Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 23trang

toàn vẹn những quan hệ phát sinh trong xã hội. Do vậy, còn nhiều vấn đề liên quan

đến việc xác định trách nhiệm dân sự do hành vi xâm hại môi trường gây ra cần

phải được bàn luận về khoa học, để cơ quan lập pháp lưu ý khi ban hành pháp luật

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm do

hành vi xâm hại môi trường nói chung, để điều chỉnh có hiệu quả những tranh chấp

phát sinh liên quan đến môi trường. Việc xác định những yếu tố lien quan đến hành

vi xâm hại môi trường, căn cứ vào thực trạng còn tồn tại trong pháp luật chưa thể

điều chỉnh được đầy đủ và trọn vẹn.



Ảnh: Xả thải bừa bãi ra lòng kênh, cá chết hàng loạt.

Pháp luật chỉ quy định trách nhiệm của người gây ô nhiễm môi trường phải

bồi thường những thiệt hại xảy ra trên cơ sở xác định được thiệt hại đó, theo

nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu. Trách nhiệm bồi

thường thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại vẫn được áp dụng dựa trên

những thiệt hại xác định được dù là thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng nguyên

tắc này chỉ phù hợp với những thiệt hại về vật chất đơn thuần, mà không phù hợp

trong việc áp dụng đối với hành vi xâm hại môi trường. Vì hành vi xâm hại môi

trường thì phạm vi và thời gian gây thịêt hại có thể rất lớn và rộng hơn rất nhiều lần

15



so với thiệt hại đơn thuần( trong mối quan hệ không gian và thời gian). Sự tiềm ẩn

của những nguy cơ do môi trường bị xâm hại gây ra là rất lớn và lâu dài, có thể đơn

vị thời gian thiệt hại đó không thể xác định được chính xác theo ngày, tháng năm cụ

thể mà còn có thể diễn biến theo chiều hướng xấu trong nhiều năm tiếp theo.Thiệt

hại mang tính chất phản ứng dây truyền mà không bộc lộ bằng những hiện tượng dễ

nhận biết như những thiệt hại do hành vi trái pháp luật khác gây ra( một tài sản bị

tiêu huỷ, một gia súc bị làm chết hoặc bị gây thương tích…). Thiệt hại do xâm hại

môi trường gây ra vừa là những thiệt hại thực tế xác định được ngay tạo thời điểm

có thiệt hại xảy ra, và những thiệt hai chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, mà tại

thời điểm xác định thiệt hại không thể nhận biết được. Như: rừng đầu nguồn bị tàn

phá, hành lang và thành luỹ chắn gió, chắn lũ bị phá vỡ là điều kiện cho nguồn

nước mưa đầu nguồn tự do lưu thong xuống hạ lưu gây ra ngập lụt, cuốn trôi mọi

thứ dưới hạ nguồn. Thiệt hại này do nguyên nhân sâu xa gây ra là hành vi xâm hại

môi trường trước đó do rừng đầu nguồn bị tàn phá, và đa số mọi người nghĩ là do

tự nhiên , do thiên tai gây ra. Hay trong sản xuất tạo ra vật chất, người ta đã thải ra

chất khí, chất thải độc hại làm ô nhiễm cả một dòng song, sự sống trong môi trường

đó đều bị tác động theo hướng bất lợi và những thiệt hại lâu dài sẽ phát sinh gây

tổn hại đến sự phảt triển của sự sống nói chung. Con người khai thác nguồn nước

ngầm thiếu kế hoạch và không khoa học đã làm cạn kiệt cả một dòng song, gây hạn

hắn cả một lưu vực song đó, sự sống của con người bị đe doạ không chỉ vì thiếu

nguồn tưới tiêu, thiếu nguồn nước dung cho sinh hoạt, sản xuất khác..Những thiệt

hại đó là vô cùng lớn, nguyên nhân do hành vi xâm hại môi trường gây ra, nhưng

người gây ô nhiễm môi trường là ai thì không hẳn bao giờ cũng có thể xác định

được.

Vụ việc Công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái chôn khối lượng lớn thuốc trừ

sâu xuống lòng đất ngay tại cơ sở hoạt động của công ty tại Cẩm Thủy, Thanh Hóa

bị người dân phát giác và tố cáo đã khiến dư luận không khỏi bất bình, cơ quan này

16



bị xử phạt vi phạm 421 tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ quan chức năng kết luận, không đủ

căn cứ khởi tố hình sự, còn hành vi chôn lấp thuốc và chất thải nguy hại đã diễn ra

quá thời hiệu xử phạt hành chính 2 năm nên chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu

quả. Đến nay, những tổn hại về sức khỏe, và ô nhiễm nguồn nước mà người dân ở

đây phải hứng chịu thì vẫn chưa được nhắc đến đền bù thiệt hại.

Không chỉ riêng vụ việc trên, nhiều vụ việc nghiêm trọng như Công ty Vedan

xả nước thải không qua xử lý ra sông Thị Vải làm ô nhiễm nghiêm trọng lưu vực

sông Thị Vải và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của

hơn 5.000 hộ dân sinh sống bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản; vụ Công ty

Hào Dương xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Đồng Điền gây ô nhiễm trầm trọng

cả một vùng hay vụ việc Công ty cổ phần bao bì Sabeco Sông Lam xả nước thải ra

mương tiêu của cánh đồng xóm Trung Mỹ, xã Hưng Đông, Thành phố Vinh (Nghệ

An) gây ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước ăn uống, sinh hoạt của

dân… đều chưa được thực hiện bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên,

một số vụ xử phạt vi phạm hành chính còn đối với thiệt hại tính mạng, sức khỏe

người



dân



thì



vẫn



chưa



được



bồi



thường



thiệt



hại.



Theo ông Hoàng Dương Tùng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ

TN&MT): “Mặc dù số lượng vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường gây

thiệt hại cho môi trường tự nhiên cũng như thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài

sản của người dân và cộng đồng ngày càng tăng, nhưng số lượng vụ việc khởi kiện

tại Tòa án để đòi bồi thường thiệt hại từ các hành vi này lại rất không đáng kể”.



17



Ảnh: Những thùng phuy chứa thuốc sâu hết hạn do người dân đào được

tại Công ty Nicotex Thanh Thái (Thanh Hóa).

Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra theo qui định

của pháp luật hiện hành chỉ là trách nhiện dân sự đơn thuần và mang tính tương

đối, không đúng với nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng là gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu, bồi thường toàn

bộ và kịp thời.

2. Nguyên nhân của những bất cập về bồi thường thiệt hại do làm ô

nhiễm môi trường ở Việt Nam

Không hẳn bao giờ cũng có thể xác định được người gây ra ô nhiễm môi

trường. Do thói quen của mỗi người trong xã hội, vì cuộc sống tự lập và tự lo cho

chính cuộc sống của mình, của gia đình mình, của tập thể, của cộng đồng đã tìm

kiếm nguồn vật chất bằng cách tác động vào tự nhiên với mục đích thu lợi nhuận,

có lợi cho mình mà không cần biết hậu quả của hành vi đó gây hại cho môi trường

thế nào. Hành vi gây ô nhiễm môi trường của cá nhân, tập thể, của cộng đồng đều

có lỗi và theo đó trách nhiệm thuộc về ai đã không thể xác định được. Với mục

18



đích thu được những lợi nhuận vào nhất, lợi ích trước mắt mà người ta đã quên

những vấn đề quan trọng khác bị mất giá trị, xét về mọi mặt, lớn hơn nhiều lần so

với lợi ích thu được của người có hành vi xâm hại môi trường theo phương thức

tiêu cực. Tình trạng “cha chung không ai khóc” , môi trường là một mái nhà chung,

mái nhà chung bị ô nhiễm là nguyên nhân trực tiếp và sâu xa gây ra những thiệt hại

trước mắt và lâu dài cho toàn xã hội mà chẳng được mấy quan tâm.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP

Để khắc phục thực trạng trên, giúp cho việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực

bồi thường thiệt hại về môi trường có hiệu quả, tôi xin đưa ra một số kiến nghị, giải

pháp sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác bảo vệ môi

trường, sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn với các đoàn thể trong doanh

nghiệp cũng như với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương nhằm phát

huy sức mạnh tổng hợp.

2. Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát

để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường chung, nhất là đối với đội ngũ cán bộ

chủ chốt nhằm tạo chuyển biến căn bản về ý thức trách nhiệm và sự chủ động trong

công tác bảo vệ môi trường.

3. Sửa đổi, bổ sung pháp luật và các chế tài liên quan. Muốn không tiếp tục

bỏ lọt tội phạm trong lĩnh vực môi trường thì phải nhanh chóng chấm dứt tình trạng

“vênh nhau” giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự. Chỉ khi những quy

định của luật được tôn trọng và thực thi nghiêm chỉnh thì môi trường tự nhiên mới

được bảo vệ tốt.

4. Khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị có công nghệ tiên tiến (kết hợp

xem xét với yêu cầu của công nghệ xanh). Hạn chế nhập khẩu thiết bị, công nghệ

trung gian. Đây là một chính sách quan trọng nhằm ngăn chặn dòng thiết bị, công



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×