Tải bản đầy đủ - 212 (trang)
2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 212trang

23



Mục đích cuối cùng hay mục tiêu cao nhất của quản trị rủi ro đó là tối

đa hóa lợi nhuận, đảm bảo phát triển bền vững của NHTM, đảm bảo sự cân

bằng giữa rủi ro có thể chấp nhận được với lợi nhuận mang lại. Nếu NHTM

quá chú trọng đến quản trị rủi ro, quá thận trọng trong hoạt động tín dụng và

các hoạt động kinh doanh khác, dẫn tới thu hẹp hay không mở rộng được quy

mô kinh doanh, mất thị phần trong cạnh tranh, NHTM không phát triển được.

Ngược lại, nếu NHTM quá chú trọng đến lợi nhuận, đến phát triển kinh doanh

mà coi nhẹ quản trị rủi ro, sẽ dẫn đến các khoản thất thoát, mất vốn ngày càng

tăng, có thể dẫn NHTM đến nguy cơ thu lỗ kéo dài, thậm chí là phá sản. Mức

chấp nhận được trong quản trị rủi ro của NHTM đối với lĩnh vực tín dụng

theo thông lệ quốc tế đó là nợ xấu không vượt quá 5%,…

1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại

Để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động, các NHTM phải

có một chính sách quản trị. Quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM được

xem là những quá trình hoạt động, cái mà nhà quản trị mang lại chính là phần

thặng dư, là lợi nhuận mà NHTM có được nhờ tiến hành các hoạt động quản

trị có hiệu quả, nhờ duy trì và tuân thủ nguyên tắc đạt được kết quả tối đa với

một chi phí tối thiểu.

Như vậy thực chất quản trị rủi ro của NHTM là những hoạt động thống

nhất phối hợp, liên kết các cá nhân, cán bộ, nhân viên, giữa các phòng ban và

bộ phận và các yếu tố vật chất trong quá trình quản lý, điều hành, tác nghiệp

và cung cấp các dịch vụ NH nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh nhất định ở

mỗi thời kỳ với phương châm an toàn, chi phí thấ p và hao tổn ít nhất về

nguồn lực để đa ̣t hiêụ quả tố i ưu. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của

NHTM, quản trị rủi ro là một nhu cầu khách quan bởi những lý do sau:

Thứ nhất, do yêu cầu hướng đến hoạt động tập thể, một hệ thống, một

bộ máy, mỗi NHTM trước hết là một tổ chức và hoạt động vì những mục đích



24



nhất định, mà cao nhất là lợi nhuận với tổn thất tối thiểu. Để đạt được mục

đích đòi hỏi phải có sự liên kết của các cá nhân, các phòng ban và bộ phận,

đòi hỏi phải có sự phân công rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi

người, quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của mỗi phòng ban, đơn vị trong

NH; đảm bảo sự phối hợp, kiểm soát giữa các cá nhân và các đơn vị, tổ chức

một cách hiệu quả nhất, an toàn nhất, giảm thiểu các rủi ro có thể xẩy ra. Do

đó cầ n phải có người quản trị, bộ phận quản trị xác định mục tiêu, chính sách,

quy trình, quy định, điều hành, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện công việc

của cả một hệ thống NHTM, của các đơn vị và tổ chức trong NHTM, của các

cá nhân để có thể giảm thiểu những tổn thất, tiết kiệm thời gian và chi phí

nhưng phải mang lại lợi nhuận cao nhất.

Thứ hai, do yêu cầu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hoạt động NH,

chất lượng các SPDV. Khi tiến hành một hoạt động trong lĩnh vực mang tính

cạnh tranh như tiền tệ, dịch vụ ngân hàng, thị trường tài chính thì đòi hỏi các

NHTM phải am hiểu các nguyên tắc và phương thức cạnh tranh, nắm bắt

được diễn biến thị trường để đưa ra được những sản phẩm dịch vụ mà xã hội,

thị trường đang mong muốn, giành phần thắng trong cạnh tranh, nhưng điều

đó cũng đồng nghĩa với việc rủi ro có thể tăng lên, những tổn thất khó thể bất

ngờ xẩy ra. Do vậy, để cạnh tranh trên thị trường tài chính, trên thị trường các

SPDV, các NHTM phải thường xuyên đổi mới về công nghệ, nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản trị và điều hành, nâng cao chất

lượng sản phẩm, mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời

cũng phải áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro có hiệu quả và phù hợp.

Thứ ba, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và mở cửa hoạt

động ngân hàng nói riêng ngày càng diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đem lại

nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức, trong đó có những rủi ro



25



mới có thể phát sinh, đòi hỏi NHTM phải không ngừng tăng cường quản trị

rủi ro.

Thứ tư, nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu sản phẩm và dịch vụ của

khách hàng ngày càng gia tăng, thị trường ngày càng phát triển, điễn biến

kinh tế vĩ mô cũng ngày càng phức tác và khó lường, những vấn đề xã hội

khác cũng có những chuyển biến tích cực nhưng cũng phát sinh nhiều vấn đề

phải giải quyết. Do đó NHTM phải thường xuyên chú trọng đến các hoạt

động quản trị rủi ro của mình.

Thứ năm, quá trình biến đổi khí hậu trên toàn cầu ngày càng diễn ra

phức tạp, vấn đề ô nhiễm môi trường, các vấn đề thiên tai và biến động chính

trị cũng diễn ra khó lường, tình hình đó ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng

của NHTM, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Do đó,

NHTM cần chú trọng đưa ra các biện pháp mới quản trị rủi ro hoạt động kinh

doanh của mình.

1.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tại ngân hàng thương mại

Các quy trình quản trị rủi ro được thể hiện cụ thể qua Bảng 1.1:

Bảng 1.1: Các quy trình quản trị rủi ro

Basel II



Barclays



JP Morgan Chase



Nhận biết và đánh giá Đánh giá (xác định, Xác định rủi ro

rủi ro

phân tích và đo Đo lường rủi ro

lường)



UBS

Xác định rủi ro

Đo lường rủi ro có thể

định lượng



Các hoạt động kiểm Kiểm soát

soát và phân chia

nghĩa vụ



Giám sát, Kiểm soát Thiết lập các chính

rủi ro

sách rủi ro

Kiểm soát



Thông tin và truyền Báo cáo

đạt thông tin



Báo cáo rủi ro



Báo cáo rủi ro



Giám sát các hoạt Quản lý và thách thức Giám sát, Kiểm soát Kiểm soát

động và sửa chữa

rủi ro

những thiếu sót



Nguồn: Hoàng Huy Hà, 2012 [8]



(Ghi chú: UBS: Universal bank in Switzerland, một ngân hàng lớn của Thụy sỹ)



26



Việc thiết lập, áp dụng mô hình QTRR trong NHTM nói chung ban đầu

chỉ đơn giản như là chức năng kiểm soát. Tuy nhiên trong thời gian gần đây

và một phần là do tác động của Basel II, đã có một xu hướng phát triển theo

hướng gọi là "Quản trị rủi ro tích hợp". Việc định nghĩa, giải thích, áp dụng

cũng như thuật ngữ được dùng để miêu tả quy trình và mô hình quản trị rủi ro

rất khác nhau ở các NHTM.

Qua Bảng 1.1, các bước quản trị rủi ro luôn tương ứng với các yếu tố

trong khuôn khổ của Basel. Các điểm cần lưu ý trong bảng trên là, các NHTM

đều có xu hướng sử dụng các thuật ngữ "xác định”và "đo lường”hơn là "nhận

biết”và "đánh giá' rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM; Các hoạt

động giám sát luôn là một phần của các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và

phát hiện các rủi ro của NHTM; Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ đóng

vai trò quan trọng trong hoạt động giám sát rủi ro của NHTM.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án này, chỉ trình bày nội dung của

quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM thể hiện ở mô hình

dưới đây:



Hình 1.1: Mô hình hóa quản trị rủi ro phổ biến của các ngân hàng nước ngoài

Nguồn: KPMG International, 2007 [16].



27



Trong Hình 1.1, các NHTM thực hiện các bước cụ thể:

i) Đưa ra chiến lược, phân khúc (khẩu vị) về rủi ro: ngưỡng chấp nhận,

từ chối hoặc giảm thiểu RRHĐ; Vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan

trong hệ thống mỗi NHTM từ HĐQT, đến ban điều hành, từ hội sở chính đến

các chi nhánh và phòng giao dịch, từ chính sách đến các quy trình, nghiệp vụ

cụ thể.

ii) Đưa ra chính sách, định hướng, mục tiêu QTRR phù hợp với chiến

lược kinh doanh, đưa ra cơ chế để nhận diện, đo lường và giám sát các rủi ro

hoạt động trọng yếu, phải được Hội đồng quản trị phê duyệt, được cụ thể hóa

trong điều hành và thực thi ở các cấp khác nhau của mỗi NHTM.

iii) Đưa ra phương pháp luận và phương pháp đo lường được các rủi ro

trong hoạt động kinh doanh, dựa trên khả năng xảy ra và mức độ thiệt hại dự

tính, các chốt kiểm soát, các khâu giám sát rủi ro, khả năng ngăn chặn kịp thời

hay ứng phó khẩn cấp, cả về công nghệ, thanh khoản,....

iv) Xác định các bước cụ thể, xác định quy trình để nhận diện, đánh

giá, quản lý và giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động kinh doanh, phân chia

trách nhiệm rõ ràng của cá nhân trong hệ thống mỗi NHTM, kết nối với

NHTW để đảm bảo giám sát theo yêu cầu và theo quy định.

v) Thực hiện các vấn đề về Con người, nhân lực và hệ thống trong quản

trị rủi ro.

vi) Báo cáo cho ban lãnh đạo và các đơn vị kinh doanh tổng kết tình

hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của toàn bộ hệ thống NHTM, cũng

như toàn bộ cán bộ, nhân viên của mỗi NH, mỗi đơn vị ngân hàng. Trên cơ sở

đó NHTM báo cáo cho NHTW, cơ quan quản lý theo yêu cầu và theo quy

định về quản lý Nhà nước.



28



1.2.4 Nội dung quản trị những rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh

tại ngân hàng thương mại

1.2.4.1 Quản trị rủi ro tín dụng

Khái niệm: Theo Bùi Diệu Anh (2013) thì “Quản trị rủi ro tín dụng là

dự kiến, ngăn ngừa và đề xuất biện pháp kiểm soát các rủi ro nhằm loại bỏ,

giảm nhẹ hoặc chuyển chúng sang một tác nhân khác tạo điều kiện sử dụng

tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp” [2].

Quản trị rủi ro tín dụng là một khái niệm rộng với nội hàm gồm nhiều

nội dung khác nhau trong quản trị điều hành một NHTM. Do đó có nhiều

cách hiểu, có thể có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này. Song theo

Luận án thì quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến

lược, chính sách, biện pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng để nhằm

ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH.

Theo khái niệm trên thì nội hàm của quản trị rủi ro tín dụng bao gồm

một hệ thống: Chiến lược hoạt động tín dụng; Các chính sách của NHTM

trong hoạt động tín dụng; Các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ

thống NHTM nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.

Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

- Chính sách tín dụng: Xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và

hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng ngân hàng sẽ giúp phát huy được các

thế mạnh của mỗi ngân hàng, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tín

dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng.

- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là những quy định cụ thể các

bước nghiệp vụ từ khi nhận hồ sơ tín dụng cho đến khi quyết định cho vay,

thu nợ. Xây dựng một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho công tác quản lý

tín dụng được thống nhất, khoa học, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng



29



cán bộ thực hiện vì quy trình tín dụng thường quy định trách nhiệm của từng

bộ phận tham gia thực hiện công tác tín dụng.

- Nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay thông qua quá trình

kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay và bằng các kênh thông tin, cán bộ

tín dụng phải luôn theo dõi sát khoản vay để kịp thời nhận diện rủi ro, từ đó

có những biện pháp tối ưu để khắc phục.

- Chấm điểm khách hàng: Chấm điểm khách hàng là quá trình xếp hạng

khách hàng theo các cấp độ khác nhau dựa trên các yếu tố định tính và định

lượng. Việc chấm điểm khách hàng sẽ giúp NH sàng lọc được những khách

hàng không tốt, từ đó có những chính sách cụ thể đối với mỗi loại khách

hàng: cấp tín dụng, chính sách lãi suất....

- Phân loại nợ: Việc phân loại các khoản nợ của NH sẽ giúp NH có

điều kiện theo dõi và đánh giá cấp độ rủi ro của từng khoản vay, từng khách

hàng vay để từ đó có các giải pháp kịp thời. Việc phân loại nợ sẽ là cơ sở cho

việc đưa ra mức độ giám sát và mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

- Hệ thống kiểm tra kiểm soát tín dụng: Xây dựng một bộ phận kiểm tra

kiểm soát tín dụng sẽ giúp phát hiện ra những sai sót trong quá trình thực hiện

tín dụng. Từ đó có thể giúp ngăn ngừa rủi ro xảy ra.

- Chính sách trích lập dự phòng và xử lý rủi ro: Tỷ lệ trích lập quỹ dự

phòng rủi ro thường được quy định ở mỗi nước khác nhau. Tỷ lệ này thường

được đưa ra trên cơ sở con số thống kê hiện tại về mức độ rủi ro của các NH.

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

thương mại

• Nhóm nhân tố khách quan:

Nhóm này bao gồm môi trường pháp lý, đó là sự đồng bộ, rõ ràng, đầy

đủ và tính hiệu lực, hiệu quả của các văn bản pháp luật và văn bản dưới luật

liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng và hoạt động của khách hàng vay



30



vốn. Môi trường kinh tế vĩ mô, như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, việc làm,

thu nhập, thâm hụt ngân sách, nợ công,…Điều hành chính sách kinh tế vĩ mô,

trực tiếp là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư,…Quản

lý của NHTW hay quản lý nhà nước về hoạt động NH. Mức độ hội nhập của

nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống tài chính, tình trạng buôn lậu và cải

cách thủ tục hành chính,….Trình độ quản trị điều hành và năng lưc tài chính

của doanh nghiệp, của khách hàng vay vốn.

• Nhóm nhân tố chủ quan của NHTM:

Nhân tố cơ chế, chính sách của ngân hàng thương mại: Thiếu chính

sách cho vay, thiếu các tiêu chuẩn rõ ràng, việc cấp tín dụng quá tập trung,

thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, khoa học thì công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ

không được thực hiện hoặc việc thực hiện sẽ không khả thi.

NH cần thiết phải đưa ra chính sách kiểm tra chặt chẽ trong, trước và

sau khi cho vay. Bên cạnh đó, xây dựng quy trình cho vay dựa trên việc phân

chia các cấp phê duyệt sẽ đảm bảo các quyết định được đưa ra một cách thận

trọng, hiệu quả. NH cũng cần xây dựng một quy trình thu nợ gốc, lãi, và các

khoản phí khác phù hợp với điều khoản trả nợ. Cần thiết phải có các quy định

giải quyết các vấn đề của các khoản vay không được thực hiện và cơ chế thực

hiện quyền của chủ nợ trong trường hợp việc cho vay bị tổn thất. Hệ thống

báo cáo của NH phải thông báo kịp thời, chính xác trạng thái tín dụng của

khách hàng, đồng thời duy trì việc thu thập thông tin chi tiết kịp thời về khách

hàng vay để bảo đảm liên tục đánh giá được trạng thái rủi ro.

Các quy chế, chính sách cho vay hiện đại thường quy định tổng dư nợ

một NH được phép đầu tư, cho vay hoặc cung cấp tín dụng khác đối với một

khách hàng, một nhóm pháp nhân có liên quan nào vượt hơn một tỷ lệ nhất

định tính trên tổng số vốn và dự phòng của NH đó. Trong phạm vi này, các

nhà quản lý NH có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng của cả ngành NH và



31



từng NH để bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền và ngăn chặn các tình

huống có thể gây ra rủi ro cho cả hệ thống NHTM.

Nhân tố cán bộ NHTM: Trong mọi vấn đề, nhân tố con người bao giờ

cũng là nhân tố quan trọng có tính chất quyết định. Do vậy, công tác quản trị

rủi ro tín dụng rất cần thiết phải đặt nhân tố con người bao gồm: cán bộ NH

và người đi vay lên hàng đầu. Muốn vậy, việc tuyển dụng cán bộ vào làm việc

tại NH phải đòi hỏi công khai và minh bạch. Cán bộ được tuyển dụng phải

bảo đảm có trình độ và đạo đức.

Nhân tố công nghệ: Hiện nay, các NH đều đã trang bị hệ thống thông

tin hiện đại để xây dựng các mối quan hệ trực tiếp với khách hàng, online trực

tuyến với các giao dịch. Trong xu thế toàn cầu hóa và sự cạnh tranh trong lĩnh

vực tài chính NH ngày càng trở nên khốc liệt, chúng ta càng thấy vai trò của

công nghệ đối với hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của

từng NH. Công nghệ sẽ thể hiện rất rõ giúp NH trong lĩnh vực quản trị, trong

việc mở rộng sản phẩm dịch vụ, thông qua đó, ngày càng đáp ứng được các

nhu cầu khắt khe của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra công nghệ cũng cho phép

NH quản trị rủi ro tốt hơn, từ đó đưa ra các công cụ hỗ trợ để giúp NH đưa ra

những quyết định đúng đắn.

1.2.4.2 Quản trị rủi ro tỷ giá

Khái niệm: Theo Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro tỷ giá là

tổng thể các biện pháp nhằm nhận dạng, đánh giá, kiểm soát, giảm thiểu

những tổng thất, mất mát trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM.

Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi của tỷ giá hối

đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn, đối với một đồng tiền

nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối

đoái. [49]



32



Nội dung quản trị rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự

biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Về cơ bản

rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt

động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng. Để ha ̣n chế rủi

ro tỷ giá hố i đoái, người ta thường sử du ̣ng các biêṇ pháp cơ bản sau:

Sử dụng các phương pháp dự báo tỷ giá

Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường hối đoái nói riêng các

chuyên gia thường dùng 2 cách phân tích sau đây để dự báo giá: phân tích kỹ

thuật (Technical analysis) và phân tích cơ bản (Fundamental analysis).

+ Phân tích cơ bản (Fundamental analysis) là phương pháp phân tích

tập trung vào việc nghiên cứu các lý do hoặc nguyên nhân làm cho giá tăng

lên hoặc giảm xuống. Nó chú ý đến các lực lượng tác động đến cung cầu tiền

tệ trên thị trường: lãi suất, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu, đầu

tư… Ý tưởng của phương pháp này là tiến đến một giá trị dự đoán về giá trị

sinh lời tiềm ẩn của một thị trường để xác định xem thị trường được đánh giá

cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thực. Phần khó nhất của phương pháp này là

quyết định xem thông tin nào và bao nhiêu tiền đã được tính vào cơ cấu giá

hiện hành. Các lý thuyết chính của phân tích cơ bản là: Lý thuyết đồng giá

sức mua (PPP), lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP), mô hình cán cân thanh toán

quốc tế, mô hình thị trường vốn,…

+ Phân tích kỹ thuật (Technical analysis) đơn giản là một phương pháp

dự báo dựa vào nghiên cứu về quá khứ, tâm lý và quy luật xác suất. Phân tích

kỹ thuật chủ yếu là dựa vào đồ thị tỉ giá và số lượng mua bán của quá khứ đã

được tập hợp lại để dự đoán khuynh hướng của tỉ giá trong tương lai. Phân

tích kỹ thuật có tính linh hoạt, dễ sử dụng và nhanh chóng, những nhà kinh

doanh ngoại tệ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn được tự do chọn lựa.



33



Lựa chọn ngoại tệ thanh toán

Sự biến động tỷ giá của từng loại ngoại tệ khác nhau, phụ thuộc vào

tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy mức độ rủi ro tỷ

giá phát sinh với mỗi loại ngoại tệ cũng không giống nhau. Việc lựa chọn loại

ngoại tệ có giá trị tương đối ổn định sẽ giúp cho NHTM và doanh nghiệp

thường xuyên có giao dịch ngoại tệ với NHTM giảm thiểu tác động của biến

động tỷ giá.

Sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ và hợp đồng xuất nhập khẩu

song hành: Đối với doanh nghiệp, đây là phương pháp tự bảo hiểm rủi ro tỷ

giá đơn giản bằng cách tiến hành song hành cùng một lúc cả hai hợp đồng

xuất khẩu và nhập khẩu có giá trị và thời hạn tương đương nhau, NHTM cần

tư vấn cho các doanh nghiệp là khách hàng của mình.

Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá: Theo phương pháp này, khi nào

kiếm được phần lợi nhuận dôi thêm do biến động tỷ giá thuận lợi NHTM,

doanh nghiệp sẽ trích phần lợi nhuận này lập ra quỹ dự phòng bù đắp rủi ro tỷ

giá. Khi nào tỷ giá biến động bất lợi khiến doanh nghiệp, NHTM bị tổn thất,

thì sử dụng quỹ này để bù đắp, trên cơ sở đó hạn chế tác động tiêu cực đến kết

quả hoạt động kinh doanh. Cách này đơn giản và tốn kém ít chi phí khi thực

hiện.

Sử dụng thị trường tiền tệ: Sử dụng thị trường tiền tệ để tự bảo hiểm

rủi ro tỷ giá là cách thức vận dụng kết hợp các giao dịch mua bán ngoại tệ

trên thị trường ngoại hối với các giao dịch vay và cho vay trên thị trường tiền

tệ để cố định các khoản phải thu hoặc phải trả sao cho chúng khỏi lệ thuộc

vào sự biến động tỷ giá.

Lựa chọn các công cụ phái sinh trên thị trường tiền tệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(212 tr)

×