Tải bản đầy đủ - 117 (trang)
Đóng góp của luận văn

Đóng góp của luận văn

Tải bản đầy đủ - 117trang

6



1.1.



Hoạt động.



1.2.



Hoạt động học tập.



1.3.



Tính tích cực hoá hoạt động của học sinh.



1.3.1. Tính tích cực.

1.3.2. Một vài đặc điểm về tính tích cực nhận thức của học

sinh.

1.3.3. Phương pháp dạy học có thể phát huy được tính tích

cực.

1.3.3.1. Một phương pháp dạy học cần thoả mãn những

điều kiện nào có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của

học sinh

1.3.3.2. Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp

dạy học tích cực

1.4.



Dạy học Phát hiện và giải quyết vấn đề



1.4.1. Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học PH và

GQVĐ

1.4.1.1. Cơ sở triết học.

1.4.1.2. Cơ sở tâm lý học

1.4.1.3. Cơ sở giáo dục học

1.4.2. Những khái niệm cơ bản

1.4.2.1. Vấn đề

1.4.2.2. Tình huống gợi vấn đề

1.4.3. Dạy học PH và GQVĐ

1.4.4. Bản chất của dạy học PH và GQVĐ

1.4.5. Những hình thức và cấp độ dạy học PH và GQVĐ

1.4.6. Quy trình dạy học PH và GQVĐ



7



1.4.6.1. Nguyên tắc thiết lập quy trình dạy học PH và

GQVĐ

1.4.6.2. Cấu trúc của quy trình dạy học PH và GQVĐ

1.5. Kết luận chương 1

Chương 2: Các biện pháp dạy học Phát hiện và giải quyết

vấn đề nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh.

2.1. Các định hướng xây dựng các biện pháp

2.2. Các biện pháp

2.2.1. Biện pháp 1: Tạo tình huống gợi vấn đề nhờ giải bài

tập mà người

học chưa biết thuật giải.

2.2.2. Biện pháp 2: Tạo tình huống gợi vấn đề nhờ lật

ngược vấn đề, xem xét tương tự, đặc biệt hoá, khái quát hoá.

2.2.3. Biện pháp 3: Sử dụng các phương pháp suy luận, mò

mẫn, dự đoán để tìm ra cách giải quyết vấn đề.

2.2.4. Biện pháp 4: Hình thành thói quen kiểm tra và vận

dụng kết quả của vấn đề được giải quyết.

2.2.5. Biện pháp 5: Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa

chữa sai lầm trong lời giải.

2.2.6. Biện pháp 6: Hình thành phương pháp tự học, tự

nghiên cứu cho học sinh.

2.3. Kết luận chương 2.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

3.1.



Mục đích thực nghiệm



3.2.



Nội dung thực nghiệm



3.2.1. Lớp thực nghiệm

3.2.2. Tiến trình thực nghiệm



8



3.2.3. Nội dung và kết quả kiểm tra

3.3.



Kết quả thực nghiệm



3.3.1. Đánh giá hoạt động học tập của học sinh ở lớp học

3.3.2. Kết luận về thực nghiệm sư phạm



9



Chương 1

Một số cơ sở lý luận để xây dựng các biện pháp dạy học

Phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm tích cực hóa hoạt

động của học sinh

1.1. Hoạt động

Hoạt động là một khái niệm của tâm lý học hiện đại. Một

hoạt động bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định.

Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng

khác nhau. Và đối tượng là động cơ thực sự của hoạt động.





Về phía đối tượng: Động cơ được thể hiện thành các



nhu cầu. Các nhu cầu đó được sinh ra từ một đối tượng ban

đầu còn trừu tượng, ngày càng phát triển rõ ràng, cụ thể hơn

và được chốt lại ở hệ thống các mục đích. Mỗi mục đích lại

phải thoả mãn một loạt các điều kiện (hay còn gọi là các

phương tiện). Mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và điều

kiện được coi là nhiệm vụ.





Về phía chủ thể: Chủ thể dùng sức căng cơ bắp, thần



kinh, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn, để thỏa mãn động cơ

gọi là hoạt động. Quá trình chiếm lĩnh từng mục đích gọi là

hành động. Mỗi điều kiện để đạt từng mục đích, lại quy định

cách thức hành động gọi là thao tác.

Tác giả Nguyễn Tài Đức đã đánh giá mối quan hệ biện

chứng giữa hành động và thao tác: Hành động là quá trình

hiện thực hóa mục đích (tạo ra được sản phẩm), còn thao tác

lại do điều kiện quy định. Như vậy sự khác nhau giữa mục

đích và điều kiện quy định là sự khác nhau giữa hành động và

thao tác. Nhưng sự khác nhau đó chỉ là tương đối, bởi để đạt



10



một mục đích ta có thể dùng những phương tiện khác nhau.

Khi đó, hành động chỉ thay đổi về mặt kỹ thuật tức là cơ cấu

thao tác, chứ không hề thay đổi bản chất (vẫn làm ra cùng

một sản phẩm).

Về mặt tâm lý, hành động sinh ra thao tác, nhưng thao

tác lại không phải

là phần riêng lẻ của hành động. Sau khi được hình thành thao

tác có khả năng tồn tại độc lập và có thể tham gia vào nhiều

hành động. Hoạt động có biểu hiện bên ngoài là hành vi. Vì

vậy, hai phạm trù này hỗ trợ cho nhau; trong đó hoạt động

bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý ý thức (tức là cả công việc của

tay chân và của não). Sự phân tích trên giúp ta nhận được

những ý nghĩa quan trọng sau:





Thực chất của phương thức Giáo dục là tổ chức các



hoạt động liên tục cho trẻ em theo một chuỗi các thao tác,

trong cơ cấu có sự tham gia của động cơ và nhiệm vụ của

từng người.





Vì hành động sinh ra thao tác nên trong giáo dục ta có



thể huấn luyện gián tiếp thao tác thông qua hành động.





Giáo viên nên biết rõ một đối tượng lúc nào là mục đích



cần đạt, lúc nào là phương tiện để đạt mục đích khác.

1.2. Hoạt động học tập

1.2.1. Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện

chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò,

trong đó hoạt động học là trung tâm.

a) Đối tượng của hoạt động dạy là nhân cách của học sinh

với hệ thống mục đích cơ bản được sắp xếp theo thứ tự: Thái



11



độ, kỹ năng, kiến thức. Để thực hiện được chỉnh thể mục đích

đó cần một loạt các điều kiện không thay đổi theo sao cho

phù hợp như: Nội dung thay đổi sao cho phải hướng vào học

sinh; quá trình học tập được tổ chức sao cho phát huy được

tính tích cực của học sinh trong môi trường phải đảm bảo có

dụng ý sư phạm; phương tiện dạy học ngày càng được hiện

đại hóa; ... chủ thể (giáo viên) tiến hành các hoạt động tương

ứng như điều khiển quá trình xây dựng kiến thức, vận dụng

kiến thức vào thực tế, ôn tập, kiểm tra, đánh giá ...

b) Hoạt động học là một trong những hoạt động của con

người do đó nó cũng tuân theo cấu trúc tổng quát của một

hoạt động nói chung và ở đây chỉ bàn đến hoạt động học của

học sinh. Học sinh tiến hành hoạt động này nhằm lĩnh hội các

kinh nghiệm xã hội, được thể hiện dưới dạng những tri thức,

kỹ năng. Theo tác giả Phạm Minh Hạc có thể có hai cách học,

do đó có hai dạng hoạt động khác nhau: Cách thứ nhất nhằm

nắm lấy các kinh nghiệm, kỹ năng mới xem như là mục đích

trực tiếp; Cách thứ hai nhằm tiếp thu các kinh nghiệm và kỹ

năng trong khi thực hiện các mục đích khác. Thông thường

việc học của học sinh được diễn ra theo cả hai cách, còn hoạt

động học mà ta nói ở đây là hoạt động có mục đích theo cách

thứ nhất.

Một số khía cạnh cơ bản của hoạt động học tập:





- Về cấu trúc hoạt động:







+ Động cơ: Nắm lấy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hay tự



hoàn thiện bản thân.



12







+ Mục đích: Học sinh phải vượt ra khỏi giới hạn



những kiến thức đã có của mình để đạt tới những cái mà các

em chưa có. Vì thế nhiệm vụ học tập thường được đề ra dưới

hình thức “bài toán” có vấn đề.





+ Học sinh giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ



vào các hành động học tập cụ thể như: tách các vấn đề từ

nhiệm vụ; Vạch phương hướng giải quyết trên cơ sở phân tích

các mối quan hệ trong tài liệu học tập; mô hình hóa, cụ thể

hóa các mối quan hệ đó; Kiểm tra tiến trình và kết quả học

tập.





+ Các hành động trên được thực hiện bởi các thao



tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối

chiếu, quy nạp, suy luận lôgíc, ... Tuy nhiên toàn bộ quá trình

này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích

thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận

thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ; tìm tòi và khái quát

hóa;...





+Về hình thức: Hoạt động học điển hình có thể được



diễn ra trong thời gian trên lớp, mà ở đó giáo viên thực hiện

vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoặc trong thời gian hoạt động độc

lập trên lớp, khi làm bài tập ở nhà.

c) Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ khăng

khít, chặt chẽ, trình tự các bước trong hoạt động học hoàn

toàn thống nhất với trình tự các bước trong hoạt động dạy nếu giáo viên vạch ra nhiệm vụ, các hành động học tập sắp

tới của học sinh bằng các biện pháp thích hợp và kích thích

chúng thì học sinh sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ đó, thực hiện



13



các hành động học tập đề ra; Nếu giáo viên kiểm tra hành

động của học sinh và điều chỉnh hành động dạy của mình thì

dưới ảnh hưởng của giáo viên, học sinh cũng điều chỉnh hành

động của mình. Sự thống nhất của quá trình dạy và học được

thể hiện ở sự tương ứng giữa các giai đoạn hoạt động của cả

thầy lẫn trò. Sự thống nhất này tạo nên một hiện tượng hoàn

chỉnh mà ta gọi là quá trình dạy học. Kết quả của sự thống

nhất là ở chỗ học sinh nắm kiến thức theo các mức độ:





- ý thức được vấn đề (vạch được nội dung, có biểu



tượng chung nhất về sự kiện, nắm được quá trình hình thành

và phát triển của sự kiện đó).





- Nắm được vấn đề (vạch được bản chất bên trong



của các hiện tượng và mỗi quan hệ giữa chúng).





- Sáng tỏ vấn đề (biết cách tìm ra lối thoát khi gặp



khó khăn). Chỉ có sự kết hợp chặt chẽ giữa những tác động,

điều khiển bên ngoài của giáo viên tạo môi trường học tập

(hình thức tổ chức dạy học, phương thức hành động, phương

tiện vật chất, thái độ tình cảm của thầy, ...). Với sức căng

thẳng trí tuệ bên trong của học sinh nhằm thích nghi với môi

trường đó, mới có thể tạo nên cơ sở cho việc học tập có kết

quả.

1.2.2. Hoạt động học toán của học sinh là hoạt động nhằm

lĩnh hội các tri thức, khái niệm, kỹ năng giải quyết các vấn đề

toán học. Nó bao gồm việc định hướng tìm tòi, lập kế hoạch

thực hiện, bản thân hoạt động và kiểm tra hiệu quả của nó.

Vấn đề tâm lý chủ yếu ở đây là hứng thú tìm tòi, lòng ham

hiểu biết và mong muốn hoàn thiện bản thân - nếu sự hứng



14



thú không được hình thành thì bản thân sự lĩnh hội sẽ diễn ra

thấp hơn nhiều so với tiềm năng sẵn có ở học sinh.

Động cơ học toán đúng đắn và phù hợp phải gắn liền với

nội dung toán học, nghĩa là nắm vững các khái niệm, định lý,

hệ quả quy luật phát triển toán học, kỹ năng phát hiện và giải

quyết vấn đề, kỹ năng ứng dụng Toán học vào thực tiễn, ...

Động cơ này lại được cụ thể hóa thành từng nhiệm vụ học tập

của hoạt động học Toán. Để giải quyết nhiệm vụ đó, học sinh

phải tiến hành một loạt các hành động với các thao tác tương

ứng và được diễn ra theo các giai đoạn sau:





- Tiếp nhận nhiệm vụ đề ra chương trình hành động.







- Thực hiện các hành động và các thao tác tương ứng.







- Điều chỉnh hoạt động học Toán dưới sự chỉ đạo, hướng



dẫn của giáo viên, của sự tự điều chỉnh và tự kiểm tra của bản

thân.





- Phân tích các kết quả thu được của hoạt động học, từ



đó dần hình thành được phương pháp học tập có hiệu quả cho

mình.

1.2.3. Hoạt động giải toán: Trong hoạt động giải toán, hành

động dự đoán chiếm vị trí trung tâm, nó xuất hiện sau khi đã

hiểu kỹ đề bài, phải dự đoán giới hạn phạm vi đi tìm lời giải.

Tiếp theo trong tư duy diễn ra hai hành động trí tuệ: Động

viên và tổ chức kiến thức. Động viên thường bắt đầu bằng

Tách biệt

thao tác nhận biết một số yếu tố nào đó chứa đựng trong bài

biết thao tác nhớ

Toán và được tiếpNhận

tục bằng

lại những

yếu tố khác

Nhóm

lại

đã quen thuộc và có liên quan tới yếu tố vừa nhận biết. Hành

Động

Tổ chức

động tổ chức bao hàm trongDự

nóđoán

thao tác bổ sung

và nhóm lại.

viên

Nhớ lại

Bổ sung

Kết hợp



15



Hành động tách biệt một chi tiết, một bộ phận ra khỏi cái

tổng thể bao quanh nó nhằm tập trung chú ý vào chi tiết, bộ

phận đó. Hành động kết hợp lại liên kết những chi tiết, bộ

phận đã được xem xét lại với nhau trong cái toàn thể. Có thể

sử dụng sơ đồ của G. Pôlia để biểu thị mỗi quan hệ qua lại

giữa các thành tố trên:



Trong đó hành động dự đoán đặt ở vị trí trung tâm của

hình vuông; Các cặp hành động trí tuệ đối lập nhưng thống

nhất như: Động viên - Tổ chức, Tách biệt - Kết hợp được đặt ở

các đỉnh đối nhau của hình vuông; Các thao tác trí tuệ được

đặt trên các cạnh của hình vuông ấy.

Cơ chế của hoạt động được tóm tắt như sau: Từ những chi

tiết được động viên đi đến cái toàn thể có tổ chức, từ một tổ

chức, từ một chi tiết phân biệt, được tách ra để nghiên cứu rồi

lại được liên kết lại với nhau có thể dẫn đến việc thay đổi

quan niệm của người giải bài toán. Còn các thao tác trí tuệ sẽ

xuất hiện khi người giải thực hiện các nhiệm vụ nhận thức.

Trong quá trình giải toán, cứ một lần trí tuệ vận hành theo

cơ chế trên, là một lần người giải toán lại nhìn bài toán ở các

khía cạnh khác nhau. Tất nhiên sẽ có lần kết quả của hoạt

động không đem lại lời giải của bài toán, nhưng đó cũng là bổ



16



ích bởi ta loại bỏ được một con đường và hơn thế nữa, học

sinh lại một lần nữa được rèn luyện năng lực giải toán.

1.3. Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

1.3.1. Tính tích cực

Theo từ điển tiếng Việt, tích cực là trạng thái tinh thần có

tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển, tính tích cực là

một sản phẩm vốn có của con người trong đời sống xã hội.

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm

vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng

động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể

xem tính tích cực là một điều kiện, đồng thời là một kết quả

của sự phát triển cá nhân trong quá trình giáo dục.

Tính tích cực học tập về thực chất là tính tích cực nhận

thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, nỗ lực trí tuệ và nghị

lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Nó diễn đạt ra ở

nhiều phương diện khác nhau.

Nói về tích cực, người ta đánh giá nó về nhiều cấp độ cá

nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học

chung.

Một cách khái quát I.Kharlamop viết: “Tính tích cực trong

hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh

được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với

nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính

mình”

G.I. Sukina đã chia tính tích cực làm 3 cấp độ:

1. Tính tích cực bắt chước tái hiện.

2. Tính tích cực tìm tòi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đóng góp của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(117 tr)

×