Tải bản đầy đủ - 105 (trang)
Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ - 105trang

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG

CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ NHỮNG

TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1. Các khái niệm về hoạt động khai thác

- Khai thác mỏ: là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ

lòng đất, thường là thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác

từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi,

đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng

trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác

từ mỏ. Khai thác mỏ theo nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài

nguyên không tái tạo như: dầu mỏ, khí thiên nhiên hoặc thậm chí cả nước.

- Hoạt động khai thác đá: là một loại hình khai thác khoáng sản lộ thiên các loại

đá hay khoáng. Khai thác đá thường cung cấp nguồn vật liệu cho xây dựng như

các loại đá có kích thước lớn như đá hộc, đá vôi, đá ong, đá hoa cương …Ngoài

ra, còn cung cấp cho các ngành chế tác, mỹ nghệ các sản phẩm từ đá như đá lát,

đá tạc tượng… (theo Wikipedia). Các loại đá được khai thác từ mỏ đá bao gồm:

đá phấn(chalk), đá phấn sét/cao lanh(chalk clay), đá bọt (clinder), cát(sand),

sỏi(gravel), đá granit(granite), đá vôi (limestone), thạch cao (gypsum), đá cẩm

thạch(marble), đá phiến(slate), sa thạch(slate) và các loại quặng(ores). Nhiều

loại đá như đá cẩm thạch(marble), đá granite(granite), đá vôi(limestone), đá sa

thạch(sandstone) sau khi khai thác được cắt thành các tấm lớn. Bề mặt đá được

gia công với các mức độ khác nhau và được sử dụng trong các ngành khác

nhau, đặc biệt là trong xây dựng vì có độ bền cao, do đó vừa là mặt hàng hấp

dẫn đồng thời là vật liệu được ưa chuộng sử dụng.



1.1.1.2. Khái niệm môi trường

- Môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Con người sống trên Trái

đất, nên môi trường của loài người chính là không gian bao quanh Trái đất, có

quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài



người. Trong Địa



lí học, người ta gọi đó là môi trường xung quanh hay mô i trường địa lí [9].

- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các thành phần của tự nhiên: Địa hình, địa chất,

đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật. Môi trường tự nhiên xuất hiện trên bề mặt

Trái đất không phụ thuộc vào con người. Con người tác động vào tự nhiên, làm

cho nó bị biến đổi, nhưng các thành phần của tự nhiên vẫn phát triển theo quy

luật riêng của nó [9].

- Môi trường sống của con người, tức là hoàn cảnh bao quanh có ảnh hưởng

đến sự sống, sự phát triển và chất lượng cuộc sống của con người. Môi trường

sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên (địa hình, địa chất, đất, khí

hậu, nước, sinh vật), môi trường xã hội (quan hệ xã hội trong sản xuất, trong

phân phối, trong giao tiếp), môi trường nhân tạo (các đối tượng lao động do con

người sản xuất ra và chịu sự chi phối của con người) [9].

Môi trường có ba chức năng chính là: không gian sống của con người,

nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên, nơi chứa đựng các chất phế thải do con

người tạo ra, do vậy, con người có thể làm nâng cao hoặc làm suy thoái chất

lượng môi trường, chính điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của

xã hội loài người [9]..

- Ô nhiễm môi trường tự nhiên là sự làm thay đổi tính chất vật lí, hóa học... của

môi trường bởi các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm là những chất độc hại

được thải ra trong quá trình sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hay trong các

hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng, hoặc các chất khác

[9].



- Suy thoái môi trường tự nhiên là sự làm thay đổi chất lượng, số lượng của các

thành phần tạo ra môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người

và thiên nhiên [9].

- Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động

sản xuất của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên gây suy thoái

môi trường nghiêm trọng gồm: bão lụt, hạn hán, sạt lở đất, hỏa hoạn, cháy

rừng, sự cố kĩ thuật gây nguy hại đến môi trường của cơ sở sản xuất kinh

doanh, công trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật [12].

- Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện từ những năm đầu của thập

kỷ 80 thế kỷ 20, điển hình có khái niệm do tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài

nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) đưa ra: “Sự phát triển của nhân loại

không thể chỉ chú trọng đến sự phát triển kinh tế mà phải tôn trọng những nhu

cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” [11].

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 qua báo cáo

Brundtland (còn gọi là báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường

và Phát triển Thế giới - WCED. Báo cáo này ghi rõ Phát triển bền vững là “sự

phát triển có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại

đến những khả năng đáp ứng những nhu cầu trong tương lai…” [11].

Hội nghị môi trường toàn cầu tại Rio de Janerio (6/1992) đưa ra khái

niệm: "Phát triển bền vững nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn

tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển

kinh tế.".

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới và phát triển bền vững nhóm

họp với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế,

xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết và đưa ra quyết sách

liên quan đến các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa

dạng sinh thái.



Phát triển bền vững hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia

trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý,

văn hóa…riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó, nhằm

đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường

được bảo vệ, giữ gìn….

1.1.1.3. Khái niệm quan trắc môi trường

Quan trắc môi trường là một quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc

nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của các thành phần môi

trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và

quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính

xác cao và có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường [25].

Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi

trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo

vệ môi trường và phát triển bền vững.

Như vậy, hoạt động quan trắc môi trường sẽ thực hiện các nhiệm vụ gồm:

Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia,

phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường; Cung cấp các đánh giá

về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng trọng điểm được quan trắc để

phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi

trường; Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm,

suy thoái môi trường; Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ

việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

Và để có kết quả quan trắc môi trường thì các cá nhân, tổ chức phải xây

dựng được kế hoạch quan trắc môi trường. Kế hoạch quan trắc môi trường là

một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất

định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm,

tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bị, phương pháp phân

tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện.



Và trên cơ sở kết quả quan trắc có được, ta sẽ tiến hành phân tích, đánh

giá hiện trạng, chất lượng môi trường tại nơi khảo sát như môi trường không

khí, môi trường nước, môi trường đất, môi trường sinh thái, cảnh quan...

1.1.2. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên



Hoạt động khai thác khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường tự

nhiên. Nhiều khu vực khai thác mỏ đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng về ô

nhiễm nguồn nước do nước thải của mỏ trong quá trình sản xuất không được

xử lý. Thành phần và tính chất nước thải thường có tính a xít, có chứa kim loại

nặng, khoáng chất…Kết quả quan trắc quí I,II năm 2009 tại Quảng Ninh cho

thấy độ pH của nước thải mỏ than dao động từ 3,1 - 6,5, hàm lượng chất rắn lơ

lửng (TSS) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 - 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt hơn 8

lần… Nước thải mỏ phần lớn chưa qua xử lý (trước năm 2009 các công ty than

của Tổng công ty khai thác khoáng sản Việt Nam (TKV) ở Quảng Ninh mới

chỉ có 1 đơn vị có hệ thống xử lý nước thải mỏ) và thải trực tiếp ra hệ thống

sông suối gây ô nhiễm nguồn nước, bồi lấp sông suối... Kết quả kiểm tra hoạt

động khai thác khoáng sản trên địa bàn một số tỉnh cho thấy, tại tất cả các khâu

sản xuất của dây chuyền công nghệ khai thác và chế biến đều gây ra hàm lượng

bụi vượt tiêu chuẩn cho phép phép từ 30 đến 100 lần; riêng tỷ lệ hạt bụi chiếm

từ 41,6 - 83,3 mg/m3 không khí và có hàm lượng SiO 2 từ 3% - 12%, đặc biệt ở

các mỏ than, mỏ đá. Đối với chất thải rắn và chất thải nguy hại, khai thác 1 tấn

than bằng công nghệ lộ thiên thải ra khoảng 4 - 6 m3 đất đá thải, cá biệt có lên

đến 7 - 8 m3; khai thác hầm lò thải khoảng 2 m 3/tấn than; tuyển than thải 0,3

m3/tấn than (Theo báo cáo của TKV, khối lượng bốc đất đá khai thác than tại

Quảng Ninh hàng năm khoảng 200 - 216 triệu m3). Vị trí các bãi thải hầu hết

đều tập trung ở các khu vực đầu nguồn sống suối, một số bãi thải lớn tập trung

lân cận khu dân cư… hầu hết chưa được cải tạo ảnh hưởng đến cảnh quan khu

vực, sạt lở gây bồi lấp sông suối và tiềm ẩn nguy cơ tai biến môi trường. Trong

1 năm lượng chất thải nguy hại ở Quảng Ninh do khai thác than như dầu thải



khoảng 960 tấn và 162 tấn ắc qui. Mặc dù chất thải nguy hại rất lớn nhưng cho

đến nay chưa được quản lý theo đúng quy định. Tại các khu vực khai thác sa

khoáng titan ven biển miền Trung, các chất thải quặng trong quá trình khai

thác, tuyển quặng ilmenite, Zircon…có trường phóng xạ khá cao, khả năng

phát tán phóng xạ rất lớn gây nguy hại cho sức khoẻ người lao động và dân cư

lân cận…[25]….

Khai thác mỏ cũng đồng nghĩa với việc phải đánh đổi phá huỷ nhiều

cảnh quan môi trường trên đất như thảm thực vật rừng gắn với phong cảnh

thiên nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan vùng ven biển… Thay đổi địa hình

diễn ra nhiều nhất ở các khu vực có khai thác lộ thiên. Chất thải rắn, không sử

dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô,

xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá như khai thác than ở Quảng Ninh

phá huỷ nhiều ha rừng tự nhiên, rừng ngập mặn ven biển, ảnh hưởng đến vùng

danh lam thắng cảnh, các bãi đổ thải đã tạo nên những khu đồi cao nhân tạo

200 - 300 m. Khai thác sa khoáng titan ven biển miền Trung phá huỷ cảnh

quan, rừng phòng hộ, đê cát tự nhiên ven biển… Đặc biệt ở những khu vực

khai thác "thổ phỉ", khai thác vàng, đá quý… tình hình còn diễn ra phức tạp và

ảnh hưởng đến địa hình và cảnh quan rất nhiều, ¾ xói mòn rửa trôi, sạt lở đất,

xói lở bờ sông, bờ biển và sự cố môi trường. Những thay đổi về địa hình dẫn

đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố của dòng chảy trong khu

mỏ như: thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt,

chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v... Việc đổ đất

đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng

ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận. Khi có mưa lớn thường gây ra

các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa

màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá… có nguy

cơ gây sự cố môi trường gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã

hội. Tại Quảng Ninh, hiện tượng xói mòn rửa trôi, xói mòn rãnh và trượt lở đất



xảy ra rất phổ biến trên các khai trường khai thác than hay trên các tuyến

đường vận chuyển và đặc biệt thường xảy ra ở các bãi đổ thải. Trên thực tế đã

xảy ra sự cố vỡ đập Khe Rè, lũ tích luỹ làm hỏng đường 337, làm thay đổi bờ

sông, bờ biển gây bồi lắng, ô nhiễm nguồn nước sông, nước biển Vịnh Hạ

Long...[25].

Ảnh hưởng đến tài nguyên và ngành kinh tế khác: Công nghiệp khai thác

khoáng sản ở Việt Nam hiện nay đã chiếm dụng một khu vực đất đai rộng lớn

với hơn 41 nghìn ha (Kiểm kê đất đai 2005). Hoạt động khoáng sản đã gây ra

tranh chấp tài nguyên (đất, rừng, nguồn nước…) và phải lựa chọn sự đánh đổi

với phát triển các ngành kinh tế khác như nuôi trồng thủy sản; nông nghiệp;

lâm nghiệp; du lịch; bảo tồn di tích văn hoá, lịch sử và cảnh quan môi trường;

xây dựng công trình kinh tế xã hội…Hoạt động khai thác khoáng sản đã phá

huỷ hàng nghìn ha rừng nhiệt đới có tính đa dạng sinh học cao; đất đai, thổ

nhưỡng bị biến dạng…môi trường đất đai, nguồn nước ở vùng khai thác bị suy

thoái, ô nhiễm nghiêm trọng. Nhiều vùng khoáng sản bị đào, khai thác trái phép

không được hoàn thổ đã gây hậu quả xấu đến môi trường nước, môi trường đất,

gây ảnh hưởng đến việc canh tác nông nghiệp của nhân dân trong vùng, làm

cho mùa màng bị giảm năng suất. Quản lý, thực hiện và giám sát BVMT yếu

kém. Một số tổ chức, cá nhân chưa nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo

vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản. Một số đơn vị đã lập báo

cáo ĐTM nhưng chưa thực hiện đúng các nội dung của báo cáo như: Không

thực hiện các biện pháp BVMT, thiếu trách nhiệm về giảm thiểu bụi, tiếng ồn,

xử lý nước thải…kể cả khi cộng đồng và địa phương phản ánh, khai thác

khoáng sản chưa có quy hoạch bãi thải và hệ thống xử lý nước thải, chưa thực

hiện được phục hồi môi trường cũng như, chưa thực hiện đầy đủ việc quan trắc

và báo cáo môi trường định kỳ…Ở nhiều vùng khai thác khoáng sản cho thấy,

ĐTM được lập nhưng công tác quản lý, giám sát BVMT của các cơ quan quản

lý nhà nước chưa được thực hiện đúng theo yêu cầu nội dung của báo cáo



ĐTM, đặc biệt là vai trò tham gia giám sát của các tổ chức xã hội, cộng đồng

địa phương còn yếu. Hoạt động cải tạo, phục hồi môi trường chưa thực hiện

được nhiều, chủ yếu là mới ở dạng mô hình; đặc biệt là tình trạng khai thác trái

phép không được hoàn thổ đã gây hậu quả xấu đến môi trường nước, môi

trường đất, gây ảnh hưởng đến việc canh tác nông nghiệp của nhân dân trong

vùng, làm cho mùa màng bị giảm năng suất. Nhiều mỏ đã hoạt động khai thác

từ lâu, nhưng đến nay vẫn chưa có mục tiêu rõ ràng về việc sử dụng đất sau khi

kết thúc khai thác.

1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác đá vôi



Hoạt động khai thác đá vôi hiện nay bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như

môi trường pháp lý, Luật khoáng sản, nhu cầu về vật liệu xây dựng và nguyên

liệu cho các ngành công nghiệp, nhu cầu giải quyết công ăn việc làm cho nhân

dân địa phương...

Môi trường pháp lý, Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 do Quốc hội

khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010 có hiệu lực thi hành từ ngày

25/4/2012 thay thế Luật khoáng sản năm 1996. Nghị định số 15/2012/NĐ-CP

ngày 09/03/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật

khoáng sản; Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/03/2012 quy định về quyền

đấu giá khai thác khoáng sản; quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011của

Thủ tướng phê duyệt chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 [25].

Nhu cầu về vật liệu xây dựng và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.

Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng có bước đột phá

lớn đòi hỏi khối lượng lớn khoáng sản, vật liệu xây dựng để đáp ứng. Vì vậy,

hàng loạt mỏ mới với các quy mô vừa và nhỏ được mở ra trên khắp mọi miền

đất nước. Một số khoáng sản được khai thác chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu

như: quặng ilmenit, chì-kẽm, crôm, thiếc, mangan, quặng sắt, các loại đá cao

cấp cho xây dựng...Sản phẩm xuất khẩu dưới dạng quặng thô, quặng tinh



hoặc đã được chế biến. Nhu cầu xuất khẩu quặng có xu hướng gia tăng trong đó

có than sạch. Chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và một

số nước khác.

Nhu cầu giải quyết công ăn việc làm của nước ta lớn. Với lực lượng lao

động trẻ, khoẻ, phần lớn là lao động phổ thông, cần có việc làm đang ngày càng

gia tăng. Tài nguyên khoáng sản của nước ta nói chung phân bố trên diện rộng,

đa dạng, phong phú về chủng loại và nhu cầu đáp ứng cho thị trường ngày một

tăng, nên một bộ phận lớn lao động còn chưa có việc làm đã tham gia hoạt

động khai thác khoáng sản. Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế

kinh tế thị trường đã làm xuất hiện nhiều thành phần kinh tế. Ngoài các doanh

nghiệp nhà nước, còn có các thành phần kinh tế khác. Trong số các doanh

nghiệp được thành lập có nhiều doanh nghiệp đăng ký ngành nghề kinh doanh

liên quan đến hoạt động khoáng sản. Một lực lượng khác là các tổ hợp kinh

doanh, khai thác khoáng sản hình thành ở hầu hết các huyện, xã. Lực lượng này

chủ yếu tham gia kinh doanh, khai thác các loại khoáng sản làm vật liệu xây

dựng thông thường (đá, cát, sỏi...), hình thức khai thác rất linh hoạt, phong phú,

theo mùa vụ…,để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nguyên liệu khoáng sản cho xây

dựng tại địa phương. Vì vậy, hiện nay việc khai thác và chế biến khoáng sản

đang được tiến hành rộng rãi ở các địa phương. Bên cạnh việc đóng góp tích

cực vào công cuộc phát triển của đất nước, các hoạt động này cũng góp phần

không nhỏ vào việc gây ô nhiễm môi trường sống, tác hại đến sức khoẻ của con

người và sự phát triển bền vững của đất nước. Ngày nay, với tình trạng người

lao động không có việc làm và tỷ lệ thất nghiệp khá cao trong xã hội hiện nay

thì nhu cầu giải quyết việc làm là rất cần thiết. Các mỏ đá mở ra cũng đã tạo cơ

hội cho rất nhiều lao động đang không có việc làm ở địa phương có việc làm.

Cùng với sự tham gia của cộng đồng, các vấn đề xã hội nói chung cũng như các

vấn đề kinh tế được người dân quan tâm, tham gia và đóng góp các ý kiến của

mình nhằm đảm bảo quyền lợi của họ. Do vậy, sự đồng thuận của người dân tại



khu vực dự án diễn ra có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, các vấn đề

về an ninh trật tự cũng được người dân hết sức quan tâm, vì vậy yêu cầu đối

với các khu khai thác mỏ cần phải có các biện pháp đảm bảo an ninh trật tự cho

khu dân cư. Theo thời gian, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vấn đề

môi trường ngày càng được quan tâm hơn; điều này được thể hiện thông qua

các văn bản pháp quy quy định về môi trường (luật, nghị định, thông tư, quy

chuẩn, tiêu chuẩn…) và sự quan tâm của người dân đối với vấn đề môi trường.

Việc đặt ra các quy định về mặt môi trường và sự thắt chặt dần các quy định

này buộc các nhà đầu tư và khai thác phải có biện pháp khai thác, hoạt động

giảm các tác động tới môi trường, nâng cấp dần các công nghệ khai thác chế

biến để đáp ứng các yêu cầu đặt ra.

1.1.4. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá vôi đến môi trường tự nhiên



Hoạt động khai thác đá vôi có ảnh hưởng rất lớn tới môi trường, trong

đó đặc biệt là môi trường tự nhiên như không khí, nước, đất đai, sinh thái và

cảnh quan.

* Ảnh hưởng đến không khí

Theo Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, vấn đề môi trường ở

địa phương đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ô nhiễm nguồn

nước và rác thải, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở những khu vực xung

quanh mỏ đá. Trong quá trình khai thác chế biến và vận chuyển đá sinh ra rất

nhiều bụi gây ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của

người dân. Những ngày trời nắng, bụi bay mù mịt, nhất là khi có xe ô tô tải

chạy qua, trong khi trời mưa thì đường lênh láng nước, là mối nguy hiểm

thường trực cho người dân…..

* Gây tiếng ồn

Theo Bộ Tài Nguyên Môi Trường, máy xay đá, bột đá, xe cộ đi lại hoạt

động cả ngày lẫn đêm gây ồn ào và khó chịu cho người dân sống xung quanh

khu vực khai thác đá. Bên cạnh đó, tiếng ồn còn gây ảnh hưởng đến sinh hoạt



hàng ngày của một bộ phận người dân sống ngay cạnh các mỏ đá. Nhiều đơn vị

khai thác đá còn khai thác cả ban đêm, gây ảnh hưởng đến giờ nghỉ ngơi của

người dân và giờ học tập của con cái các hộ dân cạnh đó. Ô nhiễm do độ ồn

cũng đã ở mức nghiêm trọng, nhất là ở bán kính 200m cách điểm nổ mìn và

trong thời gian nổ mìn. Ô nhiễm ồn cũng xảy ra ở các khu vực ven đường vận

chuyển đá vôi. Ô nhiễm do độ rung xảy ra trong bán kính khoáng 300m cách

điểm nổ mìn. Tuy nhiên, tác động do rung chưa ảnh hưởng rõ rệt đến các công

trình lịch sử, tôn giáo, công trình quốc phòng. Mặc dù các doanh nghiệp hoạt

động với quy mô lớn hay nhỏ, đầu tư công nghệ tiên tiến đến đâu cũng chỉ hạn

chế được một phần nhỏ các chấn động về rung và ồn ào. Mặt khác, các doanh

nghiệp vì chạy theo lợi nhuận nên chưa quan tâm đến đời sống của người dân

nên vẫn có tình trạng khai thác đá cả ngày lẫn đêm ở các địa phương.

*Ảnh hưởng đến nguồn nước

Theo Bộ Tài Nguyên Môi Trường, khai thác đá cần một lượng lớn nước

để giảm bụi trong quá trình khai thác cũng như khắc phục bụi khi vận chuyển.

Để thỏa mãn nhu cầu này, mỏ đã "chiếm" nguồn nước mặt và nước ngầm cần

thiết cho nông nghiệp và sinh hoạt của người dân vùng lân cận. Bên cạnh đó,

việc cung cấp nước ngầm có thể bị ảnh hưởng do các thiết bị khai thác đá thải

ra rất nhiều dầu mỡ. Những tác động này bao gồm rút nước có thể sử dụng

được từ những túi nước ngầm nông; hạ thấp mực nước ngầm của những vùng

lân cận và thay đổi hướng chảy trong túi nước ngầm, ô nhiễm túi nước ngầm có

thể sử dụng được nằm dưới vùng khai mỏ do lọc và thẩm nước chất lượng kém

của nước mỏ, tăng hoạt động lọc và ngưng đọng của những đống đất từ khai

mỏ. Ở đâu có đá vôi hoặc chất thải từ khai thác đá, tăng hoạt động lọc có thể

tăng chảy tràn của nước chất lượng kém và xói mòn của những đống phế thải,

nạp nước chất lượng kém vào nước ngầm nông hoặc đứa nước chất lượng kém

vào những suối của vùng lân cận dẫn đến ô nhiễm cả nước mặt lẫn nước ngầm

của những vùng này. Hóa chất còn lại sau khi nổ mìn thường là độc hại và tăng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(105 tr)

×