Tải bản đầy đủ - 212 (trang)
3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 212trang

179



lên hàng đầu. Việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý nói chung

và hệ thống hành lang pháp lý về hoạt động ngân hàng nói riêng là cần thiết

và cấp bách, đặc biệt là các văn bản về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, về mua

bán nợ, về phát mại,…Việc hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm xây dựng hệ

thống NHTM lành mạnh, minh bạch, vận hành theo cơ chế thị trường có sự

kiểm soát hợp lý của Chính phủ. Muốn vậy, cần quy định rõ chức năng,

nhiệm vụ của từng loại hình NHTM, đầu tư, chính sách, phát triển để tránh

những đặc điểm riêng có của loại hình ngân hàng này trở thành lợi thế cạnh

tranh không công bằng với loại hình NH khác. Trong thực hiện Luật bảo hiểm

tiền gửi, cần nghiên cứu đề suất Quốc hội tiếp tục nâng mức bảo hiểm tiền gửi

của khách hàng tại các NH. Bởi lẽ,việc nâng mức tiền gửi được bảo hiểm làm

cho người gửi tiền yên tâm hơn với tình trạng rút tiền hàng loạt. Điều này sẽ

giúp các NHTM ổn định được nguồn tiền gửi, nhất là khi xảy ra tình trạng

căng thẳng thanh khoản.

Xây dựng một NHTW độc lập và đủ mạnh: nâng cao vị thế và tính độc

lập của NHNN với Chính phủ. Có như vậy NHNN mới có thể đưa ra các

quyết định điều hành chính sách tiền tệ một cách nhanh chóng, nhằm tác động

đến nền kinh tế một cách kịp thời và mang lại hiệu quả cao. NHNN được

nâng lên mức “Độc lập trong việc sử dụng các công cụ điều hành”nhưng vẫn

phục vụ cho các mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra, điều này có thể sẽ

dung hòa các mối quan hệ. Về lâu dài thì hệ thống tài chính – tiền tệ vẫn

hướng theo con đường phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, nhưng

trong từng giai đoạn ngắn hạn thì NHNN vẫn có thể có những quyết định tức

thời và mạnh dạn để bảo đảm thị trường tài chính có thể quay về điểm cân

bằng nhanh chóng, ít thiệt hại trước những biến cố xảy ra.

Tiếp tục thực hiện chặc chẽ, có hiệu quả đề án tái cơ cấu hệ thống ngân

hàng Việt Nam theo mục tiêu đề ra. Chính phủ cần kiên quyết xử lý các

NHTM yếu kém, khôi phục năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng giúp



180



thúc đẩy nền kinh tế nhanh hồi phục.

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước

3.3.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý

Trong thời gian qua, NHNN đã có những thành công quan trọng trong

việc tạo hành lang pháp lý đối với công tác quản trị rủi ro trong hoạt động

kinh doanh của các NHTM, như Thông tư 02/2013/TT-NHNN, Thông tư liên

tịch số 16/2013/NHNN-BTP, BTNMT, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN

“Quy đinh

̣ về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoa ̣t động của tổ chức tín

du ̣ng”ban hành ngày 20/11/2014 và các thông tư sửa đổ i liên quan; Một loạt

Thông tư khác về sở hữu chéo, về tỷ lệ an toàn của NHTM,…Tuy nhiên vẫn

còn một số tồn tại bất cập trong việc triển khai thực hiện quyết định này cũng

như còn những vướng mắc trong việc tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc

tế. Trong khi cả thế giới đang bắ t đầ u thực hiện theo lộ trình những tiêu chuẩ n

mới của Basel III thì Việt Nam vẫn đang còn cách rấ t xa việc áp du ̣ng các tiêu

chuẩ n của Basel II. Do vậy NHNN cần tiếp tục có những hướng dẫn, hỗ trợ

về xây dựng phương pháp luận, các giới hạn quy định thực hiện theo thông lệ

phù hợp với đặc điểm của các NHTM Việt Nam một cách đồng bộ cùng với

việc ban hành áp dụng các quy định trong quản lý. Phối hợp với các Bộ,

ngành hoàn thiện hệ thống kế toán theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS).

Xây dựng các giải pháp chính sách để hoàn thiện phương pháp kiểm soát và

kiểm toán nội bộ trong các TCTD và tiến tới theo các chuẩn mực quốc tế.

3.3.2.2 Điều hành linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ

Việc điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và phát

triển các hoạt động của thị trường tiền tệ một cách có hiệu quả luôn là nhân tố

tích cực cho công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

NHNN cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá đồng nội tệ,

tăng trưởng kinh tế, đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng an toàn, bền

vững, sử dụng công cụ lãi suất chủ đạo để định hướng và điều tiết lãi suất thị



181



trường theo mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Để thực hiện được mục

tiêu này, cần chú ý đến các giải pháp sau:

Việc hoạch định, điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ cần phải

tuân theo nguyên tắc thị trường nhằm đạt được mục tiêu ổn định tiền tệ, kiềm

chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách có hiệu quả. NHNN cần

nâng cao khả năng dự báo kinh tế vĩ mô và tiền tệ, công khai hóa các mục tiêu

chính sách tiền tệ trong ngắn hạn và trung dài hạn, làm tốt công tác tuyên

truyền khi có những thay đổi trong chính sách tiền tệ.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ

theo hướng: Đối với nghiệp vụ thị trường mở, thì cần được hoàn thiện và sử

dụng như một công cụ chủ đạo trong việc điều tiết tiền tệ của NHNN Việt

Nam theo hướng tăng số lượng các phiên giao dịch, mở rộng và loại giấy tờ

có giá được thực hiện giao dịch, đa dạng hóa kỳ hạn giao dịch và khối lượng

giao dịch. Công cụ dự trữ bắt buộc cần tiếp tục mở rộng đối tượng tiền gửi

phải tính dự trữ bắt buộc có thể theo hướng cho phép các TCTD được thực

hiện một phần dự trữ bắt buộc bằng các giấy tờ có giá thay vì bằng tiền gửi tại

NHNN như hiện nay. Đối với công cụ tái cấp vốn hoàn thiện theo hướng

NHNN là người cho vay cuối cùng. Bên cạnh đó NHNN cũng cần tiếp tục

nghiên cứu gắn việc tự do hóa lãi suất với tự do tỷ giá hối đoái để lãi suất và

tỷ giá thực sự là tín hiệu phản ánh cung, cầu về vốn trên thị trường.

Phát triển thị trường tiền tệ về quy mô và chiều sâu để có khả năng

truyền tải cơ chế điều tiết tiền tệ, lãi suất của NHNN đối với nền kinh tế. Cần

tiếp tục đa dạng và chuẩn hóa các công cụ nợ trên thị trường tiền tệ, nới lỏng

hợp lý các điều kiện gia nhập thị trường, chuẩn hóa quy trình và phương thức

giao dịch giúp các NHTM nâng cao hiệu quả mua bán vốn, nâng cao khả năng

phòng ngừa rủi ro thanh khoản, đồng thời qua đó NHNN có thể điều hành

cung cầu tiền tệ, tỷ giá, lãi suất.



182



Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tập trung thanh toán qua hệ

thống điện tử liên NH để NHNN có thể theo dõi, kiểm soát và đưa ra những

cảnh báo về rủi ro thanh khoản tiềm ẩn, từ đó tạo điều kiện cho NHNN có thể

điều hành lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên NH. NHNN nên

phối hợp với thành viên thị trường thành lập nhóm điều phối thị trường Repo

giữa các ngân hàng. Xem xét thực hiện các giao dịch hoán đổi với thị trường

liên NH thường xuyên hơn, thay vì việc chỉ giao dịch trong thời kỳ khó khăn

về thanh khoản nhằm khuyến khích các thành viên thị trường giao dịch ở thời

hạn dài hơn và tạo ra khối lượng giao dịch lớn hơn trên thị trường liên NH.

NHNN cần thực hiện tốt chức năng người cho vay cuối cùng một cách

kịp thời kèm theo là các chế tài tương xứng, thậm chí nên công bố thông tin

về một vài NHTM thường xuyên thiếu thanh khoản, mà nguồn gốc xuất phát

từ nền tảng quản trị rủi ro trong kinh doanh kém. Ðiều này có thể ảnh hưởng

(tạm thời) đến các NH này về khả năng huy động vốn nhưng cũng là biện

pháp mạnh nhất để buộc các NH phải chú trọng đến quản trị rủi ro và làm

gương cho các NH khác. Tiếp đó, NHNN vẫn cần hỗ trợ thanh khoản cho các

NHTM thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh

thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát. Ðối

với các NHTM lớn, có nhiều giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn thì việc hỗ trợ thanh

khoản sẽ thông qua nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN. Ðối với các NHTM

nhỏ không đủ giấy tờ có giá hoặc không có khả năng cạnh tranh trên thị

trường mở thì NHNN hỗ trợ thông qua công cụ tái cấp vốn. Bên cạnh đó, cần

thực hiện ngay việc bán ngoại tệ của các tập đoàn kinh tế Nhà nước cho các

ngân hàng, như thế sẽ vừa ngăn được tình trạng găm giữ ngoại tệ, tăng cung

ngoại tệ cho thị trường, vừa giúp NHTM loại bỏ phần tín dụng ảo và giúp

NHTM tăng khả năng thanh khoản hiện hành. Ngoài ra, NHNN cần đề ra các

tiêu chí nâng cao tính thanh khoản mà NHTM buộc phải thực hiện theo một



183



lộ trình nhất định, thậm chí khuyến khích việc mua lại và sát nhập NH nếu

NHTM không thể tăng đủ vốn theo lịch trình mà NHNN đã công bố.

3.3.2.3 Tăng cường thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng và xây dựng hệ

thống cảnh báo sớm

NHNN cần giám sát quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các

NHTM một cách chặt chẽ hơn nữa, tránh hiện tượng các NHTM đến khi có

rủi ro mới tiến hành quản trị. Đồng thời NHNN phải thường xuyên kiểm tra,

kiểm soát tình hình nợ xấu, trạng thái ngoại hối, thanh khoản của các NHTM

thông qua hệ thống các NHNN tại các tỉnh thành phố. Ban hành các mẫu biểu

về các chỉ số thanh khoản, tính toán khả năng thanh khoản và khả năng chi trả

cho các NHTM một các hợp lý, đơn giản và hiệu quả.

Thời gian qua, hoạt động giám sát của NHNN đối với NHTM có thể

thấy là chưa có tác dụng định hướng cho các NHTM trong việc xây dựng hệ

thống quản trị rủi ro trong NH. Hiện nay, báo cáo đánh giá xếp hạng của

NHNN vẫn chỉ đơn thuần dựa trên kết quả thanh tra tại chỗ mà chưa có sự

theo dõi liên tục. Kết quả xếp hạng từng cấu phần cũng như xếp hạng tổng thể

vẫn chưa được thể hiện rõ ràng trong báo cáo thanh tra. Điều này cho thấy, hệ

thống báo cáo giám sát của NHNN chưa đầy đủ và chưa có tính thuyết phục

nên các NHTM vẫn chỉ coi hoạt động giám sát của NHNN với tính chất là các

hoạt động thanh tra, kiểm tra. Do vậy, NHTM thường có tâm lý đối phó với

các yêu cầu của bộ phận thanh tra của NHNN, thiếu sự hợp tác trong quá trình

giám sát, thanh tra và chấp hành sau thanh tra. Các NHTM chưa tin tưởng vào

chất lượng và độ chính xác của hoạt động giám sát của NHNN, do đó, NHTM

chưa coi trọng các kết quả giám sát và kết luận thanh tra do NHNN đưa ra.

Chính vì vậy, các kết quả của hoạt động giám sát của NHNN chưa được các

NHTM coi là căn cứ để họ tự đánh giá lại hoạt động của NH và điều chỉnh

các hoạt động quản trị rủi ro trong NH. Đây là sự bất cập lớn trong công tác

thanh tra giám sát công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói



184



chung, đặc biệt là quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM. Vì vậy giải pháp

tăng cường công tác thanh tra, giám sát được đề cập ở đây không chỉ ở cường

độ kiểm tra mà còn là chất lượng trong công tác quản lý. Thanh tra NHNN

cần có sự liên kết chặt chẽ với các NHTM để đảm bảo khai thác thông tin từ

nguồn này tại bất cứ thời điểm kiểm tra nào chứ không chờ đến lúc các

NHTM gửi báo cáo theo yêu cầu mới có thể có số liệu. Có như vậy mới có thể

đưa việc cảnh báo sớm để cảnh báo những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín

dụng, thanh khoản, cho các NHTM.

Bên cạnh đó, NHNN cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên

những phân tích số liệu từ tài khoản tiền gửi thanh toán của các NHTM mở tại

NHNN qua hệ thống thanh toán bù trừ hay hệ thống thanh toán điện tử liên

NH mà trong đó NHNN làm đầu mối thanh toán cũng như qua vai trò là

người điều hành, thực thi chính sách tiền tệ. Qua đó, NHNN có thể đánh giá

tính thanh khoản của các NHTM.

NHNN cần nâng cao chất lượng dự báo vốn khả dụng của thị trường

thông qua việc nâng cấp và sử dụng hiệu quả các hệ thống thông tin báo cáo

nhằm dự báo và đưa ra những quyết định phù hợp với cung cầu vốn trên thị

trường. Hiện nay, tình hình vốn khả dụng của các TCTD trên thị trường khác

nhau. Các NHTM lớn với tiềm lực mạnh luôn duy trì khả năng thanh toán tốt

hơn các NHTM nhỏ. Đề nghị NHNN khi xem xét, đánh giá, xác định nhu cầu

thừa, thiếu vốn trên thị trường cần ghi nhận thông tin nhiều hơn từ các NHTM

nhỏ, đảm bảo thông tin, số liệu được phản ánh sát tình hình thực tế của thị

trường. Tiền gửi của các TCTD tại NHNN không chỉ nhằm mục đích thanh

toán mà còn phục vụ cho dự trữ bắt buộc và dự trữ bắt buộc được tính theo số

dư bình quân. Như vậy tiền gửi tại NHNN của các TCTD sẽ không phản ánh

đúng tình hình thanh khoản của các TCTD tại thời điểm đó. Đề nghị NHNN

khi đánh giá tình hình vốn khả dụng của các TCTD cần lưu ý vấn đề này.



185



Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy thanh tra giám sát NH theo ngành

dọc từ Trung ương xuống cơ sở và có sự độc lập tương đối về điều hành và

hoạt động nghiệp vụ trong tổ chức bộ máy của NHNN; Ứng dụng những

nguyên tắc cơ bản về giám sát hiệu quả hoạt động NH của ủy ban Basel, tuân

thủ những quy tắc thận trọng trong công tác thanh tra.

3.3.2.4. Nâng cao vai trò của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia

NHNN cần có các biện pháp đồng bộ, củng cố, phát triển Trung tâm thông

tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC), bảo đảm cung cấp thông tin một cách

đầy đủ, chính xác và kịp thời nhất. Theo đó, thông tin CIC cung cấp cho các

TCTD cần phong phú và đa dạng hơn, không chỉ các thông tin trong nước mà

còn có các thông tin quốc tế, thông tin của các doanh nghiệp FDI. Thông tin

CIC cung cấp cũng cần đảm bảo tính chất đồng bộ, cập nhật. Các thông tin về

chấp hành thuế, hải quản, các nghĩa vụ tài chính khác với Ngân sách nhà

nước, công nợ của doanh nghiệp với đối tác cần đảm bảo chính xác, kịp thời.

3.3.3 Đối với các Bộ ngành

Trong hoạch định chính sách bên cạnh việc cân đối giữa các mục tiêu

phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ cần quan tâm đến sự phát triển bền vững của

các NHTM. Tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp về việc thực

hiện chế độ kế toán kiểm toán, chế độ báo cáo thống kê giúp ngân hàng đánh

giá đúng thực chất năng lực tài chính của khách hàng.

- Củng cố, phát triển và hoàn thiện môi trường pháp luật có liên quan

theo chức năng và nhiệm vụ của mình có liên quan trực tiếp đến quản trị rủi

ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Sớm hoàn thiện hệ thống quy

phạm pháp luật liên quan đến quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

NHTM đáp ứng các yêu cầu mới của nền kinh tế. Các quy định này cần được

tiến hành từng bước phù hợp với tiến trình vận động của nền kinh tế, đảm bảo

phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo tính độc lập, đặc thù của nước ta.



186



- Phối hợp với NHNN nâng cao chất lượng điều hành vĩ mô về tiền tệ,

tín dụng. Duy trì chính sách tỷ giá thị trường có sự quản lý của nhà nước và

thực hiện chính sách quản lý ngoại hối có hiệu quả.

- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quản trị

rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Các bộ ngành cần phải quyết

liệt trong thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình tiếp tục đưa ra các giải

pháp cơ cấu lại nền kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống tài chính, thị

trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà

nước đối với hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

NHTM, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro trong quá trình hoạt động

kinh doanh của NHTM. Nâng cao chất lượng phân tích tình hình tài chính và

phát triển hệ thống cảnh báo sớm.



187



KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trong chương 3, Luận án đã

tập trung làm rõ các nội dung sau:

Đưa ra định hướng và dự báo trong thời gian tới, thị trường tài chính

quốc tế, cũng như thị trường tài chính, thị trường tiền tệ Việt Nam sẽ có nhiều

biến động và biến động khó lường, đặt ra công tác quản trị rủi ro trong hoạt

động kinh doanh của các NHTM Việt Nam nói chung, của VCB nói riêng tiếp

tục phải tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả.

Dựa trên những đánh giá rõ thực trạng ở chương 2, trong chương 3 luận

án đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ theo hướng tăng cường quản trị

rủi ro, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, tập trung vào quản trị

rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thanh toán quốc tế và NHĐT, rủi ro

lãi suất, rủi ro hoạt động tại VCB.

Đồng thời luận án cũng đưa ra các kiến nghị nhằm thực hiện nhóm giải

pháp trên.



188



KẾT LUẬN

Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động nhạy

cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đặc biệt, trước xu thế hội nhập, các NHTM phải

đối phó với nhiều loại hình rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do xuất

phát điểm của các NHTM khá thấp so với trung bình trong khu vực nên việc

phải tập trung phát triển và quan tâm đến lợi nhuận được xem là ưu tiên số

một. Chính vì thế, hệ thống quản trị rủi ro của các NHTM Việt Nam nói

chung, của VCB nói riêng hầu như vẫn đang còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa

được đầu tư xây dựng một cách thỏa đáng và chuyên nghiệp. Việc tăng cường

quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh đang được NHNN và các NHTM

đặc biệt quan tâm. Do vậy, tìm giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro,

hoàn thiện công tác quản trị rủi ro là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng

của các NHTM Việt Nam nói chung và của VCB nói riêng. Luận án lựa chọn

đề tài nói trên và sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp đã hoàn

thành những nội dung chủ yếu sau:

Một là, hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro, bao gồm các

khái niệm, nội dung, phương pháp đánh giá rủi ro, nội dung quản trị từng loại

rủi ro cụ thể, các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro, từ quản trị rủi ro tín

dụng, đến quản trị rủi ro tỷ giá, quản trị rủi ro lãi suất, quản trị rủi ro thanh

khoản và quản trị rủi ro hoạt động.

Hai là, khái quát, phân tích, lựa chọn kinh nghiệm quốc tế về quản trị

rủi ro của NHTM trên cơ sở đó rút ra các bài học cần thiết cho các NHTM

Việt Nam nói chung và VCB nói riêng đã được Luận án thực hiện một cách

khoa học và đồng bộ.

Ba là, luận án đã làm rõ thực trạng quản trị rủi ro tại VCB khá rộng,

nhiều lĩnh vực khác nhau và cách tiếp cận cũng có những khó khăn nhất định.

Từ thực tế đó, luận án đã lựa chọn phân tích đánh giá rõ thực trạng quản trị



189



rủi ro, trong đó đi sâu vào quản trị rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tỷ giá, lãi

suất, rủi ro thanh khoản, quản trị rủi ro hoạt động trong hệ thống VCB từ đó

rút ra được những kết quả, nguyên nhân, hạn chế đối với hoạt động này.

Bốn là, trên cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động quản trị rủi ro của

VCB, luận án đã đưa ra hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng

cao năng lực quản trị rủi ro, hoàn thiện công tác quản trị rủi ro, chủ yếu là tín

dụng, tỷ giá, lãi suất, hoạt động và quản trị rủi ro thanh khoản tại VCB, trong

đó nhiều giải pháp mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ của từng lĩnh vực quản trị

rủi ro. Để các giải pháp này có tính khả thi, luận án đề xuất một số kiến nghị

có liên quan với Chính phủ và với NHNN.

Luận án đã làm rõ, VCB là NHTM hàng đầu tại Việt Nam về quản trị

rủi ro, đảm bảo chất lượng tín dụng, đảm bảo thanh khoản, kinh doanh trên thị

trường vốn, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, tài

trợ vốn cho lĩnh vực xuất nhập khẩu,….VCB không ngừng hoàn thiện và

nâng cao hiệu quả quản trị các hoạt động của mình. Luận án cũng đã phân

tích và làm rõ trong giai đoạn 2009 – 2015 với nhiều khó khăn do ảnh hưởng

của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công ở châu Âu,

thị trường bất động sản tăng cao và sau đó sụt giảm mạnh, hệ thống NHTM

Việt Nam có nhiều thời điểm rơi vào khủng hoảng thanh khoản, lãi suất tăng

cao và sau đó giảm mạnh, nhưng VCB vẫn tiếp tục phát triển ổn định, không

ngừng nâng cao được năng lực tài chính và giữ uy tín. Tuy nhiên trong thời

gian tới, hội nhập sâu rộng với quốc tế và khu vực cũng như từ phân tích thực

trạng cho thấy, quản trị rủi ro của VCB đang tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề cần

giải quyết đặc biệt là về rủi ro tín dụng, rủi ro kinh doanh ngoại hối, rủi ro lãi

suất,….Luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, sát thực tiễn phù hợp

với xu hướng hội nhập quốc tế góp phần tăng cường quản trị rủi ro trong toàn

hệ thống của VCB theo mục tiêu đề ra.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(212 tr)

×