặc làm biến đổi cấu
trúc Thyroglobulin. Tác dụng ngoài tuyến giáp.
Nhóm Thiouracil có tác dụng ức chế việc chuyển T
4
thành T
3
. Do đó, PTU thường được sử dụng nhiều hơn khi phải nhanh chóng làm giảm tình
trạng nhiễm độc giáp nặng: cơn bão giáp. Liều dùng [57].
PTU dạng viên: 50 mg: 150-400 mg ngày, chia 2 - 3 lần trong ngày. MMI dạng viên: 5 mg, 10 mg: 30-60 mg ngày, uống 1 - 2 lầnngày.
Với những bệnh nhân cường giáp nặng, liều có thể lên đến: PTU 600- 900 mg ngày, MMI 120 mg ngày. Ở trẻ em, liều dựa vào cân nặng, phụ nữ
mang thai sau 3 tháng, liều giảm một nửa. Theo dõi, đánh giá: Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được theo
dõi tác dụng phụ của thuốc ở dưới, nồng độ hormon tuyến giáp 4 - 6 tuần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
một lần và khi thay đổi liều lượng thuốc. Khi đã đạt tình trạng bình giáp, hormon tuyến giáp cần được theo dõi 3 - 6 thánglần.
Bình giáp: áp dụng đánh giá với cả ba phương pháp điều trị: Nhịp tim về bình thường.
Lên cân hoặc trở lại cân trước khi bị bệnh. Hết hồn tồn rối loạn tiêu hố, chuyển hố cơ sở trở về bình thường.
Iod kết hợp Protein trong máu trở lại bình thường. Nồng độ T
3
, T
4
, TSH trong máu trở lại bình thường. Tác dụng khơng mong muốn của thuốc [12]:
- Phản ứng quá mẫn gây độc. + Nhẹ: rối loạn tiêu hoá, phát ban, sốt, đau khớp, vàng da tắc mật.
+ Nặng: Lupus, hội chứng Lyell, đau nhiều khớp, hội chứng thận hư. - Tác dụng trên tủy xương: Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, giảm hồng
cầu, có thể bất sản tuỷ xương. Giảm bạch cầu hạt là phản ứng phụ nặng nhất. Chỉ dừng thuốc khi bệnh nhân có ngứa, nổi mày đay, xét nghiệm bạch
cầu hạt giảm dưới 2 Gl hoặc men gan tăng gấp 3 lần. - Suy giáp: Cần giảm liều KGTH và bổ sung hormon tuyến giáp
Thyroxin 50 - 100 
gngày. -. Thuốc chẹn

giao cảm [50]. Thuốc chẹn
 giao cảm làm giảm được các triệu chứng của cường giáp
mà nguyên nhân là do tăng hoạt động và số lượng 
giao cảm: hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, run tay, hưng phấn, kích thích và giảm thích ứng
với nhiệt độ. Do đó, nhanh chóng làm giảm hoặc hết tình trạng nhiễm độc giáp. Tuy nhiên, thuốc chẹn
 giao cảm cũng không làm hết được những rối
loạn chuyển hóa đạm, mỡ do tình trạng tăng hormon giáp trong máu, khơng có tác dụng với các triệu chứng của mắt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Cơ chế tác dụng: Thông qua tác dụng trên 
adrenergic receptor, các thuốc này ức chế quá trình biến đổi từ T
4
thành T
3
mà chủ yếu chuyển T
4
thành T
3
ngược Reverse T
3
là thể hormon giáp không hoạt động. + Các thuốc và liều dùng:
Propranolol: liều 40 - 80 mg, có trường hợp 120 - 180 mgngày. Atenolol: 25 - 50 mgngày, có thể dùng đến 200 mgngày trong trường
hợp bão giáp, điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ. + Chống chỉ định: bệnh nhân đang có suy tim nặng, có rối loạn dẫn
truyền trong tim, hen phế quản. - Nhóm thuốc ức chế gắn Iod vào tuyến giáp:
Gồm Thiocyanat và Perchlorat, hiệu quả phụ thuộc mức độ thu nhập Iod của từng bệnh nhân. Nếu nồng độ Iod vô cơ trong huyết tương tăng lên đến
một mức đủ lớn, Iod có thể sẽ đi vào tuyến giáp bằng khuếch tán đơn thuần gây tái lập tốc độ tổng hợp hormon quá mức.
Phản ứng phụ: thiếu máu bất sản không hồi phục. Hiện nay không dùng thuốc này.
- Iod lugol: Tăng Iod trong máu dẫn tới giảm tác dụng của TSH trên AMP vòng, do đó, ức chế tổng hợp và giảm giải phóng thyroxin.
Chỉ định: trước khi điều trị phẫu thuật và khi có cơn cường giáp cấp. - Thuốc ức chế miễn dịch:
Nhiều nghiên cứu cho thấy kết hợp điều trị thuốc ức chế miễn dịch với KGTH sẽ thu được kết quả tốt [37].

1.7.3. Điều trị ngoại khoa


- Nguyên tắc: Cắt bỏ bán phần thuỳ giáp, chỉ để lại một mẩu nhỏ tổ chức cùng với động mạch giáp dưới, có thể cắt bỏ một thuỳ hoặc chỉ bóc lấy nhân.
- Chỉ định: + Bướu giáp nhân
+ Bướu giáp to gây mất thẩm mỹ hoặc chèn ép cơ quan lân cận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Điều trị nội khoa thất bại + Tai biến khi điều trị nội: giảm bạch cầu
+ Người bệnh khơng có điều kiện điều trị nội khoa - Chống chỉ định:
+ Bệnh nặng, có những biến chứng đặc biệt trong hệ tim mạch + Chống chỉ định của ngoại khoa nói chung: bệnh nhiễm trùng cấp tính,
bệnh máu. - Biến chứng: Suy chức năng tuyến giáp chiếm tỷ lệ khá cao 50-60,
nếu cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp [49]. Cơn nhiễm độc giáp kịch phát. Liệt thần kinh quặt ngược. Cắt phải tuyến cận giáp. Những biến chứng phụ thuộc phần
lớn vào kỹ năng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên [54], [60].

1.8. Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh Basedow bằng


131
I Trên thế giới điều trị bệnh Basedow bằng
131
I đã được áp dụng từ năm 1946, đến nay phương pháp này ngày càng được áp dụng và phổ biến rộng
rãi, đặc biệt là các nước phát triển như châu Âu, Mỹ đã cho thấy hiệu quả rất khả quan của phương pháp điều trị này.
Ở Việt Nam phương pháp này đã được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1963 ở bệnh viện Chợ Rẫy và 1978 ở bệnh viện Bạch Mai. Đến nay đã có
những cơng trình nghiên như của: Phan Sỹ An, Mai Trọng Khoa, Hoàng Đức Dũng, Phan Văn Duyệt... bước đầu đã cho thấy kết quả có tính ưu việt của
131
I, nhưng chưa đủ để đánh giá hết được những ưu nhược điểm của phương pháp điều trị này. Vì thế cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa, tiếp tục theo
rõi, rút kinh nghiệm từ thực tiễn, là điều rất cần thiết. Điều đó giúp chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn về vấn đề này, góp phần
vào sự phát triển, đi lên của ngành Y tế nước nhà.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Chƣơng 2 §èi t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu

2.1. i tng nghiờn cu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chẩn đốn - Chẩn đốn xác định Tình hình nghiên cứu điều trị bệnh Basedow bằng

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×