Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
Điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa

Tải bản đầy đủ - 78trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
kết quả điều trị, tuy nhiên trong phạm vi nào đó tuỳ thuộc vào từng yếu tố và từng cơ thể người bệnh.
Liều
131
I điều trị: Dùng liều thấp tỷ lệ NG giảm hơn song tỷ lệ còn CG và tái phát tăng lên,
phải điều trị nhiều lần và ngược lại liều cao tăng tỷ lệ khỏi bệnh song tỷ lệ NG cao lên [47], [55], [59].
Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng liều không ảnh hưởng hoàn toàn đến kết quả điều trị. Ngày nay quan niệm về liều điều trị là khơng có sự thống nhất
giữa nhiều tác giả. + Bướu giáp: Bệnh nhân có bướu giáp tương đối lớn 40g -60g hoặc lớn
60g có tỷ lệ lâu khỏi, tái phát cao hơn [46], nhất là bướu giáp trên 80g [50]. + Độ tập trung
131
I tại tuyến giáp trước điều trị: De Bruin T 1994 thấy rằng: NG hay xảy ra ở những trường hợp có
ĐTT
131
I sau 24h thấp hơn 60 và tỷ lệ chậm khỏi hay tái phát cao hơn ở những trường hợp có ĐTT
131
I sau 24h cao hơn 80 [52]. + Tuổi trong thời gian xạ trị:
Trẻ ở giai đoạn tiền dậy thì thường có kết quả điều trị kém hơn ở giai đoạn dậy thì [61], [63].
+ Đã điều trị bằng phương pháp khác. Bệnh nhân đã điều trị nội khoa dai dẳng không khỏi, hay tái phát sau
điều trị, xu hướng khỏi bệnh thấp hơn [52].

1.7.2. Điều trị nội khoa


- Thuốc kháng giáp trạng tổng hợp + Chỉ định:
Bướu to vừa, lan tỏa, khơng có nhân. Bệnh nhân có thể điều trị lâu dài, dưới sự theo dõi thường xuyên.
Trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú nhóm Thiouracil được lựa chọn nhiều hơn nhóm Imidazol .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Bệnh nhân chuẩn bị điều trị Iod phóng xạ hoặc phẫu thuật. Bệnh nhân khơng có điều kiện phẫu thuật, điều trị Iod phóng xạ hoặc
điều trị phẫu thuật, Iod phóng xạ thất bại. Các thuốc kháng giáp trạng đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh
Basedow là Methimazole và Propylthiouracil của gốc thionamide. Hiện nay, các thuốc kháng giáp trạng tổng hợp gồm hai nhóm:
Nhóm Thiouracil: Propylthiouracil, Methythiouracil, Benzylthyouracil ... Nhóm Imidazol: Methimazol, Neomercazol, Metizol, Carbimazol...
+ Tác dụng của thuốc KGTH: Tác dụng tại tuyến:
Ức chế quy nạp Iod vô cơ từ máu vào mô tuyến giáp. Ức chế tạo Iod hữu cơ từ Iod vô cơ.
Ức chế kết hợp Iod hữu cơ với Tyrosin để tạo thành MIT, DIT. Ức chế sinh tổng hợp các phân tử Thyroglobulin hoặc làm biến đổi cấu
trúc Thyroglobulin. Tác dụng ngoài tuyến giáp.
Nhóm Thiouracil có tác dụng ức chế việc chuyển T
4
thành T
3
. Do đó, PTU thường được sử dụng nhiều hơn khi phải nhanh chóng làm giảm tình
trạng nhiễm độc giáp nặng: cơn bão giáp. Liều dùng [57].
PTU dạng viên: 50 mg: 150-400 mg ngày, chia 2 - 3 lần trong ngày. MMI dạng viên: 5 mg, 10 mg: 30-60 mg ngày, uống 1 - 2 lầnngày.
Với những bệnh nhân cường giáp nặng, liều có thể lên đến: PTU 600- 900 mg ngày, MMI 120 mg ngày. Ở trẻ em, liều dựa vào cân nặng, phụ nữ
mang thai sau 3 tháng, liều giảm một nửa. Theo dõi, đánh giá: Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được theo
dõi tác dụng phụ của thuốc ở dưới, nồng độ hormon tuyến giáp 4 - 6 tuần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
một lần và khi thay đổi liều lượng thuốc. Khi đã đạt tình trạng bình giáp, hormon tuyến giáp cần được theo dõi 3 - 6 thánglần.
Bình giáp: áp dụng đánh giá với cả ba phương pháp điều trị: Nhịp tim về bình thường.
Lên cân hoặc trở lại cân trước khi bị bệnh. Hết hồn tồn rối loạn tiêu hố, chuyển hố cơ sở trở về bình thường.
Iod kết hợp Protein trong máu trở lại bình thường. Nồng độ T
3
, T
4
, TSH trong máu trở lại bình thường. Tác dụng khơng mong muốn của thuốc [12]:
- Phản ứng quá mẫn gây độc. + Nhẹ: rối loạn tiêu hoá, phát ban, sốt, đau khớp, vàng da tắc mật.
+ Nặng: Lupus, hội chứng Lyell, đau nhiều khớp, hội chứng thận hư. - Tác dụng trên tủy xương: Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, giảm hồng
cầu, có thể bất sản tuỷ xương. Giảm bạch cầu hạt là phản ứng phụ nặng nhất. Chỉ dừng thuốc khi bệnh nhân có ngứa, nổi mày đay, xét nghiệm bạch
cầu hạt giảm dưới 2 Gl hoặc men gan tăng gấp 3 lần. - Suy giáp: Cần giảm liều KGTH và bổ sung hormon tuyến giáp
Thyroxin 50 - 100 
gngày. -. Thuốc chẹn

giao cảm [50]. Thuốc chẹn
 giao cảm làm giảm được các triệu chứng của cường giáp
mà nguyên nhân là do tăng hoạt động và số lượng 
giao cảm: hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, run tay, hưng phấn, kích thích và giảm thích ứng
với nhiệt độ. Do đó, nhanh chóng làm giảm hoặc hết tình trạng nhiễm độc giáp. Tuy nhiên, thuốc chẹn
 giao cảm cũng không làm hết được những rối
loạn chuyển hóa đạm, mỡ do tình trạng tăng hormon giáp trong máu, khơng có tác dụng với các triệu chứng của mắt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Cơ chế tác dụng: Thông qua tác dụng trên 
adrenergic receptor, các thuốc này ức chế quá trình biến đổi từ T
4
thành T
3
mà chủ yếu chuyển T
4
thành T
3
ngược Reverse T
3
là thể hormon giáp không hoạt động. + Các thuốc và liều dùng:
Propranolol: liều 40 - 80 mg, có trường hợp 120 - 180 mgngày. Atenolol: 25 - 50 mgngày, có thể dùng đến 200 mgngày trong trường
hợp bão giáp, điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ. + Chống chỉ định: bệnh nhân đang có suy tim nặng, có rối loạn dẫn
truyền trong tim, hen phế quản. - Nhóm thuốc ức chế gắn Iod vào tuyến giáp:
Gồm Thiocyanat và Perchlorat, hiệu quả phụ thuộc mức độ thu nhập Iod của từng bệnh nhân. Nếu nồng độ Iod vô cơ trong huyết tương tăng lên đến
một mức đủ lớn, Iod có thể sẽ đi vào tuyến giáp bằng khuếch tán đơn thuần gây tái lập tốc độ tổng hợp hormon quá mức.
Phản ứng phụ: thiếu máu bất sản không hồi phục. Hiện nay không dùng thuốc này.
- Iod lugol: Tăng Iod trong máu dẫn tới giảm tác dụng của TSH trên AMP vòng, do đó, ức chế tổng hợp và giảm giải phóng thyroxin.
Chỉ định: trước khi điều trị phẫu thuật và khi có cơn cường giáp cấp. - Thuốc ức chế miễn dịch:
Nhiều nghiên cứu cho thấy kết hợp điều trị thuốc ức chế miễn dịch với KGTH sẽ thu được kết quả tốt [37].

1.7.3. Điều trị ngoại khoa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều trị nội khoa

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×