Tải bản đầy đủ - 44 (trang)
CHƯƠNG III: BÁC SĨ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG III: BÁC SĨ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 44trang

Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

Tháng 7 năm 2007, Đại học Y Huế kết hợp với các chuyên gia đối tác của Mỹ

(Trung tâm Y học Maine) để triển khai dự án hợp tác đào tạo bác sĩ chuyên khoa I YHGĐ

cho tỉnh Khánh Hòa

Năm 2007: Đại học Y Hải Phòng mở trung tâm Y học gia đình

Tháng 11 năm 2008, đại học Y Dược TP HCM đăng cai tổ chức hội thảo WONCAASIA PACIFIC.

Năm 2009, Bệnh viện Bộ nông nghiệp (Hà Nội) tham gia vào mạng lưới hợp tác Y

học gia đình thông qua dự án WBI tài trợ bởi chính phủ Bỉ.

Năm 2010: Đại học Y Hà Nội mở mã ngành đào tạo thạc sĩ Y học gia đình.

Tháng 3 năm 2011: thành lập bộ môn YHGĐ tại trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc

Thạch.

Tháng 9 năm 2011: hội thảo tại Huế đánh dấu kỷ niệm 10 năm dự án phát triển Y

học gia đình tại Việt Nam.

Tính đến thời điểm năm 2013, cả nước đã có 6 trường tham gia đào tạo hệ sau đại

học về Y học gia đình (chủ yếu là chuyên khoa cấp I) bao gồm ĐH Y Hà Nội, ĐH Y Thái

Nguyên, ĐH Y Hải Phòng, ĐH Y Dược TP HCM, ĐH Y Phạm Ngọc Thạch, ĐH Y Cần

Thơ. Đa phần các trường đã mở bộ môn riêng (4 trường).

Đa phần giảng viên được đào tạo tại Mỹ và Philipine theo dự án tài trợ bởi các đối

tác của Mỹ. Trong khuôn khổ chương trình hợp tác với Bỉ, đã có 3 bác sĩ theo học dài hạn

tại Bỉ



20



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

3.2/ Xây dựng mạng lưới bác sĩ gia đình:



Hình 6 : Các thành tố để phát triển mạng lưới bác sĩ gia đình

Hoạt động bác sĩ gia đình ở Việt Nam là một mô hình mới chưa được đầu tư tương

xứng cũng như chưa có được sự tín nhiệm cao trong xã hội. Vì vậy muốn dịch vụ y tế

gia đình sớm hình thành và phát triển cần phải có: chính sách từ Quốc hội và Chính

phủ thì mới có kinh phí ban đầu để triển khai, mới có động lực hình thành chương trình

đào tạo thích hợp với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, BYT cần đưa ra phương án hoạt

động rõ ràng việc quy định về giá khám chữa bệnh cũng như BHYT sẽ chi trả như thế

nào để thực hiện khám chữa bệnh, bác sĩ gia đình cần được đào tạo bài bản từ các

trường y.



21



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế



Hình 7 : Mạng lưới đối tác tham gia trong chương trình hợp tác với Khoa YHGĐ- ĐH

LIEGE (Bỉ)



22



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế



3.3/ Kết quả đạt được:

Mạng lưới mạng lưới Bác sĩ gia đình ở Việt Nam gồm 2 tiểu phần: (1) trạm y tế

tuyến xã hoạt động theo nguyên lý BSGĐ, và (2) phòng khám BSGĐ. Phòng khám

BSGĐ gồm 2 thành phần là tư nhân (gồm cả phòng khám chữa bệnh ngoài giờ hành chính

có nhu cầu hoạt động theo mạng lưới phòng khám bác sỹ gia đình) và nhà nước (thuộc

bệnh viện đa khoa tuyến Huyện).



Hình 8: Mô hình Bác sĩ Gia đình

Về nguồn nhân lực, dự án hỗ trợ đào tạo BSGĐ đã khởi động từ đầu những năm

2000 ở 3 trường đại học là ĐH Y Hà Nội, ĐH Y Thái Nguyên và ĐH Y Dược Tp.HCM.

Đến tháng 3/2000, BYT đã chính thức công nhân chuyên ngành BSGĐ và cho phép đào

tạo hệ Chuyên khoa I về Y học gia đình. Hiện nay cả nước có 8 trường y có đào tạo

BSGĐ như trường ĐH Y dược Hà nội, Thái nguyên, thái Bình, Huế, Cần thơ, trường ĐH

Y Phạm Ngọc Thạch, ĐH Y Dược TP HCM. Sau hơn 15 năm đã đào tạo được hơn 1000

Bác sĩ chuyên khoa Y học gia đình là nền móng đầy triển vọng cho mạng lưới BSGĐ ở

Việt Nam.

Sau hơn 3 năm thực hiện đề án mạng lưới BSGĐ, đến tháng 4/2016, cả nước đã có

8 tỉnh ( Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Thừa Thiên - Huế, Thái Nguyên,

Khánh Hòa và Tiền Giang) thực hiện thí điểm mạng lưới và đã đạt được một số thành quả

và cho thấy khả năng nhân rộng ra cả nước là hoàn toàn khả thi. Các địa phương này đã

thành lập được 240 phòng khám BSGĐ với ba mạng lưới: hoạt động của trạm y tế xã lồng

ghép, bổ sung nhiệm vụ của BSGĐ; phòng khám BSGĐ tư nhân; phòng khám BSGĐ

thuộc bệnh viện đa khoa nhà nước. Bước đầu, các phòng khám BSGĐ đã cung cấp dịch

vụ chăm sóc sức khỏe thuận lợi cho người dân. Đi vào hoạt động, các phòng khám BSGĐ

23



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

đã thực hiện được gần 4.000 ca cấp cứu; khám bệnh, chữa bệnh cho hơn 807 nghìn lượt

người bệnh; thực hiện hơn 12 nghìn ca thủ thuật và chuyển tuyến 14 nghìn trường hợp;

khám bệnh tại nhà 3.094 ca và tư vấn cho hơn 10 nghìn cuộc gọi đến... Dự kiến đến năm

2020, chúng ta sẽ đạt được 80% tỉnh triển khai mạng lưới, đào tạo đội ngũ 9000 Bác sĩ

định hướng Y học gia đình [9].

3.4/ Khó khăn trong triển khai mạng lưới Bác sĩ gia đình:

-



Đội ngũ nhân lực còn hạn chế, độ bao phủ trên cộng đồng còn thấp, chưa có sự thống

nhất trong quản lý và đào tạo

Nhận thức và mối quan tâm của xã hội về BSGĐ còn rất mới mẻ, còn nhiều hiểu nhầm

Chưa có sự tin tưởng trong cộng đồng, nhất là mạng lưới lồng ghép của trạm y tế

Vướng mắc trong thanh toán, chưa có sự thống nhất

Công việc quản lý trạm y tế và vai trò BSGĐ còn chồng chéo nếu để 1 người đảm

nhiệm

Đa số phòng khám BSGĐ hiện nay là bác sĩ chuyên khoa nên có kiến thức phù hợp

với chức năng

Không có cơ quan quản lý đặc thù

Chưa có sự liên hệ chặt chẽ trong mối quan hệ BSGĐ – BSGĐ và BSGĐ – bệnh viện



24



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1/ Kết luận:

Bác sĩ gia đình là mô hình bác sĩ ở tuyến đầu có trách nhiệm chăm sóc người bệnh

một cách toàn diện, liên tục, phối hợp và không phân biệt tuổi tác, giới tính, loại bệnh của

bệnh nhân.

Mô hình BSGĐ đã có từ lâu đời ở các nước, được phát triển và nhận được sự đánh giá cao

của người dân.

Xây dựng mạng lưới BSGĐ là biện pháp đặc hiệu nhằm sử dụng kinh phí y tế hiệu

quả, tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi và giải quyết quá tải bệnh viện

Chuyên ngành y học gia đình vẫn còn mới ở Việt Nam và đang trong giai đoạn

kiện toàn văn bản, xây dựng và triển khai trên các địa phương nhằm mang BSGĐ đến

gần hơn nữa với người dân

Mô hình BSGĐ đã có những thành tựu bước đầu đáng khích lệ. Khi mà mô hình

này đã được tổ chức ở 8 tỉnh, thành phố lớn trên cả nước và được nhiều người dân quan

tâm, cũng như sự đầu tư bước đầu của nhà nước và Bộ Y tế.

Bên cạnh đó vì là mô hình mới nên vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập cần giải quyết,

thiếu nhiều qui định trong công tác khám chữa bệnh, chi phí và quy chế chuyển tuyến,

thanh toán BHYT khi tham gia BSGĐ cũng chưa được đề cập.

4.2/ Kiến nghị:

Chính quyền, Sở y tế ở các địa phương cần quan tâm, chỉ đạo, tuyên truyền tích

cực, giới thiệu rõ mô hình BSGĐ đến cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Xây dựng và ban hành các quy định về cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và các

quy định liên quan khác đến hoạt động của phòng khám bác sĩ gia đình nhằm siết chặt sự

lỏng lẻo giữa các tuyến để mô hình BSGĐ ngày càng hoàn thiện. Đồng thời đưa ra các

chính sách nhằm tạo sự thuận lợi và thoải mái cho người dân khi tham gia mô hình này.

Nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ vào việc xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực cho mô

hình BSGĐ và các trường đại học phải đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực cho mạng

lưới BSGĐ.

Liên tục tiến hành khảo sát, đánh giá để nhanh chóng nắm bắt đánh giá tình hình

triển khai mô hình trong các địa phương. Từ đó, kịp thời đưa ra những chính sách sửa đổi,

cải thiện cho phù hợp.

Ứng dụng công nghệ thông tin để trao đổi thông tin hồ sơ, bệnh án của người bệnh

giữa các phòng khám bác sỹ gia đình, hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa qua mạng

internet.



25



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

Đẩy mạnh truyền thông để giúp người dân hiểu rõ về lợi ích khi khám, chữa bệnh

tại các phòng khám BSGĐ cũng như chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của mô hình

BSGĐ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] WHO (2016). Definition of health.

Truy cập ngày 01-08-2016 từ http://www.who.int/suggestions/faq/en/

[2] Báo Vnexpress (2015). Bài báo “Bộ Y tế: '70% số bệnh vượt tuyến gây lãng phí'”.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-y-te-70-so-benhvuot-tuyen-gay-lang-phi-3131097.html

[3] Báo Vnexpress (2016). Bài báo “TP.HCM: Bác sĩ gia đình- chìa khóa giải quyết quá

tải bệnh viện”.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ http://toquoc.vn/y-te/tphcm-bac-si-gia-dinh-chia-khoa-giaiquyet-qua-tai-benh-vien-219506.html

[4] American Academy of Family Physicians. (1984). Family medicine definition.

Aafp.org.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ http://www.aafp.org/about/policies/all/family-medicinedefinition.html

[5] Trường ĐHYD TP.HCM Bài viết “Giới Thiệu Về Bác Sĩ Gia Đình”.

Truy cập ngày 01-08-2017 http://www.bacsigiadinhvietnam.org/y-hoc-gia-dinh/gioithieu-ve-bac-si-gia-dinh/gioi-thieu-ve-bac-si-gia-dinh.html

[6] PGS Hiep (2016).Tong quan BSGD va dieu kien phat trien.pptx.

[7] Hội đồng WONCA Châu Âu. (2011). The European definition of general

practice/family medicine. Wonca Europe.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ

http://www.woncaeurope.org/sites/default/files/documents/Definition%203rd%20ed

%202011%20with%20revised%20wonca%20tree.pdf

[8] Wed http://medicare.health.vn (2013). Bài viết “Mô hình y học gia đình tại các

nước”.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ http://medicare.health.vn/cong-dong/tai-lieu/mo-hinh-yhoc-gia-dinh-tai-cac-nuoc



26



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế

[9] Nhân Dân điện tử (2016). Bài báo “Gỡ vướng để mô hình bác sĩ gia đình phát triển”.

Truy cập ngày 01-08-2017 từ http://www.nhandan.com.vn/xahoi/suckhoe/item/29370802go-vuong-de-mo-hinh-bac-si-gia-dinh-phat-trien.html



QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH PHÒNG KHÁM BÁC

SĨ GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2013 – 2020

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

Căn cứ Luật khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;

Căn cứ Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ

Phê duyệt Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013-2020;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng

khám bác sĩ gia đình giai đoạn 2013 – 2020.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.

Điều 3. Các ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng các Cục: Quản lý Khám, chữa

bệnh, Khoa học công nghệ và Đào tạo, Công nghệ thông tin; Vụ trưởng các Vụ: Tổ chức

cán bộ, Kế hoạch – Tài chính, Bảo hiểm y tế; Hiệu trưởng các trường đại học chuyên

ngành Y; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham gia Đề án và

Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.



27



Khoa Y – ĐHQG TP.HCM

Bài thu hoạch Module Quản lý bệnh viện & Kinh tế y tế



ĐỀ ÁN

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH GIAI

ĐOẠN

2013-2020

(Ban hành kèm theo Quyết định số 935/QĐ-BYT ngày 22 tháng 3 năm 2013 của Bộ

trưởng Bộ Y tế phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia

đình giai đoạn 2013-2020)

Phần thứ nhất

BỐI CẢNH XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I. SỰ CẦN THIẾT

Bác sĩ gia đình là bác sĩ đa khoa thực hành, chăm sóc toàn diện và liên tục cho người

bệnh, có mối quan hệ lâu dài và bền vững với người bệnh1, là những thầy thuốc gắn với

dân và gần dân nhất. Bác sĩ gia đình là bác sĩ hướng về gia đình, biết rõ từng người bệnh

trong hoàn cảnh và gia đình của họ, xem xét vấn đề sức khỏe của người bệnh trong hoàn

cảnh của cộng đồng và lối sống của người đó trong cộng đồng.

Mô hình bác sĩ gia đình đã phát triển và nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới từ Thế kỷ

XX. Năm 1960, Y học gia đình ra đời ở Mỹ, Anh và một số nước, đã đáp ứng kịp thời nhu

cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng với sự chuyển đổi mô hình bệnh tật trên toàn cầu.

Năm 1995, có 56 nước đã phát triển và áp dụng chương trình đào tạo Y học gia đình. Hiệp

hội Bác sĩ gia đình toàn cầu (WONCA) đã được thành lập năm 1972 và đến nay đã có gần

100 quốc gia thành viên. Hiện nay, mô hình bác sĩ gia đình đã được phát triển rộng rãi

không chỉ ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Australia, Canada mà cả ở các nước

đang phát triển như Philippines, Malaysia, đặc biệt Cu Ba là quốc gia được coi là một

hình mẫu về phát triển mô hình bác sĩ gia đình ở các nước đang phát triển.

Tại Việt Nam, từ ngàn năm nay nhân dân ta có một mạng lưới y tế phục vụ chăm sóc sức

khỏe một cách tự phát. Các ông lang, bà mế, bà đỡ, các phòng chẩn trị y học cổ truyền,

thầy thuốc tư…đã hình thành mạng lưới chăm sóc sức khỏe gần nhất với người dân tại

cộng đồng.

Năm 1998, Dự án phát triển đào tạo bác sĩ gia đình tại Việt Nam với sự tài trợ bởi quĩ

CMB (China Medical Board of New York) được Bộ Y tế phê duyệt. Dự án triển khai đào

28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: BÁC SĨ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(44 tr)

×