Tải bản đầy đủ - 58 (trang)
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ - 58trang

đủ nhất nhằm phục vụ cho quá trình Thống kê du lịch. Vì vậy, Hội nghị quốc tế

về Thống kê du lịch ở Ottawa-Cananda ngày 24-28/6/1991 đã thống nhất khái

niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một môi

trường ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn

khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của

chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng

tới thăm”.

1.1.2. Khái niệm khách du lịch

Theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization) năm 1968 đã

chấp nhận định nghĩa khách du lịch như sau: “Khách du lịch là một người từ quốc

gia này đi tới một quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể là kinh doanh, thăm

viếng hoặc làm một việc gì khác (ngoại trừ hành nghề hay lãnh lương)”.

Luật Du lịch (2005) của nước ta đã đề ra khái niệm: “Khách du lịch là

người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc

hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Từ khái niệm ta thấy, khách du lịch bao

gồm cả khách tham quan trong ngày không ngủ qua đêm miễn là mục đích

chuyến đi không phải để kiếm tiền ở nơi đến và khách nghỉ qua đêm với các

mục đích khác.

Từ những khái niệm trên, những người sau được coi là khách du lịch:

- Những người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến nơi khác

trong khoảng thời gian nhất định.

- Những người đi thăm viếng ngoại giao, hội họp, hội thảo, trao đổi khoa

học, công vụ, thể thao…

- Những người đi du lịch kết hợp mục đích thương mại như khảo sát đầu

tư, ký kết hợp đồng…

- Việt kiều ở nước ngoài về thăm quê hương và người thân.

1.1.3. Khái niệm kinh tế du lịch

Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, là loại hình kinh doanh

dịch vụ được coi là ngành “công nghiệp không khói’’.

5



1.1.4. Khái niệm du lịch bền vững

1.1.4.1. Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia, dân tộc trên

thế giới. Mỗi quốc gia sẽ dựa trên những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, về

lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá để hoạch định chiến lược phát triển bền vững

của mình. Bên cạnh đó, phát triển bền vững còn là mục tiêu chung của nhân loại,

mang tính toàn cầu và nhìn nhận dưới góc độ quan hệ quốc tế, đó cũng là mục

tiêu quan trọng của các nước khi tham gia vào đời sống quốc tế.

Trên cơ sở hai Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên

hợp quốc tổ chức ở RiodeJaneiro (Braxin, 1992) và Johannesburg (Nam Phi,

2002). Khái niệm phát triển bền vững được xác định là quá trình phát triển có sự

kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển gồm: phát triển

kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

1.1.4.2. Du lịch bền vững

Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện

tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai.

1.1.5. Khái niệm hội nhập quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng

nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration

internationale”). Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa

khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”.

Thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa

thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực

mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác. Những năm

gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được

sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế

quốc tế. Có một thực tiễn đáng lưu ý là trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc

tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh

tế quốc tế” và“nhất thể hóa kinh tế quốc tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử

6



dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic

integration”. Sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là cách dùng với hàm ý chính trị và

lịch sử khác nhau. Thuật ngữ “nhất thể hóa kinh tế quốc tế” được sử dụng chủ yếu

trong bối cảnh hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng

Tương trợ kinh tế (SEV) những năm 1970-1980.

Hiện nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tế” và “hội nhập quốc tế” có thể

thay thế nhau và hầu như không có sự khác biệt về ý nghĩa.

Tóm lại, hội nhập quốc tế là quá trình các nước tiến hành các hoạt động

tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá

trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật

chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.

1.2. CƠ SỞ THỰC PHÁP LÝ

Đề án được xây dựng dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:

- Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 05/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc

xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm (2016-2020);

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55 /2014/QH13, ngày 23/6/2014;

- Luật Du lịch số 44/2005/QH11, ngày 14/6/2005;

- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVII,

nhiệm kỳ 2015 - 2020.

- Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 của HĐND tỉnh Khánh

Hòa về Kế hoạch phê duyệt KT-XH tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn 2016-2020;

- Nghị quyết số 39-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về miền Trung đã xác định

những phương hướng cơ bản của vùng và tạo cơ hội đẩy nhanh sự phát triển KTXH các tỉnh trong vùng và cả với Khánh Hòa;

- Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 09/5/2016 của Chính phủ về một số giải

pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới;

- Quyết định số 157/QĐ-UBND ngày 21/01/2015 của UBND tỉnh Khánh

Hòa ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan chức năng trong việc

hỗ trợ khách du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa;

- Quyết định số 194/2005/QĐ/TTg ngày 04/8/2004 của Thủ tướng Chính

7



phủ phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch

khu vực miền Trung-Tây Nguyên trong đó Nha Trang được xác định là trung

tâm du lịch của các tỉnh từ Bình Định đến Bình Thuận;

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 22/8/2016 của Bộ Văn hóa,

Thể thao và Du lịch Việt Nam phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm

du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng 2030”;

- Quyết định số 1874/QĐ-TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế

trọng điểm Miền Trung đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 1114/QĐ-TTg ngày 09/7/2013 về việc Phê duyệt Quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền

Trung đến năm 2020;

1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và lợi thế so sánh trong khu

vực và cả nước

1.3.1.1. Vị trí địa lý

Khánh Hòa là tỉnh ven biển, ở vị trí trung tâm của các tỉnh Duyên hải

Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 5.217,6 km 2, dân số trung bình năm

2015 là 1.205.672 người, chiếm 1,58% về diện tích và 1,32% về dân số của

cả nước; mật độ dân số trung bình 231 người/km2. Khánh Hòa là tỉnh có

huyện đảo Trường Sa, phần đất liền phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam

giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp Lâm Đồng và Đắc Lắc, phía Đông là

Biển Đông. Toàn tỉnh có 09 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố, bao gồm

thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa và 06 huyện là

Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và huyện đảo

Trường Sa. Thành phố Nha Trang là đô thị loại I - là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Khánh Hòa - một trung tâm du lịch lớn của cả

8



nước. Cùng với phần đất liền, Khánh Hoà có thềm lục địa và vùng lãnh hải

rộng lớn với gần 200 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó quần đảo Trường Sa có vị trí

chiến lược rất quan trọng về cả quốc phòng và kinh tế của cả nước. Khánh

Hòa có vị trí địa kinh tế khá thuận lợi, có tiềm năng lớn về kinh tế biển đặc

biệt là tiềm năng du lịch và dịch vụ vận tải biển.

Tỉnh Khánh Hòa có phạm vi lãnh thổ từ 11041'53'' đến 12052'35'' vĩ độ Bắc

và từ 108040'33'' đến 109023'24" kinh độ Đông. Điểm cực Đông trên đất liền của

Khánh Hòa và cũng là điểm cực Đông trên đất liền của Việt Nam, nằm trên bán

đảo Hòn Gốm thuộc huyện Vạn Ninh.

1.3.1.2. Lợi thế so sánh trong khu vực và cả nước

* Về vị trí địa lý

Khánh Hoà nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước.

Quốc lộ 1 và đường sắt chạy từ phía Bắc đến phía Nam tỉnh, nối liền Khánh

Hòa với các tỉnh phía Bắc, phía Nam. Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với Ðăk

Lăk, quốc lộ 27 và dự kiến tuyến quốc lộ nối với vùng du lịch núi Ðà Lạt.

Tỉnh có các cảng biển lớn như: Nha Trang, Cam Ranh và tương lai có cảng

biển lớn tầm quốc tế ở Vân Phong. Sân bay Cam Ranh đã là sân bay quốc tế,

là cửa ngõ giao thông đường không quan trọng cho cả khu vực Duyên hải

Nam Trung bộ và Tây nguyên. Nằm ở giữa hai thành phố lớn là thành phố

Hồ Chí Minh và Ðà Nẵng, là các trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước,

Nha Trang cách thành phố Hồ Chí Minh 400 km. Yếu tố này là lợi thế lớn

trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn

đầu tư, thu hút chất xám.

Nằm giáp biển Đông, Khánh Hòa còn có huyện đảo Trường Sa, là

huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc, vừa có ý nghĩa về phát triển kinh tế, vừa có

vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng và chủ quyền biển đảo của nước ta.

Với kế hoạch đầu tư xây dựng căn cứ Cam Ranh trở thành căn cứ quân sự

hiện đại và thực hiện chủ trương xây dựng đơn vị điểm khu vực Khánh Hòa

của Quân chủng Hải quân đã đưa Khánh Hòa thành vị trí quân sự chiến

lược, quan trọng của đất nước.

9



* Được thiên nhiên ưu đãi cho phát triển kinh tế,

đặc biệt là kinh tế biển

Khánh Hòa có các nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú: Đất đai, biển

- đảo, vốn rừng, khoáng sản, môi trường trong lành cho phép Khánh Hòa

phát triển một nền kinh tế toàn diện, đa ngành. Đặc biệt tài nguyên biển đảo giàu tiềm năng về phát triển dịch vụ du lịch, nguồn lợi hải sản là lợi thế

so sánh cho phép Khánh Hòa phát triển mạnh tổng hợp kinh tế biển.

Vùng bờ biển và thềm ven bờ là khu vực có nhiều tiềm năng trong việc

hình thành và phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng. Có bờ biển dài

200km, dọc bờ biển có những đầm, vịnh, bãi triều, bãi cát mịn rất thuận lợi cho

xây dựng các cảng biển, nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch; với một số

đầm, vịnh, bãi biển nổi tiếng như: Vịnh Vân Phong, Nha Phu, Cù Hin, Cam

Ranh; bãi biển Nha Trang, Ðại Lãnh, Dốc Lết, Ðầm Môn, Bãi dài Cam Lâm.

Ngoài ra phải kể đến 8 cửa lạch và trên 200 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều hình thù

khác nhau…

Vịnh Vân Phong dài 35 km, rộng 25 km, cách Nha Trang 80 km và cách

Tuy Hòa (Phú Yên) 35 km. Nước vịnh trong, độ sâu trung bình khoảng 20m, bãi

biển đầy cát trắng, sóng lặng do được các đảo che chắn, lớn nhất là Hòn Lớn.

Phía Đông của vịnh là bán đảo Hòn Gốm; bán đảo này có chiều dài khoảng 18

km với nhiều đồi núi có độ cao 200 - 400m; phía Tây Nam của bán đảo là một

trong những địa điểm có điều kiện lý tưởng cho hoạt động cảng biển trung

chuyển quốc tế. Ở phía bắc là bãi biển Ðại Lãnh dài gần 3 km nằm sát quốc lộ

1A với bãi cát trắng mịn, nước biển trong xanh hấp dẫn du khách, gần kề với

các di tích lịch sử, cách mạng Vũng Rô, đèo Cả.

Ở phía Nam tỉnh, vịnh Cam Ranh có bề ngang rộng khoảng 8-10 km, bề

dọc từ 12-13 km, kín đáo vì bốn bề đều có núi bao quanh; nơi đây cũng là một

trong những nơi hình thành cảng thuận lợi nhất.

Vùng biển ở khu vực giữa tỉnh có nhiều bãi biển đẹp lại nằm ngay trong

thành phố, thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển

đảo. Đặc điểm khí hậu, thời tiết Khánh Hòa rất thuận lợi cho tham quan du lịch

10



biển, nhất là từ tháng 1 đến tháng 8; ánh sáng nhiều là điều kiện tốt cho cây cối

sinh trưởng nói riêng và phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung. Trữ lượng

hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa ước khoảng 150 nghìn tấn, trong đó chủ

yếu là cá nổi (70%). Khả năng khai thác hàng năm khoảng 70 nghìn tấn. Ngoài

các hải sản biển, Khánh Hòa còn là nơi trú ngụ của loài chim yến, hàng năm

cho phép khai thác khoảng 3.000 kg yến sào. Yến là một đặc sản quý mà không

phải tỉnh nào trong cả nước cũng có thể có được; nó không chỉ góp phần cho

xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược

liệu bổ dưỡng cao cấp.

* Về con người với truyền thống cách mạng và năng động trong phát

triển kinh tế

Nguồn lao động đồi dào, người dân cần cù, năng động, một bộ phận dân

cư, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý đã bước đầu tiếp cận thị

trường. Nhân dân có truyền thống cách mạng, nếu được đào tạo và có chính sách

sử dụng tốt sẽ là động lực to lớn cho phát triển của vùng; yếu tố đó đã tạo cho

Khánh Hòa là một trong những tỉnh sớm thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường

và đã thu được kết quả bước đầu.

Trình độ dân trí của Khánh Hòa khá cao so với các tỉnh trong vùng, đặc

biệt là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; trong những năm gần đây đã năng động

tiếp cận với kinh tế thị trường về tổ chức quản lý và áp dụng công nghệ mới trong

lĩnh vực công nghiệp, du lịch và dịch vụ, người lao động có kinh nghiệm nhất

định về hoạt động thương mại và du lịch ở các đô thị, thâm canh nông nghiệp ở

nông thôn, có trình độ về đánh bắt và nuôi trồng, chế biến hải sản.

* Về tiềm lực kinh tế và kết cấu hạ tầng

So sánh với các thành phố trực thuộc Trung ương: Quy mô GDP được xếp

thứ 5; GDP bình quân đầu người xếp thứ 6 và thu ngân sách và kim ngạch xuất

khẩu đứng thứ 5.



11



Bảng 2.1. So sánh các chỉ tiêu kinh tế năm 2013 của Khánh Hòa với các

thành phố trực thuộc trung ương

Các chỉ tiêu

GDP - theo giá thực tế

Xếp thứ tự so sánh

GDP bình quân đầu

người

Xếp thứ tự so sánh

Thu ngân sách nhà nước

trên địa bàn

Xếp thứ tự so sánh

Kim ngạch xuất khẩu



Đơn

vị tính

tỷ

đồng

triệu

đồng

tỷ

đồng

triệu

USD



Khánh

Hòa





Nội



Hải

Phòng



Đà

Nẵng



Tp

HCM



Cần

Thơ



51.883



451.213



101.700



49.892



764.561



77.287



5



2



3



6



1



4



43,6



65



52,8



50,2



97,8



63,2



6



2



4



5



1



3



14.096



163.043



42.916



20.566



256.664



11.198



5



2



3



4



1



6



1.074



9.913



3.023,7



1.008



26.575



1.231



5



2



3



6



1



4



Xếp thứ tự so sánh



(Nguồn: Tổng cục Thống kê)



Đối với khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, hiện nay tỉnh Khánh Hòa đang

dẫn đầu về một số chi tiêu quan trọng phát triển kinh tế như: GDP, kim ngạch

xuất khẩu, doanh thu du lịch.

Bảng 2.2. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế năm 2013 của Khánh Hòa với

các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ

Các chỉ tiêu

GDP - theo giá

so sánh 2010

Thứ tự so sánh

GDP bình quân

đầu người

Thứ tự so sánh

Thu ngân sách



ĐVT



Khánh

Hòa



Đà

Nẵng



Quảng

Nam



Quãng

Ngãi



Bình

Định



Phú

Yên



Ninh

Thuận



Bình

Thuận



tỷ

đồng



44.086



38.160



34.098



37.552



34.670



18.346



10.180



29.525



1



2



5



3



4



7



8



6



43,6



50,2



29,8



43,7



32,3



26,7



23,7



31,7



3



1



6



2



4



7



8



5



14.096



20.566



13.403



33.162



10.245



3.107



2.625



8.625



3



2



4



1



5



7



8



6



1.074



1.008



595



508,8



630



101,5



59,7



370,7



1



2



4



5



3



7



8



6



3.350



2.130



1.697



182,1



206



141



99,9



1.710



1



2



4



6



5



7



8



3



triệu

đồng

tỷ

đồng



Thứ tự so sánh

Kim ngạch xuất

khẩu

Thứ tự so sánh

Doanh thu du

lịch

Thứ tự so sánh



triệu

USD

tỷ

đồng



(Nguồn: Tổng cục Thống kê)



Với lợi thế, thành tựu như nêu trên cộng với định hướng phát triển của

Khánh Hòa được Trung ương thông qua như: Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày

12



16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng hệ thống kết cấu hạ

tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng

hiện đại vào năm 2020 và Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 16/8/2004 của Bộ

Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Bắc

Trung bộ và Duyên hải Trung bộ. Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch

các khu vực như: Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh

Hòa; quy hoạch Khu kinh tế Vân Phong đến năm 2020; quy hoạch phát triển khu

vực Nam Phú Yên - Bắc Khánh Hòa; quy hoạch chung khu du lịch Cam Ranh,

tỉnh Khánh Hòa.

Ngoài ra, ba tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận đã ký kết thoả thuận

hợp tác kinh tế - xã hội: Văn bản thoả thuận hợp tác giữa tỉnh Phú Yên và tỉnh

Khánh Hòa đã được Chủ tịch UBND hai tỉnh ký ngày 23/13/2004, Văn bản thoả

thuận hợp tác giữa tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận đã được Chủ tịch UBND

hai tỉnh ký ngày 10/01/2005, Tiếp theo ba tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh

Thuận đã có Tờ trình số 1734/TTr-LTPY-KH-NT ngày 16/5/2005 gửi Thủ tướng

Chính phủ về việc triển khai lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 3 tỉnh Phú

Yên - Khánh Hòa - Ninh Thuận thành tiểu vùng kinh tế Nam Trung bộ, trong đó

Khánh Hòa trở thành trọng điểm, trung tâm phát triển của khu vực Nam Trung

bộ và Nam Tây Nguyên.

1.3.2. Kết quả phát triển KT-XH tỉnh Khánh Hòa 5 năm qua

 Những kết quả đạt được

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm tăng 8,3%/năm

(GRDP tăng 6,86%/năm), GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.347 USD,

phù hợp với tình hình thực tế trong nước và thế giới trong những năm gần đây.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng và theo hướng

tăng tỷ trọng các ngành kinh tế biển, đặc biệt là phát triển du lịch biển đảo. Tái

cơ cấu kinh tế của các doanh nghiệp đi dần theo chiều sâu, tăng tỷ trọng các

ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao như du lịch, dịch vụ kho ngoại quan...

Chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh ngày càng được định hình rõ nét, tạo nền

tảng cho giai đoạn mới. Từng bước đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu cho 3 vùng

13



kinh tế trọng điểm của tỉnh; các công trình dân dụng, công nghiệp có quy mô lớn,

kỹ thuật phức tạp và chất lượng cao đang được xúc tiến triển khai. Khu kinh tế

Vân Phong đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước, với vốn đã,

đang và dự kiến đăng ký khoảng 14 tỷ USD; khu vực Cam Ranh đã thu hút

khoảng 600 triệu USD với các dự án về công công nghiệp đóng tàu, công nghiệp

phụ trợ, khu du lịch sinh thái cao cấp...; thành phố Nha Trang đang triển khai

nhiều dự án, công trình lớn, mang tầm quốc tế… là những cơ sở quan trọng để

Khánh Hòa hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh theo hướng văn minh, hiện đại, thân

thiện với môi trường. Đến nay, tỉnh Khánh Hòa đã có 01 đô thị loại I; 01 đô thị

loại III; 03 đô thị loại IV; 04 đô thị loại V và 03 khu vực xã được công nhận đạt

tiêu chuẩn là đô thị loại V. Đến năm 2015, dân số TB toàn tỉnh là 1.205.672

người, trong đó, dân số đô thị là 536.148 người. Tỷ lệ đô thị hóa hiện nay ở mức

44,79%, điều đó cho thấy tốc độ phát triển các đô thị rất nhanh.

Các loại quy hoạch, dự án trọng điểm mang tính chiến lược, gắn kết với

các tỉnh lân cận nhằm ngày càng phát huy vai trò là trung tâm khu vực duyên hải

Nam Trung bộ và Tây Nguyên như:

- Tuyến đường Nha Trang - Đà Lạt được hình thành là điều kiện thuận lợi

trong việc gắn kết phát triển kinh tế - xã hội giữa tỉnh Khánh Hòa với khu vực

Tây Nguyên (chủ yếu là tỉnh Lâm Đồng), rút ngắn khoảng cách giao thông giữa

hai tỉnh, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

- Hệ thống đường giao thống ven biển của tỉnh về cơ bản đã được hình

thành và kết nối từ Bắc đến Nam gắn kết với hệ thống đường Quốc lộ 1A từ việc

đầu tư hoàn thành và đi vào sử dụng hệ thống đường Phạm Văn Đồng thông

tuyến với Quốc lộ 1A và Đại lộ Nguyễn Tất Thành.

- Dự án hầm đường bộ qua đèo Cả là cơ sở gắn kết phát triển kinh tế - xã

hội giữa tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Phú Yên, thu hẹp khoảng cách giao lưu phát

triển giữa hai tỉnh, tạo điều kiện lưu thông thuận lợi và an toàn trên tuyến QL1A.

- Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh được hình thành và đi vào hoạt động là

cơ hội thuận lợi trong việc thu hút trực tiếp du khách quốc tế đến với tỉnh Khánh Hòa

14



lẫn các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên, tạo mối liên kết hợp tác phát triển trong

lĩnh vực du lịch, là lĩnh vực có ưu thế và điểm mạnh của các tỉnh Nam Trung bộ và

Tây Nguyên với nhiều vị trí địa điểm du lịch nổi tiếng trong nước và ngoài nước.

- Tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Phong với định

hướng trở thành khu kinh tế tổng hợp, kết hợp phát triển kinh tế tổng hợp đa

ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, nuôi

trồng hải sản.

- Tuyến đường Quốc lộ 26 đã được đầu tư xây dựng từ lâu, nối tỉnh Khánh

Hòa và các tỉnh Tây Nguyên có vai trò quan trọng trong liên kết phát triển giữa các

tỉnh khu vực đồng bằng với các tỉnh Tây Nguyên.

Năm 2015, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh vượt mốc 15.700 tỷ đồng, gấp

2,18 lần so với năm 2010; trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bình quân

tăng 21,1%/năm và thu nội địa bình quân tăng 8%/năm. Hệ thống ngân hàng

tiếp tục phát triển với 35 Chi nhánh tài chính tín dụng; 149 điểm giao dịch

ngân hàng, so đầu năm 2010 tăng 18 điểm giao dịch, phân bổ đến các huyện,

thị xã, thành phố. Các nguồn lực để phát triển nền kinh tế được quản lý, phân

bổ, sử dụng có hiệu quả. Nhiều sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp trong

tỉnh có thương hiệu mạnh và sức canh tranh cao.

 Khó khăn và hạn chế



Kinh tế tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra, nguồn lực dành cho đầu tư

phát triển gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của 3 khu

vực trọng điểm kinh tế (Vịnh Cam Ranh, Nha Trang, Khu kinh tế Vân Phong)

chưa được đầu tư hoàn chỉnh nên ảnh hưởng đến công tác xúc tiến đầu tư, cũng

như hỗ trợ các dự án đầu tư trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng và đi vào

hoạt động.

Còn tình trạng khai thác và sử dụng tài nguyên biển quá mức ở một số

nơi, các nguy cơ về ô nhiễm môi trường vẫn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp.

Cải cách hành chính thực hiện phân tán theo chức năng của từng ngành,

việc phối hợp giải quyết thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính còn

chậm (đầu tư, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường), chưa có sự tập trung vào

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ ngay(58 tr)

×