Tải bản đầy đủ - 83 (trang)
Biêu đô 1. Sô phát hiện HIV/AIDS và phát hiện qua các năm ở Việt Nam

Biêu đô 1. Sô phát hiện HIV/AIDS và phát hiện qua các năm ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 83trang

16



thay đổi về miễn dịch ở bệnh nhân HIV/ AIDS. Năm 2006, Trịnh Thị Minh Liên,

Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Văn Hà đã nghicn cứu đánh giá lâm sàng, thay đồi



số lượng tế bào CD4 và nồng độ virus HIV ở bệnh nhân AIDS sau 6 tháng điều



trị thuốc kháng virus (ARV) tại viện YHLSNĐ. Tác giá xác định tải lượng virus

trung bình trước khi đưa vào điều trị ARV tại Viện các bệnh Truyền Nhiễm và



Nhiệt đới quốc gia là 173.934 copies/ml (số lượng CD 4 trung bình là 108

TB/mm3).

Nguyền Tiến Lâm và cộng sự qua nghiên cứu 195 bệnh nhân nhập viện

năm

2010 cho thấy: Bệnh nhân phần lớn là nam giới (71,8 %), tuổi trung bình 34,15 ±

7,2.

Đường lây truyền chính là tiêm chích ma túy (63,6 %) và quan hệ tình dục không

an



toàn (52,5 %). Các nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất là nhiễm nấm Candida

miệng



họng (41,5 %), lao (23,1 %), nhiễm nấm p.marneffeu (21,5 %), viêm não do

Toxoplasma (13,8 % ), viêm phổi do vi khuẩn ( 8,1 % ), tiêu chảy kéo dài (5,6 %),

viêm võng mạc do CMV (3,6 %), viêm phổi do pneumocystis (3,1 %), viêm gan

virus

(4,1 %), nhiễm MAC (1,5 %).

Việt Nam đã và đang tiến hành mở rộng mạnh mẽ chương trình điều trị

ARV trong vòng 5 năm qua. Tính đến ngày 31/5/2012, ước tính có khoảng

62.654 người lớn và 3.537 trẻ em (dưới 15 tuổi) đã được điều trị ARV. Khi số

lượng người được xét nghiệm và tham gia vào các chương trình chăm sóc và



17



điều trị tăng lên, việc tìm ra các phương pháp để cung cấp các dịch vụ có chất

lượng và đạt chi phí/ hiệu quả cho nhừng người có nhu cầu ngày càng trở nên

cấp thiết. Năm 2004, WHO đã đưa ra hướng dần điều trị ARV cho các quốc gia

nghèo nguồn lực trong đó có Việt Nam. Do đó việc lựa chọn điều trị được tập

trung vào 2 phác đồ gọi là "phác đồ bậc 1" và "phác đồ bậc 2".



18



Tại tinh Nghệ An: Theo sô liệu thông kê của Trung tâm phòng chông

HIV/AIDS tỉnh đến tháng 9/2011 (chỉ tính riêng người Nghệ An) toàn tỉnh có

6.065 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 3.266 bệnh nhân đã chuyển sang giai

đoạn AIDS, 1.954 người đã tử vong do AIDS, 388/479 xã, phường, thị trấn của

20 huyện, thành, thị có người nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV chiếm

13,98%, nam giới chiếm 86,02%; phần lớn tập trung từ độ tuổi 20 - 39 (chiếm

88,9%). Tính tháng 9 năm 2013, lũy tích số người nhiễm H1V trên địa bàn toàn

tỉnh là gần 7000 người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 3830, số người đã từ

vong do AIDS là 2.127 người ở 20/20 huyện, thành thị. Có 403/ 480 xã, phường,

thị trấn đã phát hiện có người nhiễm HIV. Trong nhừng năm gần đây, tỷ lệ người

nhiễm HIV/AIDS ở đồng bằng có xu hướng giảm nhưng lại gia tăng ở các huyện

miền núi như Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu...Nguyên nhân chính dần

đến tình trạng gia tăng người nhiễm ở các huyện miền núi là hành vi tình dục

không an toàn và sử dụng ma tuý khá phổ biến. Trao đổi với chúng tôi BS Trịnh

Hùng Tiến - Phó giám đốc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS trăn trở: Có thể

nói hiện nay HIV là loại dịch có đầu vào mà chưa có đầu ra, đường truyền nhiốm

là do hành vi con người, thông qua chủ yếu tiêm chích ma tuý và tình dục không

an toàn, đây là 2 hành vi khiến cho con người khó kiếm soát được bản thân, nhất

là bà con ở vùng cao sự hiểu biết về phòng chống HIV còn thấp nên HIV có cơ

hội phát triển khá nhanh...điển hình như huyện Quế Phong, cách đây 8 năm số

người nhiễm HIV/AIDS của huyện đứng thứ 11/19 huyện, thành, thị xã nhưng

đến năm 2010 Quế Phong đứng thứ 3 của cà tỉnh về số người nhiễm, mồi năm

Quế Phong phát hiện khoảng 200 - 300 người nhiễm mới [40],

Theo đánh giá của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Nghệ An, trong số

các huyện có bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thì Quế Phong là huyện có tỷ lệ gia

tăng nhanh nhất. Cách đây mười năm thì Quế Phong đứng thứ 11 trong số các

huyện, thành có bệnh nhân nhiễm HIV, thì đến năm 2012 Quế Phong đã đứng

thứ 2 số người bị nhiễm mới, chỉ đứng sau TP Vinh và Tương Dương.



19



Theo sô liệu tại bộnh viện đa khoa huyện Quê Phong tính đen ngày

30/9/2013 cả huyện có 1030 người bị nhiễm HIV có 293 người chuyển sang giai

đoạn AIDS và đã có 286 người chết do bị AIDS.

Theo thống kê tại Trung tâm y tế huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An bệnh

nhân được lấy máu làm xct nghiệm phát hiện ca đầu tiên nhiễm H1V vào ngày

12/2/2000 (Trường hợp này đến cai nghiện, thường trú tại khối 4 thị trấn Kim

Sơn) đến tháng 9 năm 2013 phát hiện tại bệnh viện có 791 người bị nhiễm. Qua

thống kê số liệu tại bệnh viên huyện Quế Phong, số người bị nhiễm HIV/AIDS

hiện nay không chỉ dừng lại ở nhóm tiêm chích ma tuý mà nó đã lan rộng ra

cộng đồng với bao tệ nạn xã hội, ngày càng làm trẻ hoá độ tuổi, từ thanh thiếu

niên, học sinh, công nhân viên chức,vợ chồng, nhiều trẻ nhỏ. Nó làm ảnh hưởng

hạnh phúc của mồi gia đình, giảm khả năng lao động, gây hậu quả to lớn cho

việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mồi gia đình, huyện nhà và cho xã

hội, nó còn cướp đi bao tính mạng của con người, nó còn làm suy thoái đạo đức.

Làm thế nào để nhanh chóng tìm ra biện pháp để giảm thiểu tối đa tỷ lệ

người nhiễm H1V tại huyện Quế Phong đang là một vấn đề đang nan giải chúng

ta cùng tham khảo và bàn luận. [40].

Tình hình nhiễm HIV tại huyện Quế Phong được thống kế từ năm 2000

đến 2013 được thể hiện biểu đồ sau:



Biểu đồ 2. Nhiễm HIV từ năm 2000 đến tháng 9 năm 2013: 791 người



20



Từ biểu đồ trên cho thấy: Tổng hợp số người bị nhiễm HIV từ năm 2000 đến

tháng 9 năm 2013 được phát hiện tại bệnh viện đa khoa huyện Quế Phong tỉnh

Nghệ An đã tăng lên liên tục từ 1 trường hợp đầu tiên năm 2000 đến năm 2013

đã tới con số 791 người. Cao nhất là năm 2011 - 2012 là 200 trường hợp và đang

có xu hướng giảm dần đến tháng 9/2013 con số này giảm còn gần 100 trường

hợp.

Theo thông báo của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An

cho biết thì trong những năm gần đây trong tồng số bệnh nhân nhiễm HIV được

phát hiện mới cả tỉnh thì Quế Phong chiếm 1/2.

Dựa theo số liệu thống kê tổng hợp từ năm 2000 lấy máu xét nghiệm thì

có 01 người bị nhiễm HIV, năm 2004 xét nghiệm thì có 06 người bị nhiễm mới,

năm 2008 xét nghiệm thì có 59 người bị nhiễm, trong thòi gian này theo thông

báo của Trung tâm phòng chống H1V/AIDS của tỉnh Nghệ An huyện Quế Phong

có con số lây nhanh nhất trong 11 huyện thành, năm 2011 xét nghiệm tại bệnh

viện có 152 người bị nhiễm gấp 3 lần so với năm 2008, binh quân một tháng có

gần 13 người bị nhiễm HIV, năm 2012 xét nghiệm phát hiện có 197 đến 30

tháng 9 năm 2013 phát hiện 80 người bị so với cùng kỳ năm 2012 có giảm tới

1/2 với lý do hiện nay tại Trung tâm y tế huyện Quế Phong đã có phòng xét

nghiệm HIV và tư vấn miễn phí nên đã thu hút được một số người đến khám và

điều trị làm giảm số người đến XN tại bệnh viện. Qua đó chúng ta vẩn thấy rằng

mức độ gia tăng hàng năm người bị nhiễm HIV tính cấp số nhàn. Đày là số liệu

thực tế được tổng hợp của những người lấy máu tại bệnh viện còn bao nhiêu

người chưa được lấy máu để phát hiện (tảng băng chìm) có thể cao hơn nhiều so

với số liệu thực tế (Phụ lục).



21



* Phân tích sô liêu bi nhiêm HIV ỏ’các đô tuôi

•••



-Tổng số người bị lây nhiễm từ năm 2000 đến 30 tháng 9 năm 2013 có 791

người bị nhiễm.Trong đó được phân tích ở các độ tuối sau đây:

- Dưới 13 tuổi có 18 người chiếm 2,0%

- Từ 13 tuổi đến 19 tuổi có 121 người chiếm 15,0 %

- Từ 20 tuổi đến 29 tuổi có 448 người chiếm 57,0 %

- Từ 30 tuồi đến 39 tuổi có 158 người chiếm 20,0 %

- Từ 40 tuổi đến 49 tuổi có 42 người 5,0 %

- Trên 50 tuổi có 04 người chiếm 1,0 %

Trong tông 791 người phát hiện bị nhiễm HIV thì nam giới có 689 người

chiễm.87,1 %. Nữ giới có 102 người chiếm 12,9%.

1.2. Tình hình chăm sóc, hỗ trợ điều trị người nhiễm HIV/AIDS



22



Hoạt động chăm sóc, hồ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS đang

được coi là một trọng tâm của chương trình phòng, chống HIV/AIDS. Chăm sóc,

hồ trợ, điều trị làm giảm đau đớn về thể chất, tinh thần, giúp kéo dài cuộc sống

và tăng cường chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV/AIDS. Zămbia là một

trong những nước Châu Phi đầu tiên thực hiện dịch vụ chăm sóc HIV tại nhà.

Dịch vụ này đã được quốc tế công nhận vì đạt chất lượng cao. Hiện nay,ước tính

toàn cầu có 32,3 triệu người nhiễm HIV đang còn sống, tập trung chủ yếu ở các

nước đang phát triển, vấn đề hồ trợ thuốc điều trị kháng vi rút HIV hiệu quả cao

(bắt đầu thực hiện từ năm 1996) đã mở ra những triển vọng mới, mang lại hy

vọng kéo dài cuộc sống cho người nhiễm HIV/AIDS. Đến nay một số nước khác

thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương đã xây dựng chương trình chăm sóc, hồ trợ

và điều trị HIV/AIDS làm nền tảng cho việc mở rộng điều trị kháng HIV với

sựcam kêt mạnh mẽ của Chính phủ vê chi đạo, tài chính và sự tham gia tích cực

của các ban, ngành đoàn thể trong xã hội.

Theo khuyến cáo mới được công bố gần đây nhất của Tổ chức Y tế Thế

giới (WHO), sẽ có khoảng 3 triệu người được cứu sống trên toàn Thế giới từ nay

cho đến năm 2025 nếu các bác sỹ bắt đầu kê đơn thuốc cho bệnh nhân nhiễm

HIV sớm hơn so với hiện tại [41].



Một số nghiên cứu gần đây cho thấy uống thuốc kháng virus H1V sớm có

thề làm giảm đến 97% nguy cơ lây nhiễm H1V qua bạn tình. Đây được coi là

một kết quả rất khích lệ đối với những người làm công tác sức khỏe cộng đồng.

Hiện trên toàn Thế giới có khoáng 34 triệu người nhiễm HIV có nguy cơ

chuyển thành AIDS. Phần lớn trong số này sống ở các nước nghèo và đang phát



triển, đặc biệt là vùng Sahara ở châu Phi. Khuyến nghị này của WHO cũng phù

hợp với mục tiêu được Liên Hiệp Quốc đề ra vào năm 2011, đó là “ hướng tới



23



không còn người nhiễm mới HIV”. Theo mục tiêu này, Liên Hiệp Quốc hướng

tới giảm 50% các ca nhiễm HIV mới do quan hệ tình dục không an toàn vào năm

2015, loại trừ lây truyền từ mẹ sang con vào năm 2015 và giảm 50% số ca tử

vong ở bà mẹ bị nhiễm HIV/A1DS, giảm 50% các ca nhiễm mới HIV trong

những người tiêm chích ma túy vào năm 2015[41].



24



Tại Việt Nam, hệ thống chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV tại cộng đồng

đã được khởi động từ năm 1996 với chương trình quản lý, chăm sóc, tư vấn tại 3

tính, thành phố tới nay đã được thực hiện trên khắp cả nước. Đã thiết lập hệ

thống các phòng khám ngoại trú, phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VCT), gắn

tư vấn xét nghiệm H1V VỚI dự phòng lây truyền H1V từ mẹ sang con (PLTMC)

tại 40 tỉnh. Bên cạnh đó, để người nhiễm HIV có thể dễ dàng tiếp cận các dịch

vụ chăm sóc hồ trợ và điều trị, với sự hồ trợ của Dự án Quỳ toàn cầu về

HIV/AIDS, Bộ Y tế đã triển khai mô hình chăm sóc hồ trợ điều trị tại 100

huyệnthuộc 20 tính trong đó đã có 60 phòng khám ngoại trú tuyến huyện triển

khai

điều trị AIDS bàng thuốc kháng HIV trong đó có huyện Quế Phong.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng trong nghiên cứu này bao gồm 2 nhóm:



a) . Nhóm người nhiễm HIV/ẢIDS: Nhùng người bệnh nhiềm H1V đang

tham gia điều trị ARV ở phòng khám 3 trong 1 tại Trung tâm y tế huyện Quế

Phong, tỉnh Nghệ An.

Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân HIV đang được quản lý điều trị ARV tại

phòng khám HIV ngoại trú của huyện Quế Phong đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

Nam hoặc nừ trên 15 tuổi;



25



Bệnh nhân được chẩn đoán huyết thanh nhiễm HIV dương tính (theo kết

quả gứi mẫu khẳng định dương tính của Trung tâm phòng chống

HIV/AIDS tỉnh Nghệ An);

Số lượng tế bào CD4< 350 tế bào/mnr;

Bệnh nhân được điều trị bằng ARV.

Có đủ năng lực về tinh thần tra lời câu hỏi nghiên cứu

Đồng ý và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Tiều chuẩn loai trừ:

Người không thuộc sự quản lý và không đang trong quá trình điều trị ARV

của phòng khám ngoại trú huyện Quế Phong trong thời gian từ 1/2013 6/2014

Chưa sử dụng phác đồ bậc 2 theo qui định.



26



Người không đủ năng lực tinh thân trả lời câu hỏi nghiên

cứu

Người không đồng ý tham gia nghiên cứu

b) . Nhóm Cản bộ y tế: Những nhân viên y tế trực tiếp tham gia quản lý và

điều trị ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV tại huyện Quế Phong.

Tiều chuẩn lựa chọn:

Đang làm việc tại phòng khám ngoại trú và thuộc biên chê của Phòng

khám.

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiều chuẩn loai trừ:

7



Những nhân viên y tê không đông ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Địa điêm nghiên cứu

Nghiên cứu được chọn thực hiện tại Phòng khám ngoại trú cơ sở điều trị

HIV huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An.

2.3. Thòi gian nghicn cứu:

- Nghiên cứu được tiến hành trong 16 tháng (Từ tháng 01 năm 2013 đến

tháng 6 năm 2014).

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biêu đô 1. Sô phát hiện HIV/AIDS và phát hiện qua các năm ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(83 tr)

×