Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
Điều trị bằng Iod phóng xạ

Điều trị bằng Iod phóng xạ

Tải bản đầy đủ - 78trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Điều trị bằng Iod phóng xạ. + Phẫu thuật tuyến giáp.
Sự lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc nhiều yếu tố [56]. + Đặc điểm, tính chất của bướu giáp.
+ Thể trạng cụ thể từng bệnh nhân VD: phụ nữ có thai, người lớn tuổi. + Kinh nghiệm của bản thân thầy thuốc.
+ Điều kiện của cơ sở y tế. Nhiễm độc giáp trạng trong bệnh Basedow là do tăng tốc độ tổng hợp và
giải phóng hormon tuyến giáp tăng bất thường, khơng kìm hãm được nên cả ba phương pháp điều trị đều dựa trên hiệu quả kìm hãm tốc độ chế tiết
hormon giáp. Hiệu quả này được thực hiện nhờ những hố chất có tác dụng: Ức chế một hoặc nhiều giai đoạn của quá trình tổng hợp hormon.
Ức chế giải phóng hormon. Làm giảm khối lượng mơ tuyến giáp.

1.7.1. Điều trị bằng Iod phóng xạ


Ở nước ta phương pháp điều trị Basedow bằng
131
I có xu hướng tăng nhanh, và được các cơ sở y học hạt nhân trong nước có đủ điều kiện sử dụng.
Tuy nhiên, chỉ định xạ trị Basedow ở Việt Nam có phần ít rộng rãi hơn cũng như chủ trương dùng liều
131
I thấp hơn, để phù hợp với sinh lý người Việt Nam [33], và để giảm thiểu số bệnh nhân bị suy giáp sau điều trị [9]. Đến nay
quan điểm này đã căn bản thay đổi,
13I
I được chỉ định rộng rãi hơn do tính hiệu quả, kinh tế của phương pháp điều trị này. Đã có những cơng trình
nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu kết quả điều trị bệnh Basedow bằng
131
I, sẽ giúp chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn.
- Nguyên lý: Hevesy G. V đã nêu lên một tiên đề: “Cơ thể sinh vật không phân biệt
được đồng vị phóng xạ của cùng một ngun tố” trích từ 22. Có nghĩa đồng vị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
phóng xạ của cùng một nguyên tố có chung số phận chuyển hóa trong cơ thể sinh vật.
Khi vào cơ thể iod được hấp thu vào máu rồi theo tuần hoàn đến Tuyến giáp. TG có khả năng bắt iod theo cơ chế ngược gradient nồng độ để tổng hợp
các hormon giáp. Khả năng bắt iod của TG phụ thuộc vào nồng độ iod trong TG và sự có mặt của NIS sodium iodide symporter. NIS có bản chất là
protein, có ở màng tế bào biểu mơ TG. NIS có vai trò vận chuyển tích cực Na
+
và I
-
từ dịch gian bào vào trong tế bào TG. Tùy theo tình trạng chức năng tuyến giáp mà nồng độ iod tại tuyến giáp có thể cao gấp hàng nghìn lần iod
trong máu [55]. Trong bệnh Basedow, do khả năng hoạt động của tuyến giáp cao, lượng máu đến tuyến giáp nhiều, các NIS hoạt động mạnh nên khả năng
hấp thụ iod của tuyến giáp tăng nên rất nhiều. Sau khi uống vào
131
I được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa 90 trong vòng 60 phút. Nhờ các NIS phát
triển mạnh trên màng tế bào tuyến giáp bị bệnh nên
131
I tập trung gần như hoàn toàn tại tuyến giáp và sẽ phát huy tác dụng tác dụng từ từ rồi được đào
thải ra ngoài chủ yếu qua thận và tái hấp thu khoảng 73 ở ống thận, thời gian bán huỷ của
131
I là 8 ngày [17]. - Tính chất vật lý và cơ chế tác dụng của tuyến giáp.
Tuyến giáp hấp thu chọn lọc iod và sự hấp thu càng mạnh khi tuyến giáp càng cường.
131
I có cùng số phận với iod tự nhiên.
131
I phát ra hai loại tia là tia 
và tia α. Tia 
của
131
I tác dụng lên tổ chức liên bào tuyến giáp làm giảm mức tưới máu cho tuyến, giảm mức sinh sản tế bào, do đó, làm tuyến giáp bé
lại. Nồng độ
131
I trong tổ chức tuyến cường năng cao gấp hàng ngàn lần so với tổ chức xung quanh và đường đi của tia
 ngắn nên chỉ tác dụng lên tuyến
mà ít ảnh hưởng đến tổ chức xung quanh [9], [10]. Tia
 chiếm 90 chỉ phóng gần ≤ 2mm, tia α chiếm 10 và phóng khá
xa, phá huỷ tuyến mạnh hơn [33].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Như vậy chủ yếu điều trị chọn lọc bằng tia 
. Thực tế khơng có nguy hiểm nào đối với các bộ phận lân cận ngay cả ở rất gần tuyến giáp như: Khí
quản, thần kinh quặt ngược, cận giáp trạng... Dùng một liều chức năng, không cần một liều quá mạnh nhằm phá huỷ
một tuyến quá sản như trong ung thư. Liều chức năng chỉ nhằm phá huỷ một số tế bào sản xuất, các tế bào chứa acid desoxyribolucleic. Tác dụng chỉ nhằm
tới sự phận chia các tế bào kế tiếp sau đó làm chết các tế bào đã biệt hoá. - Chỉ định:
+ Độ tập trung
131
I tuyến giáp phải đủ cao 30. + Có bệnh tim mạch, tâm thần, bệnh phổi nặng, không thể điều trị kéo
dài bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp hoặc phẫu thuật. + Thất bại sau điều trị nội khoa.
+ Tái phát sau điều trị phẫu thuật. - Chống chỉ định:
+ Thể bướu nhân, bướu lạc chỗ. + Bướu giáp quá to, có dấu hiệu chèn ép rõ, cần phải phẫu thuật.
+ Phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú chống chỉ định tương đối. + Có bệnh mắt nặng lồi mắt, tình trạng cường giáp nặng.
+ Tuyến giáp hấp thu Iode quá thấp. + Bạch cầu máu quá thấp hoặc quá cao 3 Gl hoặc 9 Gl.
- Liều dùng: Liều điều trị thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc xác định là khơng đơn giản có nhiều cách tính liều hiện nay chưa thống nhất
cách nào là tối ưu. + Phương pháp dùng liều cố định:
Một số tác giả cho bệnh nhân dùng liều cố định, không cần tính đến các yếu tố khác vì cho rằng dùng liều cố định sẽ đơn giản hơn và hiệu quả điều trị
khơng khác liều khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
Một số tác giả dùng liều cố định có hiệu chỉnh theo các dấu hiệu lâm sàng và kinh nghiệm như: Tăng khi bướu giáp to, ĐTT
131
I thấp, giảm liều khi bệnh nhẹ...
Tính liều theo phương pháp này đơn giản dễ dàng. + Phương pháp tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1g tổ chức TG [1]:
Liều điều trị được tính theo cơng thức của Rubenfeld: D = C x WU.
Trong đó: D là tổng liều
131
I tính bằng mCi C là Ci cho 1 gam trọng lượng tuyến giáp.
W là trọng lượng tuyến giáp g. U là độ tập trung
131
I tại tuyến giáp . Thơng thường liều dùng là 70 - 120 µCigam giáp trạng [33].
Tạ Văn Bình, Hồng Thuỷ Hồ, cùng Cộng sự đã đưa ra giải hoạt độ riêng từ 80-150µCig trọng lượng tuyến giáp, đó là giải hoạt độ tương đối
kinh điển và được nhiều Quốc gia sử dụng [5]. Giải hoạt độ này được tính dựa vào nồng độ T
3
của bệnh nhân.
Bảng. 1.1. Bảng tính hoạt độ riêng cho 1 gam Trọng lượng tuyến giáp dựa vào nồng độ T
3
của Bệnh nhân: Số thứ tự
Nồng độ T
3
nmoll Hoạt độ riêng
131
I µCig tuyến giáp 1
3,2-4 80
2 4,1-5
90 3
5,1-6 100
4 6,1-7
110 5
7,1-8 120
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
6 8,1-9
130 7
9,1-10 140
8 10
150
Đây là cách tính đơn giản và được nhiều người áp dụng. + Phương pháp tính liều theo liều hấp thụ Trích từ 22:
Phương pháp này dựa trên liều hấp thụ bức xạ của TG. Áp dụng công thức Qimby – Marinelli: D = D
h
x V U
24
x 90. Trong đó: D là liều
131
I điều trị µCi. D
h
là liều hấp thụ năng lượng bức xạ
131
I ở 1g tổ chức TG cGy V là thể tích tuyến giáp ml.
U
24
là độ tập trung
131
I sau 24h . 90 là hằng số dựa trên sự hấp thụ năng lượng bức xạ của TG với
thời gian bán rã hiệu dụng là 6 ngày. Tự chọn liều hấp thụ năng lượng bức xạ ở 1g tuyến giáp cGy cho phù
hợp với đối tượng bệnh nhân. Cách tính này phức tạp. Hiện nay các cơ sở điều trị y học hạt nhân ở
nước ta ít áp dụng. + Phương pháp chọn liều nhỏ 2 - 4 mCi để gây cường giáp an tồn sau
đó dùng KGTH [33]. Một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến việc tính liều là thể
tích khối lượng tuyến giáp. Có nhiều cách tính thể tích tuyến giáp như: Qua thăm khám lâm sàng
bằng sờ nắn và đánh giá qua kinh nghiệm, dựa vào xạ hình TG, dựa vào film Xquang cổ nghiêng, dựa vào siêu âm [53].
Trong thực tế hiện nay thường phối hợp siêu âm và thăm khám lâm sàng để xác định thể tích khối lượng tuyến giáp. Đây là cách làm thuận lợi và có
độ chính xác cao nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
- Biến chứng sau điều trị: + Cơn cường giáp kịch phát:
Là biến chứng nguy hiếm nhất. Xảy ra từ ngày thứ 3 đến 6 sau uống
131
I, do năng lượng bức xạ phá vỡ các nang TG làm giải phóng hormon TG ồ ạt
vào máu. Biến chứng này rất nguy hiểm. Ở Việt Nam từ khi sử dụng
131
I vào điều trị 1963 ở bệnh viện Chợ Rẫy, 1978 ở bệnh viện Bạch Mai đến nay
chưa thấy báo cáo có trường hợp nào cả người lớn và trẻ em [1] + Viêm tuyến giáp.
Thường nhẹ, xuất hiện 1 đến 3 ngày sau điều trị. + Nhược giáp.
Là biến chứng hay gặp xảy vài tháng sau điều trị, có tỷ lệ tăng lên theo thời gian, theo thống kê tỷ lệ nhược giáp sau điều trị bằng
131
I ở bệnh viện Bạch Mai là 3 sau 1 năm, 14,8 sau 10 năm [1]. Tỷ lệ nhược giáp nói
chung sau nhiều năm còn cao, nhưng có một tỷ lệ nhược giáp thoáng qua tự hồi phục. Tuy nhiên biến chứng này có thể dễ dàng kiểm soát bằng hormon
giáp trạng thay thế [1], [7].
+ Đột biến về di truyền và ung thư: Quan điểm hiện nay, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, thì điều trị
Basedow bằng
131
I cho cả trẻ em và thanh niên đều có kết quả tốt, khơng có bằng chứng nào cho thấy những hậu quả di truyền với những bệnh nhân này [1].
Holm và CS đã công bố tỷ lệ mắc ung thư sau điều trị
131
I với không điều trị
131
I ở BN Basedow là khơng có sự khác biệt đáng kể [7]. - Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị:
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới kết quả điều trị, có những yếu tố xác định và tiên đốn được, nhưng cũng nhiều yếu tố rất khó xác định và còn
nhiều tranh luận. Một số yếu tố sau đây được chứng minh là ảnh hưởng tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.Lrc-tnu.edu.vn
kết quả điều trị, tuy nhiên trong phạm vi nào đó tuỳ thuộc vào từng yếu tố và từng cơ thể người bệnh.
Liều
131
I điều trị: Dùng liều thấp tỷ lệ NG giảm hơn song tỷ lệ còn CG và tái phát tăng lên,
phải điều trị nhiều lần và ngược lại liều cao tăng tỷ lệ khỏi bệnh song tỷ lệ NG cao lên [47], [55], [59].
Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng liều khơng ảnh hưởng hồn tồn đến kết quả điều trị. Ngày nay quan niệm về liều điều trị là khơng có sự thống nhất
giữa nhiều tác giả. + Bướu giáp: Bệnh nhân có bướu giáp tương đối lớn 40g -60g hoặc lớn
60g có tỷ lệ lâu khỏi, tái phát cao hơn [46], nhất là bướu giáp trên 80g [50]. + Độ tập trung
131
I tại tuyến giáp trước điều trị: De Bruin T 1994 thấy rằng: NG hay xảy ra ở những trường hợp có
ĐTT
131
I sau 24h thấp hơn 60 và tỷ lệ chậm khỏi hay tái phát cao hơn ở những trường hợp có ĐTT
131
I sau 24h cao hơn 80 [52]. + Tuổi trong thời gian xạ trị:
Trẻ ở giai đoạn tiền dậy thì thường có kết quả điều trị kém hơn ở giai đoạn dậy thì [61], [63].
+ Đã điều trị bằng phương pháp khác. Bệnh nhân đã điều trị nội khoa dai dẳng không khỏi, hay tái phát sau
điều trị, xu hướng khỏi bệnh thấp hơn [52].

1.7.2. Điều trị nội khoa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều trị bằng Iod phóng xạ

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×