Tải bản đầy đủ - 90 (trang)
1/ Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của toàn Ngành thuỷ sản Việt Nam

1/ Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của toàn Ngành thuỷ sản Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 90trang

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

năm 1995 và tiếp tục vượt qua mức 1 tỉ USD năm 2000, không dừng lại ở đó năm 2002

xuất khẩu thuỷ sản Việt

Nam đã có bước tiến lớn đó là vượt mức 2 tỉ USD.

Tuy năm 2002, ngành thuỷ sản gặp nhiều khó khăn và thách thức. Hệ thống cơ chế

chính sách chưa đồng bộ đã hạn chế hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển thuỷ

sản nói chung và trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng. Thêm vào đó, thị trường

xuất khẩu gặp nhiều chắc trở do các biến động chính trị, kinh tế và các rào cản kỹ thuật,

thương mại. Nhưng tất cả khó khăn đó đều không cản được những bước tiến đáng khích

lệ của ngành.

Năm 2002, thị trường thuỷ sản thế giới có nhiều biến động theo hướng bất lợi đối với

sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản. Nhưng, với sự cố gắng của toàn ngành, kim ngạch xuất

khẩu thuỷ sản đạt 2.002,99 triệu USD bằng 100,15% kế hoạch và tăng 12,69% so với

thực hiện năm 2001.

Trước tình hình các lô hàng thuỷ sản Việt Nam bị EU từ chối do vấn đề dư lượng kháng

sinh , Bộ thuỷ sản đã ban hành Quyết định 01/2002/QĐ-BTS ngày 22-1-2002 về việc

cấm sử dụng một số hoá chất, kháng sinh trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản và Chỉ thị

07/2001/CT-BTS ngày 24-9-2001 về cấm dùng các chất kháng sinh, hoá chất. Bộ Thuỷ

sản phối hợp với Bộ thương mại, Bộ Y tế kiểm soát chặt chẽ, cấm nhập khẩu các loại

thức ăn, thuốc , hoá chất có kháng sinh bị cấm. Kết quả từ chỉ đạo này, đến ngày 20-92002, EU đã thông báo ngừng áp dụng chế độ kiểm tra 100% về dư lượng kháng sinh

hàng thuỷ sản Việt Nam. Tiếp tục đấu tranh chống lại vụ kiện Việt Nam bán phá giá cá

tra, cá Basa vào thị trường Mỹ, Bộ Thuỷ sản và Hiệp hội chế biến xuất khẩu thuỷ sản

Việt Nam đã chủ động trong việc giải quyết vụ kiện với việc tìm hiểu Luật thương mại

của Mỹ.

1.2/ Thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

Những năm gần đây, thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ngày càng được mở

rộng. Nếu so với thời kì những năm 1980 hàng thuỷ sản Việt Nam chỉ xuất khẩu cho

những thị trường truyền thống như Nhật Bản, Liên Xô theo các chỉ tiêu của Nhà nước

thì đến năm 2002, hàng thuỷ sản Việt Nam đã xuất khẩu đến rất nhiều nước trên thế giới

như Nhật Bản , Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc , Hồng Kông, Singapore, Nga…

Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam được mở rộng không chỉ về số

lượng các thị trường xuất khẩu mà còn cả về quy mô thị trường. Cơ cấu thị trường xuất

khẩu thuỷ sản của Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

[

Bảng2 : KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM THEO THỊ TRƯỜNG

(Đơn vị 1000 USD)

Thị trường

Năm 1999

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2002

Nhật Bản

383.073

469.473

465.901

540.160

Mỹ

130.036

301.304

489.035

640.180

EU

89.985

71.782

90.745

72.060

Châu Á

272.995

412.396

475.503

482.045

(không kể Nhật)

Thị trường khác

62.783

223.654

256.302

268.545

Tổng cộng

938.872

1478.609

1777.486

2.002.991

(Nguồn: Trung tâm thông tin KHKT và kinh tế Thuỷ sản – Bộ Thủy Sản)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam từ 1999 đến 2002

tăng rất nhanh, năm 2002 kim ngạch gấp hơn 2 lần năm 1999. Tuy nhiên kim ngạch xuất

khẩu thuỷ sản trên từng thị trường có nhiều biến đổi:

- Thị trường Nhật Bản : Nhật Bản là thị trường xuất khẩu truyền thống của thuỷ sản

Việt Nam, giá trị xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản thường lớn, chiếm 43,2% giá trị

xuất khẩu năm 1999 tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm còn 36,25% năm 2000 và

chỉ còn 27% năm 2002. Nguyên nhân là do khủng hoảng tài chính tiền tệ, đồng JPY sụt

giá, Chính phủ Nhật tăng thuế bán hàng. Đồng thời giai đoạn này một số nước Châu Á

bị hạn chế xuất khẩu vào Châu Âu nên chuyển hướng sang thị trường Nhật Bản làm

tăng cung, và cạnh tranh với hàng Việt Nam.

- Thị trường Mỹ: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Mỹ tăng đáng kể từ

năm 1999. Năm 2002 con số này tăng lên gần gấp 5 lần năm 1999. Nguyên nhân là do

sau nhiều năm bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam, Mỹ và Việt Nam đã kí kết Hiệp định

thương mại Việt Mỹ nên quan hệ buôn bán hợp tác kinh doanh giữa hai nước phát triển

rất thuận lợi cho tất cả các sản phẩm xuất khẩu trong đó có cả Thuỷ sản xuất khẩu .

- Thị trường EU: là một thị trường lớn với dân số trên 340 triệu người, tuy nhiên giá

trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU là không nhiều, từ năm 1999 đến 2002 con

số này chỉ dừng lại ở dưới mức 100 triệu USD, nguyên nhân là do yêu cầu về vệ sinh

thực phẩm của EU rất cao so với chất lượng thuỷ sản Việt Nam.

- Thị trường Châu Á: là một thị trường lớn tuy nhiên trong khu vực này phải kể đến

thị trường Trung Quốc- Hồng Kông là thị trường tiêu thụ phần lớn sản phẩm thuỷ sản

của Việt Nam. Vấn đề đó thể hiện ở biểu đồ sau :

Biểu đồ1: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM 2002

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

(Tổng kim ngạch xuất khẩu 2.003 triệu USD)



Qua biểu đồ trên ta nhận thấy, năm 2002 thị trường có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của

hàng thuỷ sản Việt Nam là thị trường Mỹ. Thị trường Nhật Bản giảm xuống đứng thứ

hai với giá trị nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam là 540,16 triệu USD. Thị trường Trung

Quốc Hồng Kông là thị trường không nhỏ với giá trị nhập khẩu hàng thuỷ sản là 306,07

triệu USD. Thị trường EU hiện nay có kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản nhỏ so với các thị

trường khác chiếm 72,06 triệu USD.

Như vậy, thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam hiện nay bất cân đối tập trung vào

một số thị trường truyền thống số lượng thị trường lớn không nhiều.

1.3/ Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam:

Xét cơ cấu mặt hàng thuỷ sản Việt Nam năm 2002 :

Biểu đồ2: CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 2002

(Tổng kim ngạch xuất khẩu 2.003 triệu USD)



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

(Nguồn Tạp chí thông tin thương mại Bộ thuỷ sản)

Từ đồ thị trên ta thấy, mặt hàng tôm đông lạnh vẫn là mặt hàng chủ lực của thuỷ sản

Việt Nam với giá trị xuất khẩu là 975.47 triệu USD chiếm 48% tổng giá trị xuất khẩu

năm. Sau Tôm là các loại cá đông lạnh với giá trị xuất khẩu là 355,65 triệu USD chiếm

17%, mực và bạch tuộc đông lạnh chiếm 7%, cá ngừ chiếm 4%, mực khô chiếm 6% và

các sản phẩm khác chiếm 18%.

Theo đồ thị này, cơ cấu mạt hàng thuỷ sản Việt Nam có xu hướng tập trung vào mặt

hàng tôm là mặt hàng thế mạnh, các mặt hàng khác có giá trị ít hơn nhiều so với tôm

đông lanh. Cơ cấu mặt hàng này cho thấy các chủng loại sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu

của Việt Nam vẫn còn đơn điệu, kém phần đa dạng và phong phú.

Tôm là mặt hàng truyền thống tuy nhiên thuỷ sản ở nước ta còn rất nhiều loại, riêng mặt

hàng tôm cũng có thể chế biến theo nhiều cách thức khác nhau để phục vụ xuất khẩu

như: tôm khô, tôm hấp..v..v chứ không chỉ chuyên xuất một loại mặt hàng, khó cạnh

tranh trên thị trường và dễ bị ép giá.

2/Tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu của công ty:

2.1/ Kim ngạch xuất khẩu

Trong giai đoạn những năm mới thành lập, công ty đã đạt được những thành tựu sau:

Bảng 3 : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

SEAPRODEX HÀ NỘI GIAI ĐOẠN I (1980-1988)



Năm



Sản lượng

XK (tr tấn)



Doanh số xuất khẩu

Giá trị



(1000 $)

1981

330

833

1982

170

1.026

1983

388

2.910

1984

770

4.955

1985

775

4.225

1986

1.015

6.296

1987

1.581

9.454

1988

1.762

10.734

Tổng

6.791

40.433

( Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)



Tốc độ

pháttriển(%)

100

123

309

595

570

756

1135

1259



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Có thể thấy trong giai đoạn đầu thành lập Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà Nội đã có

những bước tiến đáng kể trong sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu mặc dù thời gian

đầu mới ra đời Công ty hoạt động trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn, điều này

tạo cho Công ty ra đời với nguồn vốn ít ỏi nhưng cũng đồng thời mở ra cho Công ty

quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh.

Từ năm 1981 đến năm 1988, về doanh số xuất khẩu của Công ty đã tăng hơn 12 lần từ

dưới 1 triệu USD lên tới con số trên 10 triệu USD, và sản lượng thuỷ sản xuất khẩu

cũng tăng đáng kể vào năm 1981 mới chỉ xuất khẩu 330 tấn thuỷ sản thì đến năm 1988

Công ty đã có số lượng xuất khẩu đạt lên đến 1.762 triệu tấn.

Những thành công này tạo điều kiện cho Công ty phát triển trong giai đoạn sau.

Đây là giau đoạn công ty mới thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều

kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung , từ năm 1986 cơ chế mới ra đời đánh đấu một

giai đoạn khác của Công ty .

Bảng 4 : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

SEAPRODEX HÀ NỘI GIAI ĐOẠN II (1989-2002)

Sản lượng

Năm



XK (tr tấn)



Doanh số xuất khẩu

Giá trị



(1000 $)

1989

1.036

6.746

1990

614

6.109

1991

986

5.096

1992

1.170

5.332

1993

1.013

4.646

1994

1.200

6.723

1995

1.320

8.323

1996

1.336

8.061

1997

1.137

7.986

1998

1.171

6.032

1999

1.987

7.148

2000

1.334

16.073

2001

2.064

12.327

2002

3.702

15.689

( Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)



Tốc độ

pháttriển(%)

100,00

90,55

75,54

79,03

68,87

99,66

123,37

119,50

118,40

89,40

105,96

247,60

182,73

232,57



Như vậy, trong giai đoạn này, Công ty SEAPRODEX Hà Nội cũng đạt được những thành

tựu sau :



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Sau 22 năm hoạt động, với số vốn ban đầu Nhà nước cấp là 490.000Đ, đến nay Công ty đã

có số vốn lên trên 58 tỷ đồng và có được những kết quả chủ yếu đáng khích lệ: Tổng doanh

thu 3.740,5 tỷ đồng; Giá trị kim nhạch xuất nhập khẩu 335,6 triệu USD; Nộp ngân sách

Nhà nước 291,2 tỷ đồng; Lợi nhuận 77,85 tỷ đồng.

 Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu: 7.309.000 USD giảm xuống so với năm 1988 do sự

cạnh tranh gay gắt của các nước trong khu vực Châu Á .

 Năm 1995 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng lên: 8.323.000 USD .

 Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đạt: 16.703.469 USD

So sánh giai đoạn 1991- 1995 với giai đoạn 1981- 1990, giá trị tổng sản lượng tăng trên

268%, kim ngạch xuất khẩu tăng 37,3%, nộp ngân sách tăng 469%, lợi nhuận tăng

6327,27% .

Đặc biệt trong 5 năm 1998- 2002, Công ty đã có những bước tiến vượt bậc cả về số

lượng và chất lượng. Kết quả sản xuất kinh doanh liên tục tăng trưởng, bình quân năm

1998- 2002, so với bình quân năm 1980 đến 1997 giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu tăng

2,75 lần.

Đặc biệt trong 5 năm này sản lượng luôn đạt mức tăng 13%-59%, lợi nhuận tăng 31%357%, nộp ngân sách tăng 2,7%-121%.

 Riêng năm 2000 :

‫־‬



Doanh thu đạt 618,696 tỷ đồng bằng 179,6% so với kế hoạch, kim ngạch xuất khẩu



là: 16.703.469 USD so với kế hoạch đạt 167,03%, so với cùng kỳ năm ngoái bằng

233,65% .

‫־‬



Sản lượng chế biến: 661,47 tấn với giá trị 4.677.194 USD chiếm 28% trong tổng



doanh số sản xuất.

‫ ־‬Nộp ngân sách 35,556 tỷ đồng, so với tổng kế hoạch công ty giao bằng 142,23% .

‫־‬



Lợi nhuận đạt trên 2,2 tỷ đồng, so với kế hoạch tổng công ty giao bằng 104,76%



 Năm 2001 :

Doanh số xuất khẩu và doanh số nhập khẩu đều giảm nhiều so với năm 2000, cụ thể về

doanh số xuất khẩu 23% và doanh số nhập khẩu giảm:61%. Nguyên nhân do giá cả giảm và

chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực.

 Năm 2002:

Doanh số xuất khẩu và doanh số nhập khẩu có khả quan hơn, xuất khẩu đạt 15,689 triệu

USD riêng nhập khẩu có doanh số tăng một cách đáng kể là :35,085 triệu USD cho thấy

Công ty đã tăng nhập khẩu rất nhiều để đầu tư vào sản xuất.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Năm 2002 là năm Công ty đã đạt được kết quả cao nhất từ ngày thành lập đến nay: Tổng

doanh thu đạt 830 tỷ đồng so với bình quân năm 1998-2002 tăng 69%. Giá trị kim ngạch

xuất khẩu đạt 50,8 triệu USD, tăng 68,2% .

2.2 / Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty

Từ tình hình nguồn nguyên liệu hàng hoá sản phẩm của ngành thuỷ sản miền

Bắc nói chung và Công ty nói riêng. Chiến lược thị trường của Công ty là phải

giữ vững các thị trường truyền thống, đồng thời tranh thủ tìm kiếm, kịp thời mở

rộng thị trường mới với những mặt hàng mới. Năm 1981 mới chỉ có hai thị trường Nhật

Bản và Hồng Kông là chính thì đến nay đã phát triển gần 20 thị trường với trên 30

khách hàng ở Hàn Quốc, Mỹ, các nước Châu Âu, Ôxtrâylia, Nga, Xingapore, Đài Loan,

Trung Quốc ..v..v..

Bảng 5:

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TẠI MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG CHỦ YẾU

(1999-2002 )

Đơn vị tính :1000 USD

Thị trường



Thực hiện năm Thực hiện năm Thực hiện năm Thực hiện năm

1999

Giá trị



Nhật Bản

HK-TQ

Mỹ

Hàn Quốc



4659,38

5

2002,88



Tỷ lệ

%

65,18

28,02



7



Úc

EU



0.29

6,24



Thịtrường#



2000

Giá trị

6.856,52

8.665,27

840,65

56,19

36,99

79,85

168,00



41,05

51,87

5,00

0,34

0,22

0,48

1,04



Tỷ lệ

%



2002

Giá trị



4.797,068 38,90

2.807,568 22,77

649,493

5,27



4.472,467

9.643,781

687,258

349,110



342,260

2,78

3.731,150 30,28



458,137



Tỷ lệ

%

28,50

61,47

4,38

2,23

0,50

2,92



20,460

446,265

100



Tổng cộng



Tỷ lệ

%



2001

Giá trị



100



7.148,99



16.703,4



7



7



100

12.327,53



100

15.894,63



9

6

( Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)



Nhận xét về chiều hướng thị trường Xuất khẩu của Công ty thời gian qua ta thấy rằng:

 Từ năm 1999 đến năm 2000 :



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh từ 7.148,997 nghìn USD đến 16.703,47. Công ty bắt

đầu đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang các thị trường mới như Mĩ , Hàn Quốc , Úc…

và xuất khẩu sang EU cũng tăng …đây là năm Công ty có doanh số xuất khẩu cao nhất

trong ba năm gần đây.

 Từ năm 2000 đến 2001:

Tổng gía trị xuất khẩu của Công ty có xu hướng là giảm từ 16.703,47 nghìn

USD xuống còn 12.372,539 nghìn USD. Các thị trường lớn của Công ty như Nhật Bản

và Trung quốc thì giá trị về xuất khẩu cũng giảm đáng kể . Thị trường

Mỹ có tăng nhưng xu hướng tăng không đáng kể .

 Từ năm 2001 đến 2002:

Tổng giá trị xuất nhập khẩu lại tăng lên tuy nhiên xuất khẩu sang Nhật vẫn tiếp tục giảm

nhiều chỉ có xuất khẩu sang Trung Quốc là tiếp tục tăng lại. Bên cạnh đó còn có một số

thị trường mới như Hàn Quốc và Úc cũng có giá trị xuất khẩu tăng lên cho thấy Công ty

đang tiếp tục mở rộng thị trường nhằm đẩy mạnh xuất khâủ hơn nữa. Thời gian này xuất

khẩu sang Mĩ lại giảm nguyên nhân có thể là do một số tiêu chuẩn chất lượng của Mỹ

khá khắt khe, thị trường Mĩ là thị trường rất nhạy cảm và khó tính đối với mặt hàng

Thuỷ sản .

Đặc điểm các thị trường xuất khẩu chính của Công ty :

Môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp cũng rất phong phú. Tuy nhiên trong

hoạt động kinh doanh quốc tế công ty có một số thị trường trọng tâm, trọng điểm :

 Thị trường Nhật Bản .

Thị trường Nhật Bản là nơi có mức tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất thế giới và với mức tiêu

thụ thuỷ sản tính trên đầu người là 70 kg/ năm. Đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất của

hàng thuỷ sản Việt Nam, trong đầu những năm 90 chiếm khoảng 65-75% tổng giá trị

xuất khẩu của hàng thuỷ sản Việt Nam, năm 1997 giảm xuống còn 43% do ảnh hưởng

của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ làm đồng Yên Nhật bị mất giá .

Đối với Công ty SEAPRODEX Hà Nội nói riêng thì đây là một thị trường lớn, quan

trọng và đầy sức hấp dẫn. Hàng năm Công ty đã xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với

giá trị thuỷ sản xuất khẩu chiếm 70-80% ( trước năm 1999) và khoảng 50% ( từ 2000)

tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty.

Tình hình xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của Công ty thể hiện qua bảng sau:



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Bảng 6 : KẾT QỦA XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY SANG NHẬT BẢN NĂM 19992002

(Đơn vị 1000 USD)

Giá trị

1999

2000

2001

-Tôm

3.864,077

6.434,530

4755,730

-Mực

542,682

383,650

-Sản phẩm khác

252,626

38,330

41,337

Tổng cộng

4.659,385

6.856,520

4.797,067

( Nguồn: Phòng Tài chính-Kế toán)

Đặc điểm thị trường Nhật Bản:

٠ Nhật Bản không chỉ là một thị trường lớn đối với các nước có



2002

4.431,131

41,336

4.472,467

ngành công nghiệp



chế biến thực phẩm phát triển mà cả đối với các nước có ngành chế biến thực phẩm

chưa phát triển nhưng có nguồn thuỷ sản lớn. Bởi lẽ, Nhật Bản không những nhập khẩu

mặt hàng ở dạng thành phẩm mà còn nhập khẩu cả những mặt hàng ở dạng bán thành

phẩm, sơ chế hay nguyên liệu. Chính phủ Nhật Bản lại chưa có quy định về hạn ngạch

hay có một biện pháp nào nhằm hạn chế lượng hàng nhập vào Nhật Bản.

٠ Các hàng rào phi thuế quan ở Nhật không nghiêm ngặt như ở Châu Âu và Mỹ. Việc

kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản nhập khẩu do cơ quan thanh tra vệ sinh thực

phẩm thuộc Bộ Y tế đảm nhiệm, các tiêu chuẩn kiểm tra chủ yếu dựa vào các quyết định

về vệ sinh, hoá học, độ tươi và mức độ sử dụng phụ gia. Hiện hay chưa có một dấu hiệu

nào cho thấy Chính phủ Nhật Bản có áp dụng kiểm tra Nhà nước trực tiếp ở ngoài về

các điều kiện sản xuất. Tuy nhiên đã có những áp dụng đáng kể về các điều kiện của các

xí nghiệp chế biến của nước xuất khẩu vào Nhật Bản.

٠ Trên thị trường Nhật Bản, SEAPRODEX Hà Nội phải cạnh tranh với những Công ty

mạnh về kinh nghiệm, chất lượng sản phẩm lẫn khả năng tiếp thị của các nước Châu Á

như Inđônêxia, rất được người Nhật Bản ưa chộng như tôm sú nguyên con hay bỏ đầu,

và được chấp nhận với mức giá cao (trung bình 7,5 USD/kg). Thái Lan đứng thứ hai về

uy tín cung cấp tôm đảm bảo sau Inđônêxia, thị phần của Thái Lan luôn tăng, tôm có

chất lượng đầu bảng vì vậy đây là lợi thế của họ trong cạnh tranh tuy nhiên giá tôm cao

nhất là trên thị trường Nhật (9,7 USD/ kg). Bên cạnh đó, Ấn độ cũng có sản lượng lớn

chiếm 12% tổng sản lượng nhập khẩu vào Nhật Bản tuy nhiên chất lượng không cao nên

chủ yếu được nhập để tái xuất.

٠ Đối với nhà kinh doanh nước ngoài, Chính phủ Nhật ngày nay đang cố gắng cải

thiện môi trường kinh doanh trong nước để có khuyến khích việc tiếp cận thị trường

Nhật Bản của các công ty nước ngoài. Chính phủ đã thi hành biện pháp mở cửa thị

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

trường như miễn giảm thuế nhập khẩu, xoá nhập khẩu…và thi hành nhiều biện pháp

khuyến khích nhập khẩu khác. Có thể nói đây là một cơ hội rất thuận lợi cho Công ty

nước ngoài tiếp cận thị trường Nhật Bản

٠ Về mặt luật pháp, đối với thị trường Nhật Bản, nhà kinh doanh cần phải nắm vững

những quy định về đóng dấu chất lượng và ghi nhãn sản phẩm, luật về bảo vệ người tiêu

dùng, những thủ tục nhập khẩu như hệ thống ưu đãi thuế quan và trạm kiểm dịch…Nhà

kinh doanh nước ngoài khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản cần tìm hiểu một số luật

liên quan đến nhập khẩu hàng hoá như luật vệ sinh thực phẩm, luật ngoại thương,…đặc

biệt là luật trách nhiệm sản phẩm .

Thuận lợi của Công ty trên thị trường Nhật Bản:

- Nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản lớn có xu hướng ngày càng tăng nên Công ty vẫn duy trì

sản phẩm trên thị trường này.

- Thị trường Nhật Bản nhận tất cả các loại sản phẩm thuỷ sản là thành phẩm hay bán

thành phẩm.

- Cước phí vận chuyển thấp so với các nước Chây Âu và Mỹ.

- Thị trường Nhật Bản sẵn sàng trả tiền cao cho sản phẩm có chất lượng cao, nên nếu

Công ty cải biến chất lượng sản phẩm thì sẽ bán được giá cao hơn.

Khó khăn của Công ty trên thị trường Nhật Bản:

- Công ty phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh lớn. Do đó có nhiều kinh nghiệm về

tất cả các lĩnh vực và có lợi thế về sản phẩm

- Năm 1997 chính phủ Nhật Bản tăng thuế bán hàng đã khiến hàng thuỷ sản Việt Nam

xuất khẩu vào Nhật Bản gặp nhiều khó khăn .

- Trong những năm gần đây, đồng yên giảm giá nên tổng sản lượng thuỷ sản xuất khẩu

của Công ty vào Nhật Bản thấp hơn các năm trước đặc biệt là năm 1998.

- Một bất lợi nữa đối với SEAPRODEX Hà Nội là vấn đề giá cả. Giá tôm Việt Nam

xuất sang thị trường Nhật Bản liên tục giảm. Năm 1982 giá tôm trung bình 6,5 USD/kg.

Sau 10 năm đã giảm 20% và thấp nhất trong khu vực Châu Á. Nguyên nhân chủ yếu là

do tôm nhỏ, 75% là cỡ 91-100con/kg và chủ yếu là tôm thịt (PUD) chiếm 92%. Những

năm đầu thập kỷ 80, tôm bóc vỏ bỏ đầu chiếm tỷ trọng 30% tổng số nay còn 10%.

 Tại thị trường Mỹ .

Mỹ là nước có nền kinh tế lớn mạnh vào bậc nhất trên thế giới. Đồng tiền sử dụng là

đồng USD – một trong những đồng tiền mạnh của thế giới, mức lạm phát ở Mỹ lại

không cao nên là cơ hội tốt cho Việt Nam xâm nhập thị trường này. Mỹ là một thị

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

trường có nhiều triển vọng, sức mua lớn,giá cả tương đối ổn định, đang có xu hướng

tăng cả về sức mua lẫn mặt bằng giá. Đặc biệt ưa chuộng là tôm sú cỡ lớn (1620con/found trở lên ), tôm sú xuất vào thị trường Mỹ giá cao hơn thị trường Nhật. Mà

sản phẩm chính của Công ty lại là tôm. Tuy nhiên sức cạnh tranh của hàng Thuỷ sản

Việt Nam so với một số nước khác còn thấp và mới chỉ có một số ít doanh nghiệp bán

được hàng sang Mỹ. Công ty xuất nhập khẩu Thuỷ sản Hà Nội rất vinh dự là một trong

những doanh nghiệp này nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé chiếm 0,5% kim ngạch xuất khẩu

thuỷ sản của công ty. Mỹ luôn khuyến khích các hoạt động kinh tế đối ngoại, mở rộng

thị trường trong nước, vận động các quốc gia khác mở rộng thị trường tích cực tham gia

vào các liên minh kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Mỹ luôn khuyến khích các

doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh trên đất Mỹ .

Mỹ là nước có cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, tài chính ngân hàng phát triển nhất thế

giới tạo điều kiện thuận lợi kinh doanh trên đất Mỹ. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ là thành viên

của khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ ( NAFTA ) và cũng là thành viên của khối APEC,

WTO. Trong khi đó, Việt Nam đang tích cực chuẩn bị tham gia vào AFTA, WTO và

trong tương lai sẽ là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới ( WTO ).

Đây sẽ là cơ hội cho Công ty Seaprodex Hà Nội xuất khẩu nhiều hơn sang Hoa Kỳ. Bởi

vậy, nghiên cứu về môi trường kinh doanh Mỹ sẽ giúp cho Công ty tận dụng tối đa cơ

hội kết hợp với thế mạnh để thúc đẩy việc xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường đầy tiềm

năng này.

Tiêu chuẩn chất lượng:

Hiện nay các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam muốn xuất khẩu thuỷ sản sang

thị trường Mỹ phải áp dụng hệ thống tiêu chuẩn HACCP của Mỹ có hiệu lực từ này

17/12/1997.

Thuận lợi cho Công ty trên thị trường Mỹ:

Đó là tôm xuất khẩu không phải là mặt hàng tăng thuế. Thị trường Mỹ có nhiều triển

vọng, sức mua lớn, giá cả tương đối ổn định và đang có xu hướng tăng cả về sức mua

lần mặt bằng giá. Sức cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam thấp so với các nước

khác, chỉ có một số ít các doanh nghiệp bán được hàng sang Mỹ, trong số đó có Công ty

SEAPRODEX Hà Nội, đây là một lợi thế quan trọng của Công ty so với các doanh

nghiệp Việt Nam khác. Ngoài việc nhập khẩu một số lượng thuỷ sản lớn tiêu dùng hàng

năm, Mỹ còn nhập khẩu một lượng thuỷ sản lớn các sản phẩm thuỷ sản sơ chế hoặc

nguyên vật liệu để phục vụ cho công nghiệp tái xuất.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1/ Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của toàn Ngành thuỷ sản Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(90 tr)

×