Tải bản đầy đủ - 49 (trang)
2 Mô tả công ty

2 Mô tả công ty

Tải bản đầy đủ - 49trang

Sản phẩm: Xi măng đóng bao là sản phẩm chính của Công ty, đợc sản xuất

theo TCVN 2682-1992 và TCVN 6260-1997:

+ Từ năm 1994-1998: Sản phẩm xi măng sản xuất PC-30 đợc chứng nhận

phù hợp tiêu chuẩn TCVN 2682-1992

+ Từ tháng 12/1998 đến nay: Sản phẩm xi măng sản xuất PCB-30 đợc

chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn TCVN 6260-1997.

Công ty Cổ phần Xi măng Phú Thọ là một doanh nghiệp Nhà nớc trực thuộc Sở

Xây dựng Phú Thọ, đóng trên địa bàn thị trấn Thanh Ba - huyện Thanh Ba

tỉnh Phú Thọ. Hoạt động của Công ty đã trải qua các giai đoạn sau:

-



Công ty Cổ phần Xi măng Phú Thọ ngày nay tiền thân là nhà máy xi

măng Đào Giã đợc thành lập theo Quyết định số 144/QĐTC ngày 29

tháng 9 năm 1967 của UBND tỉnh Phú Thọ đóng trên địa bàn xã Đào

Giã huyện Thanh Ba - tỉnh Phú Thọ. Với nhiệm vụ sản xuất xi măng, vôi

và đá phục vụ xây dựng công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và

phục vụ quốc phòng. Cơ sở vật chất ban đầu hết sức thô sơ, công

nghệ sản xuất lạc hậu, công suất một năm chỉ đạt đợc 900 tấn xi

măng, 4300 tấn vôi và 10.600 m3 đá các loại.



-



Năm 1969 đầu t mở rộng sản xuất, lắp thêm 2 máy nghiền bi 0,5

tấn/h nâng công suất nhà máy lên 1500 tấn xi măng/năm đồng thời

mở rộng sản xuất vôi với sản lợng 5000 tấn và hàng chục ngàn mét khối

đá xây dựng và giao thông.



-



Năm 1973 đầu t lắp đặt thêm 2 máy nghiền bi công suất 1,2 tấn/h,

máy kẹp hàm, máy vê viên sản xuất xi măng theo phơng pháp bán khô

nâng công suất của nhà máy lên 3000 tấn xi măng/năm, 27.000 m 3 đá

các loại, 10.000 tấn vôi xây dựng đảm bảo công ăn việc làm và đời

sống cho 240 ngời lao động.



-



Năm 1976-1979 đầu t xây dựng một dây chuyền xi măng lò đứng có

kích thớc 1,5 x 6 m công suất 1.000 tấn xi măng/năm đồng bộ với hệ

thống máy nghiền công suất 2 tấn/h nâng công suất tổng cộng của

nhà máy lên 20.000 tấn xi măng/năm.



-



Năm 1982 nhà máy đợc đổi tên thành XN xi măng Thanh Ba.



-



Ngày 10/5/1984 theo Quyết định số 100/QĐ-TCCĐ của UBND tỉnh Phú

Thọ thành lập Xí nghiệp liên hiệp (XNLH) xi măng - Đá - Vôi Vĩnh Phú

trên cơ sở sát nhập xí nghiệp đá Đồn Hang vào xí nghiệp xi măng

Thanh Ba với 520 cán bộ, công nhân viên. Trong thời gian này ngoài các

sản phẩm truyền thống xí nghiệp còn mở rộng sản xuất và đa dạng

hoá các sản phẩm nh: xi măng trắng, gạch lát hoa cung cấp cho các

tỉnh thành nh Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh. Chính nhờ những

điều đó mà xí nghiệp sản xuất ổn định và có bớc phát triển mới.



-



Năm 1986-1988 UBND tỉnh Vĩnh Phú đã quyết định sát nhập Xí

nghiệp đá Thanh Ba, xí nghiệp đá Hơng Cần, xí ngiệp puzolan vào

xí nghiệp liên hợp xi măng - đá - vôi Vĩnh Phú.



Sản lợng sản phẩm chính của xí nghiệp liên tục tăng trởng từ năm 1982:

7.000 tấn xi măng; 35.000 m3 đá các loại; nộp ngân sách 3.720.000 đồng



Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam



4



đến năm 1989: 15.000 tấn xi măng; 69.000 m 3 đá các loại; nộp ngân sách

14.200.000 đồng.

-



Ngoài các sản phẩm chính xí nghiệp còn sản xuất đá xẻ, gạch ốp, gạch

granito, gạch hoa, panen làm phong phú thêm mặt hàng và ổn định

việc làm, cải thiện đời sống ngời lao động.



-



Từ năm 1989-1993 Nhà nớc giao quyền chủ động cho các doanh

nghiệp tự hoạch toán kinh doanh. Năm 1992 xí nghiệp đầu t dây

chuyền sản xuất xi măng công nghệ lò đứng của Trung Quốc công

suất 6 vạn tấn xi măng/năm với tổng mức đầu t 17 tỷ đồng. Đây là

day chuyền sản xuất xi măng lò đứng cơ giới hoá và tự động hoá thiết

bị của Trung Quốc đầu tiên lắp đặt ở Việt Nam



-



Ngày 20/9/1994 UBND tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số 1287 QĐ/UB

đổi tên Xí nghiệp liên hiệp Đá vôi Vĩnh Phú thành Công ty Xi măng Đá - Vôi Vĩnh Phú: Cũng năm này Công ty mở rộng sản xuất, đầu t xây

dựng dây chuyền 2 sản xuất xi măng lò đứng công nghệ và thiết bị

Trung Quốc công suất 8 vạn tấn xi măng/năm nâng tổng công suất của

Công ty lên 14 vạn tấn xi măng với tổng đầu t là 50 tỷ đồng.



-



Năm 1997 tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú

Thọ, Công ty Xi măng - Đá - Vôi Vĩnh Phú đợc đổi tên thành Công ty xi

măng Đá Vôi Phú Thọ. Từ năm 1994-1998 với 1300 lao động mỗi năm

chỉ sản xuất và tiêu thụ đợc 7-8 vạn tấn xi măng, đây là thời kỳ khó

khăn nhất của công ty.



-



Từ năm 1999 - 2000 để thoát khỏi khó khăn Công ty đã sắp xếp lại lực

lợng sản xuất, phát huy hết công suất thiết bị, cải tiến nâng cao chất

lợng.



-



Từ năm 2001 đến nay Công ty đã xây dựng áp dụng và duy trì hệ

thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000. Chất lợng sản phẩm xi măng của Công ty đã hợp chuẩn quốc gia, liên tục từ

năm 1998 đến nay sản phẩm xi măng luôn đợc chứng nhận sản phẩm

xi măng Pooclăng hỗn hợp PCB 30 phù hợp tiêu chuẩn TCVN 6260:1997.



-



Năm 2002 Công ty lắp đặt thêm 1 máy nghiền bi 2,2 x 7 m; năm

2004 cải tạo mở rộng 2 lò nung clinker nâng công suất nghiền xi măng

lên 200.000 tấn năm. Sản lợng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xi măng

của Công ty tăng từ 135.000 tấn năm 2002 lên 198.000 tấn năm 2005

tăng 46%. Song song với việc nâng công suất sản xuất năm 2004 Công

ty đã đầu t hàng tỷ đồng để xây dựng và lắp đặt hệ thống xử lý

khói bụi và nớc thải ra môi trờng, đảm bảo môi trờng xanh sạch đẹp.



-



Tiếp tục mở rộng sản xuất đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng và

đa dạng hoá sản phẩm đảm bảo môi trờng sản xuất theo chủ trơng

phát triển ngành xi măng đến năm 2010 của Chính phủ, năm 2005

Công ty đã triển khai xây dựng nhà máy xi măng lò quay phơng pháp

khô công suất 350.000 tấn xi măng/năm với tổng mức đầu t khoảng

350 tỷ VNĐ. Dự kiến quý IV năm 2007 đa vào sản xuất.



Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam



5



1.3 Đội Sản xuất sạch hơn

Đội SXSH đã đợc thành lập bao gồm các thành viên sau để thực hiện và duy

trì SXSH trong công ty.

Bảng 1



Đội Sản xuất sạch hơn

TT



Tên



Chức vụ



Vai trò trong

đội



1



Nguyễn Văn Độ



P. Tổng GĐ phụ trách kỹ thuật

SX



Đội trởng



2



Hà Thị Thơm



Trởng phòng Kỹ thuật



Thành viên



3



Nguyễn Xuân

Sơn



Phó Phòng Kỹ thuật



Thành viên



4



Nguyễn Huy Hiền



Phó Phòng KCS



Thành viên



5



Lê Anh Dũng



Thờng trực Công đoàn



Thành viên



6



Nguyễn Công Ban



Trởng Phòng an toàn pháp chế



Thành viên



7



Nguyễn Phi Tuyên



Phó Quản đốc Phân xởng thành

phẩm



Thành viên



8



Nguyễn Đình

Thành



Quản đốc Phân xởng lò nung



Thành viên



9



Nguyễn Văn Đợc



Quản đốc Phân xởng nguyên

liệu



Thành viên



10



Nguyễn Đức Giảng



Đốc ca phân xởng nguyên liệu



Thành viên



11



Lê Quang Thắng



Quản đốc Phân xởng cơ khí



Thành viên



12



Lê Đức Trung



Nhân viên phòng Kỹ Thuật



Thành viên



13



Hà Đức Long



Trởng Phòng Kế hoạch



Thành viên



14



Phùng Thị Kim

Xuyến



Nhân viên phòng Kỹ thuật



Thành viên



15



Phạm Xuân Hoà



Trởng Phòng Hành chính



Thành viên



Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam



6



2 Tổng quan về sản xuất

2.1 Mô tả về các công đoạn sản xuất

Đá vôi đợc khai thác tại mỏ có kích thớc 350-500mm đợc đa vào máy đập hàm

gia công sơ bộ xuống kích thớc 70mm, rồi đợc băng tải chuyển vào máy

đập búa gia công tới kích thớc 25mm. Ra khỏi máy búa, đá vôi đợc gầu tải

chuyển lên silô đá vôi.

Sét từ kho chứa đợc cân trộn với các phụ gia điều chỉnh nh cao silic, quặng

sắt... qua băng tải vận chuyển tới máy cán và đợc gia công tới kích thớc

20mm, sau đó đợc sấy trong máy sấy thùng quay tới độ ẩm 2%. Sau sấy sét

đợc gầu tải chuyển lên silô sét.

Than từ bãi chứa đợc vận chuyển về phân xởng gia công nhiên liệu và đợc đa vào máy sấy thùng quay sấy tới độ ẩm 2 - 5% và dự trữ trong silô than.

Nguyên liệu đá vôi, sét, than, phụ gia điều chỉnh và phụ gia khoáng hoá

(nếu có) đã đợc gia công sơ bộ, chứa ở các silô, đợc tháo qua cửa van ở đáy

silô và phếu nạp của hệ thống cân định lợng. Tại đây nguyên liệu đợc định

lợng theo tỷ lệ quy định của đơn phối liệu và cấp xuống băng tải cao su và

đợc đa tới cửa nạp liệu của máy nghiền. Tại máy nghiền nguyên liệu đ ợc

nghiền thành bột mịn, sau đó đợc qua máy phân ly chia thành hai loại: loại

đạt độ mịn 8-10% tính theo lợng d trên sàng 0,08mm đợc vít tải và gầu tải

đa về silô chứa bột phối liệu; loại liệu thô đợc đa trở lại máy nghiền.

Bột phối liệu đợc tháo ra từ silô đợc trộn đều nhờ hệ thống vít tải một trục

và hai trục tới khi đồng nhất và đựoc chứa trong silô đồng nhất.

Bột liệu đã đồng nhất sau đó đợc vít tải và gầu tải chuyển lên két chứa, sau

đó đợc đa tới cân vít định lợng rồi chuyển vào máy trộn ẩm. Tại đây bột

liệu đợc trộn đều với nớc tới độ ẩm 12-14% rồi qua ống dẫn hớng xuống máy vê

viên thành các viên có kích thớc 8-12mm. Ra khỏi máy vê viên, các viên liệu đợc

băng tải đa tới lò nung và đợc rải vào lò hình lòng chảo nhờ máy rải liệu

phễu quay đặt trên chóp lò.

Lò nung đợc cấp gió (không khí) từ quạt Rood thổi từ dới lên. Không khí đi

qua zone làm nguội (trao đổi nhiệt với clanhke nóng để làm nguội clanke),

zone nung (cấp oxy cho quá trình cháy than), zone sấy (trao đổi nhiệt với

viên phối liệu mới vào lò làm viên liệu nóng dần lên) rồi thoát ra ngoài qua ống

khói (khí thải lò nung).

Các viên liệuđi từ trên xuống qua zone sấy, zone nung, zone làm nguội của lò.

Tại các zone này các quá trình lý - hoá xảy ra và các viên liệu đợc nung thành

clanhke.

Ghi quay khi hoạt động sẽ nghiền clanhke thành cục có kích thớc 100mm

rơi xuống bầu lò xuống ống làm kín. Nhờ thiết bị tia gamma đặt ở nơi ống



Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam



7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Mô tả công ty

Tải bản đầy đủ ngay(49 tr)

×