Tải bản đầy đủ - 212 (trang)
1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 212trang

17



khái niệm được nêu trong Luật các TCTD. Đây cũng là quan niệm được sử

dụng thống nhất trong toàn bộ nội dung của Luận án.

1.1.1.2 Một số hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Mặc dù có những cách phát biểu không hoàn toàn như nhau, nhưng các

định nghĩa đều thống nhất coi NHTM là một loại hình doanh nghiệp hoạt

động kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ với các hoạt động chính là huy

động vốn, tài trợ và cung ứng các dịch vụ thanh toán cùng dịch vụ tài chính

tiền tệ khác.

Cũng theo mục 12, điều 4 của Luật các TDTD và theo khái niệm về

NHTM nói trên thì: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng

thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b)

Cấp tín dụng;c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. [44]

Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM được trình bày cụ thể qua

Sơ đồ 1.1:

Ủy thác



Bảo hiểm



Ngân hàng

thương mại hiện

đại



Môi giới



Đầu tư

và bảo

lãnh



Tín dụng



Quản lý

tiền

mặt



Tiết

kiệm



Lập kế

hoạch đầu





Thanh toán



Sơ đồ 1.1: Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM

Nguồn: Bùi Diệu Anh (2013) [2]



18



Huy động vốn: Hoạt động huy động vốn của NHTM theo nghĩa rộng gồm:

huy động tiền gửi, vay vốn trên các thị trường và huy động vốn từ chủ sở hữu.

Hoạt động tài trợ: Hoạt động tài trợ là những hoạt động quan trọng nhất của các

NHTM, với hai nhóm chính: Cấp tín dụng cho khách hàng và đầu tư chứng khoán.

Hoạt động thanh toán và các hoạt động khác: Cung cấp dịch vụ thanh toán

là mảng hoạt động đặc trưng khác của các ngân hàng. Các NH là chủ thể chính

trong các hệ thống thanh toán bù trừ, chuyển tiền và các hệ thống thanh toán khác.

Ngoài những hoạt động kể trên, các NHTM còn cung cấp hàng loạt các dịch

vụ tài chính tiền tệ khác. Những hoạt động dịch vụ quan trọng trong đó là thực hiện

dịch vụ uỷ thác đầu tư, tư vấn đầu tư, bảo quản chứng từ và vật có giá, cho thuê tài

chính, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý...

1.1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là sự không chắc chắn. Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không

chắc chắn nào cũng là rủi ro. Sự không chắc chắn có thể ước đoán được xác

suất xảy ra mới được gọi là rủi ro còn sự không chắc chắn không thể ước

đoán được xác suất xảy ra gọi là sự bất trắc. Theo quan điểm hiện đại thì rủi

ro có thể là những khó khăn, bất lợi, cũng có thể là những điều kiện thuận lợi,

cơ hội.

Theo Frank Knight: “Rủi ro là sự bất chắc có thể đo lường được”.

Allan Willet lại cho rằng “Rủi ro là sự bất chắc cụ thể liên quan đến việc xuất

hiện một biến cố không mong đợi”. Theo Peter Rose, rủi ro đối với một ngân

hàng có nghĩa là “Mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện” [2].

Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng rủi ro là những bất chắc, diễn ra bất

ngờ, ngoài ý muốn của chủ thể.

Theo Nguyễn Kim Anh (2010), “Rủi ro trong hoạt động kinh doanh

ngân hàng là những tổn thất xẩy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt



19



động kinh doanh ngân hàng” [1].Tác giả đồng tình với quan điểm này vì có

tính bao quát và đầy đủ.

Từ những quan điểm và phân tích ở trên, quan điểm của luận án có thể

hiểu: Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm

cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt

động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường”.

1.1.2.2 Các loại rủi ro cơ bản của Ngân hàng thương mại

Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau,

đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là

nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác. Trong phạm vi luận án này chỉ đề cập đến

một số loại rủi ro cơ bản mà một NH hiện đại thường gặp phải và mối quan hệ

giữa một số loại rủi ro với nhau.

a/ Rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem

lại lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM. Rủi ro

tín dụng được đề cập ở đây là rủi ro trong hoạt động cho vay, cấp tín dụng của

NHTM. Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả

năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng

cam kết đã thỏa thuận”[62].Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi

khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng mà trong

cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện.

Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của

NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH (sau đây gọi tắt là rủi

ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh

ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả

năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [29].



20



Để thống nhất cách nhận thức và phân tích xuyên suốt trong toàn bộ nội

dung luận án, nghiên cứu sinh đồng tình với khái niệm về rủi ro tín dụng được

nêu trong văn bản pháp quy nói trên của NHNN. Khái niệm này đã được trao

đổi, thảo luận của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính

sách,...trong quá trình ban hành văn bản pháp quy này. Cụ thể như sau: Rủi ro

tín dụng: là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng

không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh

toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.

b/ Rủi ro lãi suất

Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu khi có sự thay đổi lãi

suất trên thị trường. Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với

những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất

trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất

thị trường biến động. Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát

tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều

chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn

hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm).

c/ Rủi ro ngoại hối

Theo Peter S. Rose (2001) “Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh

chịu do sự biến động của giá cả tiền tệ trên thị trường thế giới” [41]. Rủi ro

ngoại hối xảy ra do tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với

nhau cả về số lượng và kỳ hạn. Rủi ro ngoại hối có mối quan hệ với rủi ro tín

dụng thể hiện như: Khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh có thể dẫn đến tình

trạng khan hiếm một loại ngoại tệ nào đó và để chi trả cho bên bán, các DN

phải mua ngoại tệ với giá cao ngoài dự tính, lợi nhuận kinh doanh giảm, có

thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay.

d/ Rủi ro nguồn vốn



21



Cũng theo Peter S. Rose (2001): “Là những thiệt hại do nguồn vốn huy

động của ngân hàng bị ứ đọng không cho vay được, cũng như không thể

chuyển sang được các loại tài sản Có sinh lời khác” [41]. Ngân hàng không

khai thác hết được tiềm năng sinh lời của tài sản Có, hiệu quả sử dụng vốn

giảm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Nếu tình trạng này kéo dài mà không

được khắc phục có thể ngân hàng sẽ phá sản.

đ/ Rủi ro thanh khoản:

“Là tình trạng NHTM không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả

dụng (nhu cầu thanh khoản)” [41]. Tình trạng này nhỏ thì gây thua lỗ, hoạt

động kinh doanh đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán và dẫn đến

ngân hàng phá sản.

Rủi ro thanh khoản cũng còn được hiểu “Là một rủi ro trong lĩnh vực

tài chính. Rủi ro này xảy ra khi NHTM thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn

mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay”

[41]. Thiếu ngân quỹ ở đây có thể được hiểu theo 2 cách: thiếu dự trữ tại ngân

hàng, hoặc là không thể huy động được nguồn vốn ngay lập tức. Để tránh

được rủi ro thanh khoản, các NHTM phải tính toán được hệ số thanh khoản

của mình, tức là tính được khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các

tài sản Nợ.

e/ Rủi ro hoạt động:

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “Rủi ro hoạt động là rủi ro

gây ra tổn thất cho ngân hàng do nguyên nhân con người, sự không đầy đủ

hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên

ngoài” [63]. Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động

kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn

đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những

thảm họa không lường trước được.



22



f/ Mối quan hệ giữa các loại rủi ro

Giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung

và 5 loại rủi ro cơ bản được đề cập ở trên nói riêng có mối quan hệ mật thiết

với nhau, rủi ro này là nguyên nhân của rủi ro kia. Trong hoạt động tín dụng,

để xẩy ra rủi ro với tỷ lệ nợ xấu cao, khả năng thu hồi nợ thấp sẽ dẫn đến rủi

ro thanh khoản. Khi NHTM để xẩy ra rủi ro thanh khoản, phải đi vay vốn trên

thị trường, phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, lại gây ra rủi ro nguồn vốn

và rủi ro lãi suất. Rủi ro trong hoạt động bởi nguyên nhân con người, sự

không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện

khách quan bên ngoài lại gây ro rủi ro tín dụng và rủi ro ngoại hối,…

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm

Đối với bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, khi rủi ro xảy ra đều kéo

theo nó những ảnh hưởng khó lường và hậu quả của chúng cũng không dễ

dàng khắc phục. Chính vì thế, quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

NHTM được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính – NHTM,

bởi kiểm soát và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM chặt

chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng một cách có hiệu quả kinh doanh. Mặt khác,

nền kinh tế thị trường nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ

hội đầu tư và kinh doanh mới. Do đó, QTRR trong HĐKD là một nhu cầu tất

yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM.

Theo quan điểm của luận án, Quản trị rủi ro: Là việc xây dựng chiến

lược, chính sách và quy trình các hoạt động kinh doanh dịch vụ; tổ chức, điều

hành, triển khai và thực hiện chiến lược, chính sách và các quy trình liên

quan đến các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm đảm bảo an toàn, hạn chế

rủi ro ở mức thấp nhất mà ngân hàng có thể chấp nhận được.



23



Mục đích cuối cùng hay mục tiêu cao nhất của quản trị rủi ro đó là tối

đa hóa lợi nhuận, đảm bảo phát triển bền vững của NHTM, đảm bảo sự cân

bằng giữa rủi ro có thể chấp nhận được với lợi nhuận mang lại. Nếu NHTM

quá chú trọng đến quản trị rủi ro, quá thận trọng trong hoạt động tín dụng và

các hoạt động kinh doanh khác, dẫn tới thu hẹp hay không mở rộng được quy

mô kinh doanh, mất thị phần trong cạnh tranh, NHTM không phát triển được.

Ngược lại, nếu NHTM quá chú trọng đến lợi nhuận, đến phát triển kinh doanh

mà coi nhẹ quản trị rủi ro, sẽ dẫn đến các khoản thất thoát, mất vốn ngày càng

tăng, có thể dẫn NHTM đến nguy cơ thu lỗ kéo dài, thậm chí là phá sản. Mức

chấp nhận được trong quản trị rủi ro của NHTM đối với lĩnh vực tín dụng

theo thông lệ quốc tế đó là nợ xấu không vượt quá 5%,…

1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại

Để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động, các NHTM phải

có một chính sách quản trị. Quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM được

xem là những quá trình hoạt động, cái mà nhà quản trị mang lại chính là phần

thặng dư, là lợi nhuận mà NHTM có được nhờ tiến hành các hoạt động quản

trị có hiệu quả, nhờ duy trì và tuân thủ nguyên tắc đạt được kết quả tối đa với

một chi phí tối thiểu.

Như vậy thực chất quản trị rủi ro của NHTM là những hoạt động thống

nhất phối hợp, liên kết các cá nhân, cán bộ, nhân viên, giữa các phòng ban và

bộ phận và các yếu tố vật chất trong quá trình quản lý, điều hành, tác nghiệp

và cung cấp các dịch vụ NH nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh nhất định ở

mỗi thời kỳ với phương châm an toàn, chi phí thấ p và hao tổn ít nhất về

nguồn lực để đa ̣t hiêụ quả tố i ưu. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của

NHTM, quản trị rủi ro là một nhu cầu khách quan bởi những lý do sau:

Thứ nhất, do yêu cầu hướng đến hoạt động tập thể, một hệ thống, một

bộ máy, mỗi NHTM trước hết là một tổ chức và hoạt động vì những mục đích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(212 tr)

×