Tải bản đầy đủ - 77 (trang)
II. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10 SANG EU

II. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10 SANG EU

Tải bản đầy đủ - 77trang

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và

http://tailieupro.vn/

xét theo vị trí địa lý, sản phẩm của công ty có mặt ở Châu á, Châu phi, Châu

âu và Bắc Mỹ...

Thị trường của công ty hầu như ở khắp nơi trên thế giới ,, thị trường cá

nước Tây âu ( EU) là thị trường quan trọng nhất của công ty thị trường này có

tỷ trọng lớn với toàn bộ sản phẩm xuất khẩu.



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và

http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



BH. 9 TỶ TRỌNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CỦA CÔNG TY MAY 10

Thị trường

khu vực



EU



Năm 1996



Năm 1997



Năm 1998



Trị giá XK Tỷ



Trị



Trị



19002328



giá Tỷ



2700453



giá Tỷ trọng Trị



5794586



các



nước



khu



vực



giá Tỷ



trọng %



XK



%



XK



%



XK



trọng %



58,94



2070203



42,45



2257835



38,23



2617836



36,57



2839721



33,39



8,38



9493818



4

19,48



1285720



5

21,77



17,97



9357311



19,19



1314659



14,71



9213473



18,89



1047711



1808612



7

25,27



5

22,26



5

Đông âu và 4741885



giá Tỷ trọng Trị



XK



5

Châu á



Năm 2000



trọng %



9

Bắc Mỹ



Năm 1999



1526324



5



1204813



27,2



2

21,32



2

17,74



2313621

1835427



21,58



8

16,84



5



1515721



17,82



8



khác

Tổng cộng



32239252



100



4876664

1



100



5905926

9



100



7157586

7



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



100



8504492

5



100



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Qua bảng trên ta thấy tỷ trọng xuất khẩu của công ty vào thị trường EU là rất

lớn, thường gấp mấy lần so với các thị trường khác. Mặc dù trong những năm gần

đây thì kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường khác. Mặc dù trong những năm gần

đây thì kim ngạch, xuất khẩu sang các thị trường khác đều tăng đã dần rút ngắn được

khoảng cách so với EU. Nhưng xét về trị giá xuất khẩu thì vẫn còn kèm rất nhiều.

Những yêu cầu về chất lượng, cũng như về mẫu mã ở các thị trường dần dần tương

đương như nhau, bởi vì những đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao, cho nên

các sản phẩm phải hoàn thiện.

Hiện nay trên thế giới các thị trường may mặc đã chia thành 2 khu vực đó là :

khu vực nhập khẩu và khu vực xuất khẩu các sản phẩm may mặc.

- Các khu vực nhập khẩu bao gồm Tây Âu, Bắc Âu và các nước tư bản phát

triển Bắc Mỹ và Canada.

- Khu vực xuất khẩu bao gồm : Châu á, Bắc Phi và khu vực địa trung hải.

Việt Nam là một đất nước ở trong khu vực xuất khẩu hàng may mặc, ngành may

mặc VN cũng đang trên đà phát triển đáp ứng cho nhu cầu đối với thị trường hàng

may mặc thế giới. Việt Nam cũng đang phát huy lợi thế của mình trong ngành may

mặc đó là lực lượng có tay nghề cao, giá nhân công thấp, vốn đầu tư không cần

nhiều, lao động cần cù chịu khó... Việt Nam đang là một nước có nhiều cơ hội tăng

cường buôn bán với các nước trên thế giới và trong khu vực. Trong khi xu hướng

chung của thế giới là xoá bỏ hàng rào thuế quan để các nhà sản xuất phải có các biện

pháp hạ giá thành.

Đối với ngành may mặc Việt Nam, thì công ty May 10 là một trong những đơn

vị có vị trí hàng đầu. Được hình thành từ rất sớm của ngành may mặc VN. Khi nói

đến hàng dệt may thì người ta thường nghĩ đến thị trường EU. Vì ở đó có những

trung tâm tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới như : Pháp, ý, EU, với dân số trên 360

triệu người, chiếm 6,5% dân số thế giới. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vực

này là cao nhất so với các khu vực khác trên thế giới do đó những yêu cầu của khách

hàng khu vực Tây Âu về sản phẩm may mặc ngày càng cao, càng tinh tế và phong

phú, tỷ lệ chi tiêu cho may mặc càng tăng lên, yêu cầu về thẩm mỹ đối với các sản

phẩm may mặc có hệ số cao nhất so với các khu vực khác. Mức tiêu thụ ở thị trường

này đối với hàng dệt may khá cao khoảng 17ng/1lần/năm .

Trình độ văn hoá của người dân khu vực này ở mức cao, lối sống thường chạy

theo mốt cho nên sản phẩm may mặc không chỉ đơn thuần để đáp ứng nhu cầu bảo vệ

( nhu cầu cơ bản, cấp thấp ) mà còn phải đáp ứng nhu cầu làm đẹp, nhu cầu nâng cao

địa vị, phẩm chất, đặc tính con người, hay nói cách khác nó liên quan đến yếu tố tinh

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

thần của con người là giá trị văn hoá của sản phẩm may mặc đây là yêu tố cấu thành

chất lượng sản phẩm may mặc, nhằm thực hiện cả hai chức năng cơ bản của sản

phẩm may mặc là bảo vệ và làm đẹp đòi hỏi công ty May 10 phải có đủ nguyên liệu

cho sản xuất, bên cạnh đó phải thiết kế kiểu dáng, màu sắc, kích thước phù hợp với

yêu cầu của khách hàng. Nếu làm được thì sản phẩm của công ty May 10 có giá trị

sử dụng cao trên thị trường các nước EU. Một thị trường mà 90-95% dân số chạy

theo mốt.

Hiệp định về buôn bán hàng dệt, may mặc giữa cộng đồng kinh tế EU và VN

được đăng ký này 15/12/1992 tại Bỉ qui định hạn ngạch cho 151 mặt hàng dệt may

vào EU. Từ tháng 11/1997 hiệp định dệt may VN và EU vừa ký kết cho giai đoạn

1998-2000 số hạn ngạch chỉ còn 29 mặt hàng có XK vào EU và còn được tự do

chuyển đổi hạn ngạch giữa các mặt hàng một cách rộng rãi và dễ dàng từ 12-17%.

Như vậy hầu hết các mặt hàng đã được tự do xuất khẩu vào EU. Đây là môi

truờng luật pháp thuận lợi cho Công ty May 10 cũng như các công ty khác trong

ngành dệt may của VN.

2. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang EU.

Một trong những chìa khoá chính yếu cho thắng lợi của các nhà xuất khẩu nói

chung và xuất khẩu hàng may mặc nói riêng là phải biết được chính xác xem sản

phẩm của mình đáp ứng đuợc nhu cầu của thị trường đến mức độ nào ? Do vậy cần

thiết phải tiến hành phân tích, xem xét khả năng thích ứng của sản phẩm với thị

trường EU ở mức độ nào. Nội dung phân tích, đánh giá khả năng thích ứng của snả

phẩm với thị trường bao gồm :

- Tìm sản phẩm mũi nhọn để XK

- Phân tích đánh giá khả năng và mức độ thành công của sản phẩm trên thị

trường.

- Tìm và chỉ ra được khuyết tật của sản phẩm cần phải thay đổi, cải tiến.

- Đánh giá việc thích ứng của DN với thị trường và đề ra phương pháp kiểm tra

sự chấp nhạnh của sản phẩm trên thị trường .

- Phân tích đánh giá sản phẩm được chú ý nhiều hơn đối với sản phẩm cạnh

tranh những nội dung cần được phân tích, đánh giá là ưu nhược điểm của sản phảm

so với yêu cầu và so với sản phẩm cạnh tranh (so sánh chỉ tiêu chất lượng thẩm mỹ,

nguyên liệu, kỹ thuật lắp ráp cắt may ...).

Trên cơ sở phân tích đánh giá đó, May 10 đã điều chỉnh kiểm tra, hoàn chỉnh

chiến lược sản phẩm của mình và tìm ra được những sản phẩm thích ứng với thị

trường EU và được thị trường này chấp nhận. DO đó mà May 10 đã bảo vệ được thị

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

phần, đã xâm nhập và tiến tới việc xây dựng mạng lưới xuất khẩu rộng khắp. Hơn

nữa nó còn giúp công ty xuất khẩu hàng may mặc sang EU tránh những chi phí

không cấn thiết có thể xẩy ra do thiếu hiểu biết thị trường. Sự thích ứng của một sản

phẩm với một thị trường nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng

nhất pải kể đến đó là sự chấp nhậnh của người tiêu dùng, trên cơ sở đó dẫn đến sự

sắn sàng chấp nhạnh của các nhà nhập khẩu, buôn bán, bán lẻ.

Trong máy năm qua các sản phẩm mũi nhọn của May 10 xuất sang EU chủ yếu

là :

BH. 10 Hạn ngạch và thực hiện xuất kẩu các sản phẩm mũi nhọn sang EU của

công ty May 10

Đơn vị : 1000 chiếc

Tên hàng



Cái



Năm 1999



Năm 2000



So



sánh



Hạn ngạch Thực hiện



Hạn ngạch Thực hiện



thực hiện

00/99



Sơ mi nam



8



1.536,200



1.431,307



1.687,8



1.697,5



1,18



Sơ mi nữ



7



69



65,958



75



72,800



1,10



Jacket



21



194,900



194,722



198



199



1,02



Qua bảng trên ta thấy các sản phẩm mũi nhọn của công ty ngày càng được xuất

khẩu với số lượng năm sau lớn hơn năm trước chứng tỏ công ty đã ngày càng hoàn

thiện sản phẩm của mình. Bên cạnh đó May 10 đã có thị trường EU ngày càng rộng

lớn và xuất khẩu với số uợng nhiều là do VN đã chú ý nhiều đến việc phân tích, đánh

giá các sản phẩm cạnh tranh, qua đó thấy được khả năng chấp nhận của thị trường

đối với sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm của VN. Từ đó May 10 thiết lập được một

chiến lược sản phẩm định vị được những sản phẩm may mặc có khả năng cống hiến

cho khách hàng sự thoả mãn cao hơn hẳn so với các sản phẩm cạnh tranh.

3. Các phương thức xuất khẩu:

Các sản phẩm của May 10 được xuất khẩu chủ yếu dưới hình thức xuất khẩu

trực tiếp. Đây là hình thức sau khi công ty sản xuất ra các sản phẩm theo đúng hợp

đồng với nước ngoài thì công ty tự chịu trách nheịem về kết qủa kinh doanh. Phương

thức này có ưu điểm như tạo ra thế chủ động trong kinh doanh cho công ty, chủ động

thâm nhập thị trường, có điều kiện nghiên cứu thị trường. Phương thức này đem lại

hiệu quả kinh tế cao, không phải mất phí uỷ thác ( 1-1,5% giá trị là hàng xuất khẩu )

như ở phương thức uỷ thác xuất khẩu nhưng hình thức này có thể gặp rủi ro cao hơn,

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

đòi hỏi có vốn nên công ty phải có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm vững vàng . Hình

thức xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của công ty dưới hai dạng:

a) Gia công XK: XK trực tiếp các sản phẩm may mặc sau khi tiến hành gia công

xong, công ty ký hợp đồng gia công với khách hàng nước ngoài, sau đó nhận nguyên

vật liệu tổ chức gia công. Công ty có thể trực teíep gia công tại các chi nhánh thuộc

công ty hoặc ở ngày tại công ty, sau đó xuất theo hợp đồng gia công. Hình thức này

mang lại hiệu quả cao hơn so với xuất khẩu uỷ thác và bước đầu làm quen với thị

trường nước ngoài, làm quen được công nghệ máy móc mới hiện đại. Nó tạo cơ sở

bước đầu cho sự xâm nhập vào thị trường nước ngaòi của công ty. Phương thức này

được công ty áp dụng ngày càng nhiều là vì đây là phương thức mà công ty sẽ không

gặp phải khó lắm trong việc giải quyết đầu ra cho sản xuất, khắc phục được khó khăn

do thiếu nguồn nguyên vật liệu có chất lượng, đồng thời cũng học hỏi được trình độ,

công nghệ sản xuất.

b) Bán FOB: xuất khẩu trực tiếp dưới dạng bán FOB, Công ty chuẩn bị nguồn

hàng xuất khẩu sau khi sản xuất xong tại nhà máy hoặc tại các chi nhánh của Công ty

rồi đem bán cho khách hàng nước ngoài. Xuất khẩu dưới dạng này đem lại hiệu quả

kinh tế cao nhất cho công ty cũng như cho đất nước do công ty có thể chủ động sản

xuất, tận dụng nguồn nguyên liệu nhân công trong nước... Xong do khâu tiếp thị còn

hạn chế chất lượng sản phẩm chưa cao nền xuất khẩu dưới dạng này gặp nhiều khó

khăn do Công ty mới bắt đầu thực hiện từ năm 1996.

Nhìn chung hai phương thức xuất khẩu trực tiếp này đều có những ưu nhược

điểm khác nhau, nhưng trước tình hình thực tế nhất là năm 1990 sau khi Liên Xô tan

rã, thị trường ở các nước Đông Âu sụp đổ, May 10 mất một phần lớn thị trường xuất

khẩu, công ty May 10 đã đứng vững chủ yếu bằng hình thức may gia công, may gia

công chiếm tỷ trọng lớn khoảng 95 % so với tổng kim ngạch xuất khẩu sang EU. Một

thực tế cho thấy là số lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty May 10 sang EU ngày

càng tăng, do Công ty tích cực tìm kiếm khách hàng, cùng với việc bám sát các phân

xưởng sản xuất, phối hợp chặt chẽ với các cơ sở và chi nhánh nhằm giải quyết kịp

thời những công việc phát sinh trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, công ty đã xác

định đúng : muốn đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu bước đầu phải thực hiện gia công,

sau đó mới chuyển dần sang sản xuất để xuất khẩu ( bán FOB). Nhìn vào bảng dưới

đây ta có thể thấy giá trị xuất khẩu theo phương thức may gia công tăng dần và trọng

lượng lai nó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho DN.

BH. 11 Giá trị XK chia theo các phương thức xuất khẩu trực tiếp

Đơn vị : tỷ đồng

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Năm



Giá trị XK sang Phương thức xuất khẩu

EU



Gia công



Bán FOB



1997



36.0825



37,278375



1,804125



1998



37.0831



35,228945



1,854155



1999



38.2431



36,718322



1,524778



2000



39.4538



36,953421



2,500379



III/ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NỖ LỰC MAR – MIX XUẤT KHẨU HÀNG

MAY MẶC Ở CÔNG TY MAY 10

Sau khi đã nghiên cứu, lựa chọn thị trường xuất khẩu trọng điểm, công ty sẽ tiến

hành nghiên cứu chi tiết các hoạt động marketing ở trong thị trường trọng điểm này. Việc

nghiên cứu nhằm mục đích cung cấp những thông tin để công ty xác lập được chiến lược

xuất khẩu đồng thời có thể giúp công ty tiến hành triển khai chiến lược xuất khẩu này đạt

hiệu quả cao.

1. Nỗ lực marketing sản phẩm may mặc xuất khẩu ở công ty

Thị trường EU là một thị trường khá rộng lớn, các quốc gia trong khối này đều là

những nước giàu do đó sự đòi hỏi về sản phẩm may mặc phải có chất lượng cao, lấy được

sự tín nhiệm và uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước. Sản phẩm may mặc của

công ty rất đa dạng về mẫu mốt, phong phú về mầu sắc , kích cỡ và sản phẩm phải thể

hiện được tính nổi trội, phong cách độc đáo biểu hiện thông qua từng sản phẩm.Không

những thế, trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì việc làm cho

sản phẩm của công ty mình vượt trội hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh là điều

rất khó khăn. Để làm được điều này đòi hỏi nỗ lực không chỉ của ban lãnh đạo công ty mà

nó còn là sự nỗ lực cuả tất cả cán bộ, công nhân viên trong toàn công ty.Nhận thức rõ

điều này công ty May 10 đã nỗ lực thực hiện công tác marketing sản phẩm của mình, từ

đó để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài và thị hiếu tiêu dùng của họ bằng việc

hoạch định sản phẩm như sau:

- Phát triển sản phẩm mới : Nếu như trước đây công ty chỉ tập trung vào sản xuất và

nhận gia công sản phẩm là áo sơ mi nam thì giờ đây công ty đã nhận ra rằng thị trường

luôn luôn biến động và con người luôn chạy theo xu thế của sự biến động đó, riêng về

lĩnh vực thời trang thì đó là một yếu tố tất yếu và không thể không có đối với mỗi người

dân. Chính vì vậy mà công ty đã tập trung vào việc đa dạng hoá sản phẩm. Thông qua các

đơn đặt hàng của các bạn hàng nước ngoài và qua nghiên cứu thị trường cùng với những

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

thông tin thu thập được mà công ty đã nhận thấy cần phải sản xuất thêm những sản phẩm

mới để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng một cách tốt hơn. Do đó công ty đã tiến

hành sản xuất và gia công thêm những mặt hàng xuất khẩu như sơ mi nữ, áo jacket.

những sản phẩm này rất đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và màu sắc. Việc phát triển thêm

sản phẩm mới vừa ổn định công ăn việc làm cho người lao động, đảm bảo cho người lao

động có công ăn việc làm vừa tạo thêm được nguồn thu ngoại tệ cho công ty.Vì vậy công

ty đã rất chú trọng vào việc phát triển và đa dạng hoá sản phẩm. Bên cạnh đó công ty

cũng đồng thời cải tiến sản phẩm, đây là việc mà công ty luôn coi trọng. Trong nền kinh

tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, công ty đã nhận thức rõ một điều là: “Một sản

phẩm đang có kiểu dáng và mẫu mã như hiện tại thường là không phù hợp với nhu cầu và

thị hiếu đương thời của người tiêu dùng. Vậy thì sản phẩm đó phải được chú trọng đến

việc đa dạng hoá và thay đổi kiểu mốt của sản phẩm nhanh chóng và thường xuyên nhằm

đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường”. Do đó công ty đã không ngừng cải tiến nâng cao

chất lượng sản phẩm theo nguyên tắc sản phẩm cải tiến sẽ thích nghi được với khuynh

hướng xã hội và kiểu mốt thời trang của thị trường mỗi nước.

Để nâng cao chất lượng sản phẩm thì một yếu tố nữa mà không thể không nói đến: đó

là nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân viên và đổi mới công nghệ. Trong những

năm qua, công ty đã nhập một số thiết bị, công nghệ hiện đại như máy may công nghiệp,

máy cắt, máy là, máy giặt, máy thêu,.... Những máy móc thiết bị này giúp cho công ty

đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn một cách đồng bộ. Mặc dù có sự trợ giúp

của máy móc thiết bị hiện đại thì vẫn phải đánh giá cao vai trò của người công nhân may.

Máy móc thiết bị hiện đại thì doanh nghiệp khác cũng có thể mua được, nhưng lực lượng

công nhân với kỹ thuật may tốt mới chính là niềm tự hào của công ty.

- Do công ty trước đây phần lớn là tập trung cho hàng xuất khẩu và may gia công nên

thị trường trong nước công ty đã ít chú ý tớ. Nhưng hiện nay công ty đã nhận ra rằng đây

là một thị trường tiềm năng và mang lại lợi nhuận đáng kể cho công ty. Công ty đã đa

dạng hoá sản phẩm:

+ Cùng một kiểu dáng sơ mi, cùng chất liệu nhưng với màu sắc khác nhau công ty đã

tạo ra nhiều sơ mi.

+ Cùng một kiểu dáng nhưng khác chất liệu, khác ,màu sắc thì lại có nhiều sản phẩm

sơ mi khác nhau hơn nữa.

+ Khác cả về kiểu dáng, chất lượng, màu sắc thì công ty tạo ra rất nhiều loại sản

phẩm.

Nếu như tiếp tục tách biệt chúng ra thì số loại sản phẩm khác nhau rất nhiều sẽ làm

khó cho việc kiểm soát. Theo cách tính như vậy thì tại May 10 số loại sơ mi hiện nay là

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

trên ba mươi loại khác nhau. Công ty thường xuyên thay đổi mẫu mã, loại vải nhưng nhìn

chung thì số loại sơ mi ở các năm khá ổn định ở mức ba mươi loại.

Hiện nay, May 10 khẳng định mục tiêu mở rộng thị trường trong nước và chuyển đổi

từ may gia công sang may xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn nên chính sách

sản phẩm được đặt lên hàng đầu. Sản phẩm mới ở đây được hiểu dưới góc độ người tiêu

dùng, tức là khách hàng nhận thấy có sự khác biệt so với những sản phẩm đã có.

- Nhãn mác của sản phẩm: đối với hàng may gia công và may xuất khẩu thì nhãn do

bên đặt gia công quy định họ sử dụng nhãn mác của họ, nhãn mác theo quy định và yêu

cầu thiết kế của phía đối tácl. Còn đối với nhãn mác của sản phẩm trong nước: trước đây

do xuất phát từ tâm lý chuộng hàng ngoại của khách hàng nên nhãn mác trên sản phẩm

đều dùng nhãn mác nước ngoài. Nhưng hiện nay tâm lý tiêu dùng của người Việt nam đã

có những thay đổi. Họ có kinh nghiệm hơn trong việc lựa chọn hàng, do đó họ quan tâm

tới chất lượng hơn là xuất xứ hàng hoá đó. May 10 vẫn dùng những nhãn mác nổi tiếng

của nước ngoài nhưng trên kệ bầy hàng của công ty có gắn tên công ty và giá sản phẩm

để người mua có thể khẳng định chất lượng sản phẩm và hình ảnh của công ty trên thị

trường.

- Về bao gói: đối với hàng may xuất khẩu và may gia công thì bao gói tuỳ thuộc vào

yêu cầu của khách hàng và trong hợp đồng, bao bì có thể là do công ty sản xuất có thể là

do phía đối tác gửi sang. Đối với áo sơ mi, bao gói có ý nghĩa quan trọng không chỉ vì nó

bảo vệ sản phẩm mà nó còn làm tăng giá trị cảm nhận cho người mua. Quá trình bao gói

áo sơ mi khá phức tạp từ gấp gọn gàng bằng máy công nghiệp cùng với một số phụ liệu

như: gim, giấy cứng....đến cho vào bao bì. Nhưng bao bì lại có nhiều loại. Với những áo

sơ mi nhằm thị trường cao cấp thì công ty sử dụng hộp giấy cứng, trong đó có ghi tên

công ty. Ngược lại, với những sơ mi nhằm vào thị trường cấp thấp hơn thì công ty dùng

túi ny lông. Khi bán sản phẩm, ngoài bao bì sản phẩm còn có túi ny lông to hơn, trên đó

ghi tên công ty, địa chỉ cửa hàng và đại lý của công ty(có cả số điện thoại ). Chiếc túi còn

có tác dụng như một công cụ quảng cáo tuyên truyền.

Đó là những nỗ lực marketing sản phẩm hàng may mặc của công ty trong thời gian

qua. Và nó đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Công ty định hướng rằng phải tiếp tục thực hiện

nỗ lực marketing sản phẩm ngày càng tốt hơn.

2. Nỗ lực marketing giá xuất khẩu ở công ty

Chính sách giá là một vấn đề cực kỳ quan trọng và phức tạp vì nó trực tiếp ảnh hưởng

đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Nếu làm tốt chính sách giá thì nó sẽ đem lại cho

công ty những kết quả cụ thể đó là tỷ phần thị trường, uy tín, doanh số bán...

- Cơ sở định giá cho sản phẩm xuất khẩu của công ty căn cứ vào các yếu tố:

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

+ Chi phí vận chuyển bảo quản trong kho

+ Chi phí vận chuyển tới cảng, sân bay

+ Chi phí cho dịch vụ, lệ phí cảng, sân bay, hải quan

+ Các chi phí khác có liên quan

Nhu cầu thị trường về hàng may mặc

Tình hình cạnh tranh: Nhìn chung sản phẩm hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam

nói chung và của may 10 nói riêng đã được đánh giá là có sức cạnh tranh trên thị trường

quốc tế.

Trong các yếu tố trên khi định giá xuất khẩu, công ty đặc biệt quan tâm đến

những yếu tố như chi phí sản xuất và chi phí xuất khẩu, coi đó là cơ sở chính để

công ty định giá. Tuy nhiên tuỳ từng thị trường, từng khách hàng mà công ty có sự

điều chỉnh giá một cách linh hoạt.

Cơ sở định giá sản phẩm may gia công gồm:

+ Tiền gia công ( gồm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm do 2 bên

thống nhất trên cơ sở xem xét tiền công lao động, khấu hao, chi phí quản

lý, lợi nhuận của bên nhận gia công).

+ Giá cả nguyên vật liệu

+ Chi phí đào tạo ( đào tạo, hướng dẫn công nhân lao động, cán bộ kỹ thuật

của bên nhận gia công).

+ Chi phí đào tạo ( đào tạo, hướng dẫn công nhân lao động, cán bộ kỹ thuật

của bên nhận gia công).

+ Chi phó bao gói, giao nhận vận chuyển ( chi phí đóng gói hàng gia công,

chi phí nguyên liệu gia công, chi phí vận chuyển giao hàn gia công, chi phí

chứng từ giao hàng gia công làm thủ tục hải quan).

Xác định chi phí hợp lý không những đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên đặt

gia công và nhận gia công mà còn tăng cường mối quan hệ hợp tác gưữa 2 bên. Công

ty đã căn cứ vào những yếu tố đó để xác định giá cho sản phẩm gia công với mức giá

thích hợp.

- Phương pháp xác định giá : Do côn ty thường may gia công và may xuất khẩu

theo đơn đặt hàng của phía đối tác nước ngoài và mục tiêu của công ty là xâm nhập

vào nhiều thị trường để thúc đẩy số lượng tiê thụ -> từ đó tạo công ăn việc làm cho

người lao động trong nước nên công ty thường áp dụng xác định giá theo chi phí cận

biên đơn giản, bao gồm các bước:

+ Tính chi phí bình quân cho một sản phẩm.

+ So sánh giá xuất khẩu với chi phí biến đỏi bình quân cho một sản

phẩm.Trong tổng hợp nếu giá xuất khẩu lớn hơn thì công ty chấp nhận

giá xuất khẩu do khách hành đưa ra và ký hợp đồng.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

- Về hình thức thanh toán: Quyết định thanh toán là một vấn đề quan trọng

trong buôn bán quốc tế. Đồng tiền thanh toán công ty thường sử dụng 2 đồng tiền đô

la Mỹ và Mác Đức. Đây là hai đồng tiền có khả năng chuyển đổi .Thời hạn thanh

toán thì tuỳ vào phương thức thanh toán hay trong từng hợp đồng cụ thể mà công ty

và bên đối tác có thể đưa ra thưòi hạn có lợi cho cả hai bên.

- Đối với thị trường nội địa thì chính sách giá được thể hiện như sau:

Những số liệu về chỉ tiêu tiêu thụ nguyên liệu phụ: là những chi phí để hoàn

thành một sản phẩm cùng với số liệu của phòng lao động như định mức giớ lao động/

1áo, đòi hỏi trình độ tay nghề thợ. Phòng kế toán sử dụng những báo cáo từ cá phòng

tiện để xác định chi phí sản xuất giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu

gốc để công ty xác định giá. Giá sản phẩm tới thị trường còn phụ thuộc voà các chi

phí khác chi phí vận chuyển lưu kho, chi phí quản lú, chi phí bán hàng, thuế và lợi

nhuận.

Đứng ở góc độ người sản xuất nếu giá bán bằng tổng cá chi phí sản xuất tới tiêu

thụ cộng với một tỷ lệ lợi nhuận trừ thuế thì việc xác định giá trở nên dễ dàng và lợi

nhuận tính ngay được, nhưng May 10 đã không sử dụng cách tính đó đối với thanh

toán nội địa để xác định giá cho tất cả sảnphẩm của mình, mà chỉ dựa vào đó kết hợp

với yếu tố thanh toán Mar để làm quyết định giá.

Cùng với số lượng sản phẩm phong phú, công ty cũng đưa ra các loại giá phù

hợp mỗi loại sản phẩm. Nếu chỉ xét đơn thuần về giá thì sơ mi của công ty thuộc loại

giá cao, phần lớn sơ mi của công ty ở mức giá từ 90.000đ đến 150.000đ. Vì sơ mi

của May 10 chiếm 80% là hàng cao cấp. Sự chấp nhân giá của người tiêu dùng đối

với sản phẩm sơ mi của công ty thể hiện sự đúng đắn của công ty trong việc quyết

định giá một cách linh hoạt nhưng đó là người tiêu dùng mau lẻ còn đối với những

khách hàng lớn và những đại lý thì chính sách giá có khác. Đối với các cửa hang đại

lý công ty áp dụng những mức hoa hồng luỹ tiến nhằm kích thích tiêu thụ. Mức hoa

hồng mà các đại lý được hưởng phụ thuộc vào doanh số bán hàng của cửa hàng.



Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10 SANG EU

Tải bản đầy đủ ngay(77 tr)

×