Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Tải bản đầy đủ - 23trang

Căn cứ vào điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và điều 624 Bộ luật Dân

sự 2005, chúng ta có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm

ô nhiễm môi trường là những cá nhân, tổ chức.

Các tổ chức từ khi thành lập đã có năng lực pháp luật, có năng lực chịu trách

nhiệm bồi thường thiệt hại. Khi các tổ chức khi tham gia vào các quan hệ pháp luật

môi trường mà có hành vi làm ô nhiễm môi trường dẫn tới gây thiệt hại thì phải

chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Các tổ chức có thể là

pháp nhân (chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần, các viện nghiên cứu…) hoặc tổ chức khác không phải là pháp nhân

(doanh nghiệp tư nhân…)

Đối với cá nhân, những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủ

thì tự mình phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài

sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của họ.

Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường thiệt

hại toàn bộ. Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng

thì lấy tài sản riêng đó để bồi thường phần còn thiếu cho người bị hại.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà

có cá nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân đó được dùng tài sản của người được giám

hộ để bồi thường. Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản

để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nhưng

người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không

phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Trong thực tế, các chủ thể gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các doanh

nghiệp. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do không có thiết bị xử lý chất thải,

hoặc không tuân thủ các quy định khác về bảo vệ môi trường… nên đã làm suy

thoái môi trường, ô nhiễm môi trường. Như vậy, chủ thể “tiềm tàng” chịu trách

7



nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế.

2.2. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng những công

cụ kinh tế khác nhau (các loại phí, giấy phép có thể bán được, hệ thống ký quỹ và

hoàn trả, khuyến khích thực thi, các chính sách thuế môi trường và tài nguyên, quy

định đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường, v.v.) nhằm đem lại sự mềm dẻo, hiệu

quả, chi phí – hiệu quả nhất. Với những mức độ khác nhau, chúng sử dụng những

nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” và “người hưởng lợi phải trả”. Theo

nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả, thì ở mức ô nhiễm cao sẽ chịu phạt vé tài

chính cao hơn, còn ở mức ô nhiễm thấp hơn thì chịu phạt thấp hơn, hoặc thậm chí

còn được thưởng nữa. Theo nguyên tắc người hưởng lợi phải trả thì người sử dụng

phải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó, ví dụ trả tiền nước và

dịch vụ liên quan bao gồm cả các chi phí xử lý nước. Trong khi một số công cụ

kinh tế ứng dụng các chi phí trực tiếp (ví dụ: phạt trên khối lượng chất độc thải ra,

hệ thống trả phí theo từng thứ chất thải rắn, phí cho phép thải khí tính theo khối

lượng khí thải ra, tiền ký quý có thể được hoàn trả cho các bao bì), các công cụ

khác lại sử dụng các chi phí gián tiếp như đánh thuế đầu ra (ví dụ: thuế nhiên liệu).

Người có hành vi xâm phạm môi trường phải bồi thường thiệt hại. Hành vi

gây ô nhiễm môi trường là hành vi có lỗi hoặc không có lỗi. Theo qui định Điều

624 BLDS, người gây ô nhiễm môi trường cho dù là có lỗi hoặc không có lỗi đều

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi

gây ô nhiễm môi trường cần có đủ 3 điều kiện. Thứ nhất, có hành vi gây ô nhiễm

môi trường. Hành vi đó đã tác động đến các yếu tố của môi trường gây ra ô nhiễm.

Thứ hai, hành vi gây ô nhiễm môi trường có mối quan hệ nhân quả với môi trường

bị gây ô nhiễm xác định được và thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Thứ ba,

những thiệt hại về môi trường do hành vi xâm phạm môi trường gây ra xác định

8



được dựa trên những thiệt hại đã xảy ra và thiệt hại chắc chắn xảy ra cho môi

trường, môi trường bị gây thiệt hại là cầu nối dẫn đến thiệt hại khác.

Người gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm

dân sự ngoài hợp đồng, người đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự trong những

trường hợp gây ô nhiễm về không khí, nguồn nước, đất theo qui định tại Điều 182

BLHS 1999,sửa đổi bổ sung 2009.

Theo pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,

trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phát sinh khi

có các điều kiện sau đây:

a. Có thiệt hại xảy ra:



Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại,

bởi mục đích của việc áp dụng trách nhhiệm này là khôi phục tình trạng tài sản, sức

khoẻ… cho người bị thiệt hại. Các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên có thể

bao gồm những thiệt hại sau đây:

Theo quy định tại Điều 131 Luật BVMT (2005), có 2 loại thiệt hại:

Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Đó là sự suy giảm chức

năng, tính hữu ích của môi trường. Có thể hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích

của môi trường xảy ra khi: Một là, chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị

tác động thấp hơn so với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; hai là, lượng tài

nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục (đối với tài

nguyên tái tạo) hoặc lớn hơn lượng thay thế (đối với tài nguyên không tái tạo

được); ba là, lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự

làm sạch của chúng. Thiệt hại do môi trường bị xâm hại gây ra và trực tiếp gây thiệt

hại cho người khác xác định được theo những tổn hại thức tế ngay sau khi môi

trường bị xâm hại và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn xảy ra xác định được trên

cơ sở khách quan. Thiệt hại do môi trường bị xâm hại gây ra cần phải xác định hai

mối quan hệ mật thiết với nhau, thiệt hại này là nguyên nhân của thiệt hại kia và

9



hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguyên nhân của thiệt hại mang tính chất bắc

cầu, được biểu hiện như sau: Thứ nhất, hành vi xâm hại môi trường là nguyên nhân

làm cho môi trường bị gây ô nhiễm; Thứ hai, môi trường bị gây ô nhiễm có mối

liên hệ với thiệt hại xác định được.

Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích

hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu

ích của môi trường gây ra. Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể

hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị

mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt

hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Ví

dụ: khi môi trường sống bị ô nhiễm ( ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm

đất…) sức khoẻ con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh về đường hô hấp, đường

tiêu hoá… Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Đó có thể là: tài sản bị huỷ hoại hoặc

bị hư hỏng, thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với

việc không sử dụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác

công dụng của tài sản; những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Ví dụ:

Sự kiện tràn dầu tại vùng biển Vũng Tàu.1 giờ 20 phút sáng ngày 7/9/2001 tại vùng

biển Vũng Tàu, tàu chở dầu Formosa One quốc tịch Liberia đâm vào tàu chở dầu

Petrolimex 01 làm 900 tấn dầu từ tàu Petrolimex 01 tràn ra biển gây ô nhiễm. Uỷ

ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường,

Vietsovpetro đã huy động lực lượng khắc phục dầu tràn, thu gom dầu tràn để giảm

thiểu ô nhiễm môi trường. Sự cố tràn dầu đã làm sút giảm 5/6 lượng khách du lịch

tới Vũng Tàu gây thiệt hại cho ngành du lịch khoảng 43 000 000 000 VND. Các

ngành nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt ven bờ và dịch vụ hậu cần thủy sản bị thiệt hại

là 108 000 000 000 VND; ngành muối thiệt hại 27 080 000 000 VND, ảnh hưởng

sức khoẻ cộng đồng là 11 210 000 000 VND, chi phí làm sạch môi trường là 60 000



10



000 VND. Tổng mức thiệt hại là 260 000 000 000 VND tương đương 17.2 triệu

USD.

Những thiệt hại do hành vi làm cho môi trường bị ô nhiễm đã dẫn đến những

thiệt hại không những về mặt thực tế, mà còn là những nguy cơ tiềm ẩn lâu dài tồn

tại trong không gian và thời gian nhất định, có thể gây thiệt hại rất lớn, lâu dài cho

con người và môi trường tự nhiên. Những thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi

trường phải dựa vào những căn cứ khoa học của nhiều chuyên ngành để xác định,

theo những số liệu thống kê được và qua phân tích mức độ môi trường bị ô nhiễm,

để có căn cứ xác định thiệt hại. Thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể

dẫn đến những thiệt hại rất lớn, có thể ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ sau, như

hành vi: phá hoại, khai thác trái phép hoặc khai thác không có kế hoạch rừng đầu

nguồn, nguồn nước đầu nguồn làm nguồn nước nhiễm bẩn, nhiễm độc bầu khí

quyển…Hành vi gây ô nhiễm môi trường đã dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến

quyền, lợi ích của các nhà sản xuất, gây độc hại cho người tiêu dùng, đặc biệt trong

lĩnh vực thực phẩm, lương thực và nguyên liệu sản xuất dược phẩm…Hành vi gây

ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của nhiều ngành

nghề như du lịch, dịch vụ và sản xuất, lưu thông phân phối sản phẩm cũng như các

dịch bệnh tiềm ẩn từ môi trường bị gây ô nhiễm không thể xác định được hết trong

một thời gian ngắn.

Thiệt hại do môi trường bị phá vỡ do bị nhiễm bẩn, nhiễm độc là những thiệt

hại được xác định ngay sau khi có hành vi làm ô nhiễm môi trường, mà còn là

những thiệt hại vẫn đang và sẽ diễn ra theo phản ứng dây chuyền, sự vân động của

môi trường khách quan và xã hội. Những hành vi gây ô nhiễm môi truờng có thể bị

chấm dứt hoặc người có hành vi tác động gây ô nhiễm môi trường không thực hiện

hành vi ô nhiễm môi trường nữa nhưng hậu quả của hành vi đó vẫn diễn biến theo

một quy luật bảo tồn và biến hoá năng lượng, tạo ra những phản ứng dây truyền

gây thiệt hại cho người khác( như thải chất độc xuống nguồn nước sinh hoạt, tàn

11



phá môi trường sống của động vật hoang dã, tàn phá rừng đầu nguồn…Chẳng hạn:

Công ty Vedan hoạt động sản xuất đã xả chất thải làm ô nhiễm nguồn nước khiến

cho nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị ảnh hưởng nặng nề, sản lượng đánh bắt

thuỷ sản của bà con ngư dân trên dòng sông này giảm dần từ năm 2002.

b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường



Người có hành vi gây ô nhiễm môi trường đã thực hiện các hành vi trái

pháp luật hoặc hành vi trái pháp luật hoặc hành vi trong sản xuất kinh doanh, làm

dịch vụ hợp pháp nhưng đã gây ô nhiễm môi trường gây thiệt hại cho chính môi

trường và gây thiệt hại cho người khác. Hành vi gây thiệt hại về môi trường là hành

vi làm biến dạng sinh thái vốn có tự nhiên của môi trường, làm cho nguồn nước

không thể sử dụng được hoặc làm cạn kệt nguồn nước tự nhiên dẫn đến nhiễm bẩn

nguồn nước, sa mạc hoá một nguồn nước nguyên thuỷ như đầm, ao, hồ, dòng sông,

suối…đã gây những khó khăn cho người khác trong sinh hoạt, trong sản xuất, kinh

doanh hoặc gây cho nguồn không khí trong lành một không gian nhất định bị

nhiễm độc, là nguy cơ trực tiếp gây tổn hại đến sức khoả của con người, vật nuôi,

cây trồng và cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan nhân tạo khác…

c. Có lỗi của chủ thể gây thiệt hại

Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng phong phú.

Hành vi có lỗi hay không có lỗi của con người xâm hại môi trường vừa là nguyên

nhân trực tiếp, vừa là nguyên nhân gián sâu xa gây thiệt hại. Hành vi xâm hại môi

trường là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho môi trường, môi trường bị thiệt

hại đã tác động trực tiếp đến sự sống và gây thiệt hại cho sự sống của muôn loài.

Ví dụ: Hành vi đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây

thiệt hại đến môi trường, làm mất cân bằng sinh thái; thải khói, bụi, khí độc, mùi

hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho phép vào

môi trường xung quanh; chôn vùi, thải vào đất các chất thải độc hại quá giới hạn

cho phép; thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các

12



chất thải, xác động vật,thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn và gây dịch bệnh vào

nguồn nước; nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường;

nhập khẩu, xuất khẩu chất thải…Vi phạm các quy định về bảo về nguồn tài nguyên

thiên nhiên như các quy định về bảo vệ rừng, khai thác; Vi phạm các quy định về

vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển và xử lý chất thải, rác thải;Vi phạm

các quy định về bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm;…

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm chỉ được loại trừ

trong trường hợp người bị hại có lỗi. Điều này có nghĩa là trong trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường nếu người bị thiệt hại không có lỗi thì

trách nhiệm bồi thường luôn luôn đặt ra đối với người làm ô nhiễm môi trường.

Thậm chí, trong một số trường hợp cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại không

được loại trừ ngay cả khi người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi. Khoản 2

điều 627 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu

giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại kể cả

khi không có lỗi”. Quy định này cần được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp đòi

bồi thường thiệt hại do các nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như các phương tiên

giao thông vận tải, các nhà máy công nghiệp đang hoạt động, các lò phản ứng hạt

nhân, các nhà máy điện nguyên tử, kho chưa vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất dễ

cháy, chất phóng xạ… Trong thời gian qua sự cố tràn dầu từ các phương tiện giao

thông đường thuỷ đã làm ô nhiễm môi trường với diện rất rộng, gây nhiều thiệt hại

cho nhân dân, tổ chức khu vực xung quanh .

d. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp luật

bảo vệ môi trường:

Thiệt hại thực tế xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật. Hoặc nói

một cách khác, hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra.

Trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi

trường cần làm sáng tỏ mối quan hệ này.

13



Là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt

hại do làm ô nhiễm môi trường có một số điểm khác với trách nhiệm phát sinh từ

nghĩa vụ hợp đồng như sau:

- Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là các

quy định của pháp luật về hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể,

không cần có sự thoả thuận trước của các bên.

-Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường việc

thực hiện bồi thường thiệt hại sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ còn trong nghĩa vụ hợp

đồng thì việc bồi thường thiệt hại không làm cho người có nghĩa vụ được giải

phóng khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế như giao vật, thực hiện

công việc…

- Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường chỉ có trách nhiệm bồi

thường thiệt hại chứ không có hình thức phạt vi phạm.

- Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường có

trường hợp không có lỗi vẫn phải chụi trách nhiệm, nếu pháp luật có quy định.

Xác định thiệt hại do môi trường bị xâm hại gây ra rất phức tạp, vì có những

nguy cơ tiềm ẩn, chưa gây ra thiệt hại ngay lập tức hoặc là những thiệt hại thực tế

đã bộc lộ xác định được là một nguy cơ, thậm chí còn là nguy cơ rất lớn gây ra thiệt

hại khó lường trong tương lại xa hoặc trong một thời gian gần, cần có nhiều cơ

quan chuyên môn cùng kết hợp trong việc xác định mức độ môi trường bị xâm hại

gây thiệt hại.

III. THỰC TRẠNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI

LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NA M HIỆN NAY

1. Thực trạng về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường ở Việt

Nam

Pháp luật bắt đầu từ cuộc sống và đáp ứng những đòi hỏi từ cuộc sống và

đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống, nhưng không thể điều chỉnh toàn bộ hoặc

14



toàn vẹn những quan hệ phát sinh trong xã hội. Do vậy, còn nhiều vấn đề liên quan

đến việc xác định trách nhiệm dân sự do hành vi xâm hại môi trường gây ra cần

phải được bàn luận về khoa học, để cơ quan lập pháp lưu ý khi ban hành pháp luật

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm do

hành vi xâm hại môi trường nói chung, để điều chỉnh có hiệu quả những tranh chấp

phát sinh liên quan đến môi trường. Việc xác định những yếu tố lien quan đến hành

vi xâm hại môi trường, căn cứ vào thực trạng còn tồn tại trong pháp luật chưa thể

điều chỉnh được đầy đủ và trọn vẹn.



Ảnh: Xả thải bừa bãi ra lòng kênh, cá chết hàng loạt.

Pháp luật chỉ quy định trách nhiệm của người gây ô nhiễm môi trường phải

bồi thường những thiệt hại xảy ra trên cơ sở xác định được thiệt hại đó, theo

nguyên tắc gây thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu. Trách nhiệm bồi

thường thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại vẫn được áp dụng dựa trên

những thiệt hại xác định được dù là thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng nguyên

tắc này chỉ phù hợp với những thiệt hại về vật chất đơn thuần, mà không phù hợp

trong việc áp dụng đối với hành vi xâm hại môi trường. Vì hành vi xâm hại môi

trường thì phạm vi và thời gian gây thịêt hại có thể rất lớn và rộng hơn rất nhiều lần

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×