Tải bản đầy đủ - 83 (trang)
ARV 3 tháng, 12 tháng và 18 tháng.

ARV 3 tháng, 12 tháng và 18 tháng.

Tải bản đầy đủ - 83trang

trong tông sô người điêu trị, 12 tháng 78,6%, sau 18 tháng 95,2% sô người đã

tăng số lượng tế bào CD4 trong tổng số người điều trị ARV.



Dưới 100



100-250



250-350 Trên 350



Biểu đồ 3.8. Kết quả CD4 tăng lên sau các giai đoạn điều trị ARV cho bệnh

nhân.

Qua biểu đồ 3.8 thể hiện tình trạng bệnh nhân điều trị ARV và kết quả

CD4. Dưới 100/(mm3) trước điều trị 4,4%, sau điều trị 6 tháng sổ lượng tế bào



CD4 tăng lên 100 - 250/ /(mm3); sau 12 tháng CD4 tăng lên 250 - 350/(mm v);

sau điều trị 18 tháng tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 đã tăng trên

350/(mm3) đạt 46% trong tổng số bệnh nhân điều trị tại phòng khám ngoại trú

của huyện Ọuế Phong năm 2014, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.



CHƯƠN

G4

BÀN

LUẬN

4.1. Thưc trang cung cấp dich vu cho bênh nhân nhiễm HIV/AIDS

Mô hình phòng khám ngoại trú (PK.NT) tại huyện Quế Phong bắt đầu

được hình thành và đi vào hoạt động từ đầu năm 2013 với sự hỗ trợ về chuyên

môn và tài trợ của các tổ chức Quốc tế. Phòng khám ngoại trú cung cấp các dịch

vụ về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị như tư vấn, xét nghiệm HIV, tuyên truyền các

biện phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường máu, tình dục và lây truyền từ mẹ

sang con, trong đó có điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) cho người bệnh nhiễm

HIV. Theo quy định, về nhân lực cần có ít nhất 01 bác sỹ, 01 điều dưỡng, 01

dược sĩ và 01 cán bộ hành chính; về trang thiết bị cần có đủ 33 loại thiết bị, vật

dụng với số lượng và tiêu chuẩn theo quy định; về cơ sở vật chất cần có ít nhất 2

phòng làm việc, có khu vực chờ khám bệnh và tư vấn cho bệnh nhân, có nơi bảo

quản và cấp phát thuốc cho bệnh nhân, có nơi bảo quản và lưu trừ sổ sách, hồ sơ

bệnh án. Trong nghiên cứu này, về cơ sở vật chất, phòng khám ngoại trú tại địa

điểm nghiên cứu đều có từ



5



đến



6



phòng làm việc,



về



nhân lực, các PKNT



được bố trí cán bộ và nhân viên theo vị trí làm việc.

Đổ hỗ trợ cho các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV tại

cơ sở y tế nói chung, tại phòng khám ngoại trú nói riêng còn có đội ngũ đồng

đẳng viên và cộng tác viên. Trong nghiên cứu này, phòng khám ngoại trú tại địa

điểm nghicn cứu có đội ngũ đồng đẳng viên và cộng tác vicn.



Thông tin vê người cung câp dịch vụ tại phòng tránh lây nhiêm tại huyện

Quế Phong, chủ yếu nữ hộ sinh là người cung cấp dịch vụ phòng tránh lây nhiễm

HIV chiếm 44,1%, bác sỹ chiếm 35,3% và y tá chiếm 17,6%.

Hiểu biết đúng của người cung cấp dịch vụ về các hình thức làm cho lây

nhiễm HIV, theo nghiên cứu của chúng tôi có đến 97,1% truyền máu không an

toàn và dùng chung bơm kim tiêm. Có 97,0% người cung cấp dịch vụ hiểu biết

hình thức lây nhiễm HIV qua sinh hoạt tình dục không dùng BCS. Truyền từ mẹ

sang con 94,1% vần còn 2,9% muỗi hoặc côn trùng đốt, dùng chung nhà vệ sinh

và tiếp xúc thông thường. Theo nghiên cứu của tác giả Dương Quang Minh năm

2007 cho kết quả, 96,2% hiểu đúng về lây truyền HIV qua đường máu. Có 0,5%

điều dưỡng chưa hiểu đúng về đường lây truyền HIV như cho rằng HIV có thể

lây qua ăn uống chung (0,5%), muỗi đốt (2,8%), giao tiếp thông thường (1,9%).

Chỉ có 70% điều dưỡng trả lời đúng cách khẳng định người nhiễm HIV, 61,5%

điều dưỡng biết dự phòng phổ cập là giải pháp dự phòng tốt nhất phòng lây

nhiễm HIV cho nhân viên y tế nhưng chỉ có 26,8% điều dưỡng trả lời đúng 9 nội

dung của dự phòng phố cập phòng chống nhiễm khuẫn [28],

Thực hành về chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS, tỷ lệ điều dường thực hành

các công việc về chăm sóc HIV/A1DS trong từng câu hỏi khá cao nhưng tỉ lệ

thực hành chung chiếm (70,8%). Nguyên nhân còn một số điều dưỡng chưa thực

hành đủ các công việc nêu trên là do có thể họ còn thiếu kiến thức hoặc có thái

độ nhìn nhận chưa khách quan về HIV/AIDS hoặc trong thời gian quan sát các

điều dưỡng đã thực hiện các công việc trước đó nên dần đến việc thực hành

chung có tỉ lệ (70,8%) [23].



So với nghiên cứu của Cao Minh Chu, Đô Văn Dũng ở thành phô Cân

Thơ năm 2011 (46,9%) [22] và của tác giả Dương Trung Thu tại Cà Mau năm

2007 (45%). Sự khác biệt này có thể giải thích: các tác giả này nghiên cứu trên

đối tượng là người dân đang trực tiếp chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS tại cộng

đồng còn chúng tôi nghiên cứu trên đổi tượng là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc

bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện. Là điều dưỡng nên được trang bị kiến thức,

thực hành về chăm sóc bệnh nhân H1V/A1DS trong nhà trường, được tập huấn và

được các đồng nghiệp chia sẻ kinh nghiện chăm sóc bệnh nhân AIDS tại bệnh

viện nên tỉ lệ này tăng cao hơn (23,93%) so với các tác giả trên là điều dễ hiểu.

[35]

Thực hiện các biện pháp an toàn trong điều trị người bệnh nói chung và

bệnh nhân nhiễm HIV/A1DS rất quan trọng. Đc tránh bị tổn thương khi thực hiện

điều trị, yêu cầu người cán bộ phải được đào tạo một cách bài bản, thực hiện các

đúng quy trình. Tuy nhiên theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ chọc kim vào tay

ở nhóm nhân viên y tá, nữ hộ sinh và điều dưỡng là 31,8 % và bác sĩ chiếm

41,7%. Nhìn chung thì tỷ lệ người CCDV bị tổn thương trong khi thực hiện các

nhiệm vụ chuyên môn tại CSYT và chú yếu do chọ kim vào tay còn khá cao. Tỷ

lệ này tương đồng với tác giả Vũ Còng Thảo nghiên cứu về thực trạng và đánh

giá hiệu quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ, điều trị bệnh nhân AIDS tại các phòng

khám ngoại trú người lớn, tỷ lệ chọc kim vào tay ở nhóm nhân viên y tá là 34 %,

hộ lý 28 %, bác sĩ ngoại 53%, bác sĩ nội 32% [39].

Qua kết quả nghiên cứu trên, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại

cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của hệ thống phòng, chống H1V/AIDS; từng

bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, trên đại học. Có chính sách đãi ngộ

hợp lý nhân tài, khuyến khích sư dụng cán bộ y tế trong phòng, chống



HIV/AIDS. Điêu chỉnh, bô trí hợp lý cán bộ phòng, chông HIV/AIDS phù hợp

với trình độ chuycn môn, năng lực công tác.

4.2.

Kết quả điều trị bằng ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại

phòng

khám ngoại trú

Bệnh nhân đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú huyện Quế Phong

cho thấy: bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại phòng khám chủ yếu là nam. Có

nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng chiếm lên tới 95,2%, công việc không ổn định

3,6%. So với nghiên cứu của tác giả Vũ Công Thảo 72,9% không có việc làm

hoặc việc làm không ổn định [39], Nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Thanh,

bệnh nhân điều trị ARV nông dân 16,8%, thất nghiệp 4,1% [31]. Độ tuổi của

bệnh nhân tham gia điều trị ARV 20 — 29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 57,2%.

Tưong đương với độ tuổi của bệnh nhân tại Bình Thuận độ tuổi 20-29 chiếm tỷ

lệ 53,9% [36].

Theo báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 tỷ lệ

nhiễm HIV ở nam giới chiếm 67,5%, nữ giới chiếm 32,5%, phân bố người

nhiễm HIV phát hiện trong năm 2013 vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 2039 tuổi với chiếm từ 79,0% số người nhiễm HIV. Tuy vậy, tỷ trọng người nhiễm

HIV trong nhóm 30-39 tuổi đang có xu hướng tăng dần đến hét năm 2012, tỷ lệ

người nhiễm HIV ở nhóm tuổi 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,6% và

trong năm 2013 tỷ lệ này là 45,1% trong khi tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm

20-29 tuổi có xu hướng giám, đến cuối năm 2012 tý lệ người nhiễm HIV trong

nhóm 20-29 tuổi chiếm 35,1% và trong năm 2013 tỷ lệ là 32,9%. Cùng với đó tỷ

lệ người nhiễm H1V trong nhóm 40-49 tuổi cũng có xu hướng tăng chậm đến hết



năm 2012 tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm này là 12,2% và trong năm 2013 tỷ

lệ là 13,7% [1],



Kêt quả nghiên cứu ở Nam Phi tỷ lệ bệnh nhân nhiêm HIV trong năm

2007, thanh niên trong độ tuồi 15-24 chiếm khoảng 45% các ca nhiễm mới H1V

trên toàn thế giới [53].

Quế Phong là huyện miền núi biên giới phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, điều

kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, đồng bào các dân tộc trong huyện sống ở vùng

nông thôn chiếm 78% dân số toàn huyện và chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực

nông nghiệp, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao, do là vùng miền núi lên việc đi

lại gặp nhiều khó khăn. Quảng đường từ nhà đến phòng khám của bệnh nhân, đa

số bệnh nhân tới phòng khám điều trị đều trên 20 km, trong đó từ 21 đến 30km

chiếm 20,8 %, từ 31 đến 40 km chiếm 23,2 % và trên 40km chiếm 16,8 %. Tỷ lệ

này thấp hơn so với nghiên cứu tại Đăk Lắk của Nguyễn Đình Tuấn và cs, 75,2%

bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nhà ở xa phòng khám ngoại trú >10 km [33].

Nguồn thông tin tư vấn về dịch vụ cho bệnh nhân H1V, có tới 62,8% bệnh

nhân tiếp cận thông tin từ thông tin đại chúng, 52,8% qua nhân viên y tế. Kết quả

nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu tại cần Thơ của tác giả Võ Thị Năm,

đài truyền thanh (75,0%), cán bộ y tế (77,0%) [29], Ket quả nghiên cứu tương

đồng với kết quá của tác giả Cao Đình Thắng, nguồn thông tin cúa bệnh nhân về

điều trị ARV qua cán bộ y tế chiếm tỷ lệ 83,6%, qua đài truyền thanh, tivi chiếm

64,6% [32],



Tìm hiểu về kiến thức cúa bệnh nhân điều trị ARV tại phòng khám, hiểu

biết thuốc ARV là thuốc kháng virus HIV chiếm 98,0%, vẫn còn 34,8% bệnh

nhân tham gia nghicn cứu cho biết ARV là thuốc kháng sinh và 47,6% cho rằng

ARV là thuốc nâng cao miễn dịch. Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự với

nghiên cứu của tác giả Đường Công Lự, kiến thức về điều trị ARV: Là thuốc

kháng vi rút HIV (95,9%), là loại thuốc kháng sinh, loại khác (4,1%) [27].

Theomột nghiên cứu khác tại Băc Giang cũng cho kêt quả tương đông, có tới

100%

bệnh nhân cho biết thuốc ARV là thuốc kháng vi rút H1V [31].

Có tới 88,4% bệnh nhân trả lời uống thuốc ARV là uống suốt đời, tỷ lệ

này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Đường Công Lự, biết điều trị ARV là

uống đều đặn suốt đời (47,4%) [27]. 7,8% biết điều trị ARV là suốt đời theo

nghiên cứu của Nguyền Đình Tuấn [33],

Tình trạng nghiện chích ma tuý gia tăng, đặc biệt là tầng lớp trẻ tuổi; tình

trạng dùng chung bơm kim tiêm vẫn còn phổ biến: nghiện hút, tỷ lệ bệnh nhân

nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy còn cao chiếm 70,4%, quan hệ tình dục không

an toàn chiếm 40,4%, có nhiều bạn tình chiếm 32,4%, vợ chồng truyền cho nhau

chiếm 24,0%. Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tư,

tỷ lệ bệnh nhân lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục chiếm 67,0%, qua đường

máu chiếm 32,0% [37], Theo một nghiên cứu khác tại phòng khám ngoại trú

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung Ương, có 22,8% bệnh nhân cho rằng mình có

thể bị nhiễm HIV đường qua tiêm chích ma túy, tỉ lệ bệnh nhân lây qua đường

tình dục là cao nhất chiếm 61,3%[26Ị. Tác giả Cao Đình Thắng nghiên cứu tại

Hà Nam cho kết quá tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường máu cua bệnh nhân

HIV/A1DS là 32,7%, qua quan hệ tình dục chiếm 67,3% [32],



Đã có bệnh nhân H1V tự đến phòng khám ngoại trú đế được chăm sóc, hồ

trợ và điều trị cho thấy, bệnh nhân H1V đã có ý thức trong việc tự chăm sóc bản

thân và kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS

đang giảm dần.



Tuy bệnh nhân đã ý thức được bệnh tật và biết quan tâm đến sức khỏe của

mình nhưng đa số bệnh nhân đến với cơ sở điều trị đã có nhiều triệu chứng

nhiễm trùng cơ hội nặng và đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Mà trong đó bệnhlao

là một trong những bệnh nhiêm trùng cơ hội gây tử vong hàng đâu ở người

nhiễm H1V (hơn 1/4 số tử vong trong người nhiễm HIV). Đồng thời H1V là yếu

tố nguy cơ cao nhất đối với sự tiến triển bệnh lao ở những người nhiễm vi khuẩn

lao (Mycobacterium tuberculosis) mới hoặc tiềm ẩn. Nguy cơ tiến triển bệnh lao

ở người nhiễm HIV cao gấp 20 đến 37 lần so với người không nhiễm H1V. Đe

đối phó với bệnh dịch lao và HIV, Tồ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo thực

hiện các hoạt động phối hợp HlV/lao nhằm giảm tác động của HIV trên người

mắc lao, cũng như giảm tác động của lao trên người nhiễm HIV.



Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2011, Việt Nam

đứng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất trên toàn cầu. Tỷ lệ

tử vong do lao là 34/100.000 dân (khoảng 29.000 người). Tỷ lệ mắc lao các thể

là 334/100.000 dân, (khoảng 290.000 bệnh nhân). Tỷ lệ lao mới mắc các thể

hàng năm là 199/100.000 dân, (khoảng 180.000 bệnh nhân). Tuy nhiên, tỷ lệ ước

tính phát hiện bệnh lao các thể của Việt Nam mới chỉ đạt 54% [12]. Kết quả

nghiên cứu tại phòng khám ngoại trú Quế Phong, tỷ lệ người nhiễm HIV mắc lao

còn tương đối cao chiếm 20%. Như vậy, tình hình nhiễm HIV/AIDS và mắc lao

vẫn đang là gánh nặng bệnh tật và tử vong rất lớn tại Việt Nam. Ngoài ra dựa

vào kết quả nghiên cứu ta thấy còn một số triệu chứng của bệnh nhân thường gặp



trước điều trị kèm theo: Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt chiếm 43,2 %, sụt cân trên

10% trọng lượng cơ thể chiếm 41,2 %, tiêu chảy kéo dài chiếm 34,8 %, nỗi sẩn

ngứa, zona thần kinh chiếm 32,8 %, nhiễm nấm miệng chiếm 20,0 %.



Nhìn chung nhóm bệnh nhân tiếp nhận nguồn thông tin về dịch vụ điều

trị ARV thì tuân thù điều trị ARV tốt cao hơn nhóm không tiếp cận thông tin.

Điều này hoàn phù họp với tình hình thực tế vì thông tin bệnh nhân tiếp cận điều

trị ARV sẽ tác động tốt đến việc tuân thủ điều trị ARV. Đánh giá thấy tình hìnhsức

khỏe, tác dụng phụ của thuôc ARV, tư vân dự phòng trong quá trình điêu trị

giúp bệnh nhân nhậ thức được sự cần thiết phải điều trị liên tục để kéo dài cuộc

sống, uống thuốc ARV đi cùng với tác dụng phụ sẽ có chuận bị tốt về mặt tâm



lý, biết điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội bằng Cotrimoxazol, bao cao su sẽ

giúp dự phòng lây nhiễm HIV, họ sẽ hiểu rõ hơn diễn biến tâm trạng của mình

và thúc đấy họ tuân thủ điều trị ARV tốt hơn.

Vì vậy tư vấn, chăm sóc, hồ trợ cho bệnh nhân HIV là hoạt động không

thể thiếu và rất quan trọng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ

ra tư vấn, chăm sóc, hồ trợ cho bệnh nhân HIV đóng vai trò quyết định sự thành

công của chương trình phòng, chống HIV, góp phần làm giảm kỳ thị phân biệt

đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ.

Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được tham gia tư vấn trước và

trong điều trị đầy đủ : 98,4% bệnh nhân đều được tư vấn cá nhân, 67,6 % được

tư vấn tái khám. Và được tư vấn cách phòng lây nhiễm HIV qua đường máu:

không dùng chung bơm kim tiêm, sử dụng bao cao su, phòng lây nhiễm từ mẹ

sang con.

Qua công tác tư vấn, hiểu biết cùa bệnh nhân ngày càng được nâng lên:

hiểu biết về thuốc ARV có tác dụng kháng lại virut HIV chiếm 98,0% và phải

uống đến suốt đời chiếm 98,4%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ARV 3 tháng, 12 tháng và 18 tháng.

Tải bản đầy đủ ngay(83 tr)

×