Tải bản đầy đủ - 73 (trang)
Tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy 316-318oC; tan trong ethanol, methanol; khi chạy sắc kí lớp mỏng quan sát thấy không hiện màu ở UV254, UV365, hiện màu tím sau khi phun thuốc thử H2SO4 10% trong cồn, hơ nóng.

Tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy 316-318oC; tan trong ethanol, methanol; khi chạy sắc kí lớp mỏng quan sát thấy không hiện màu ở UV254, UV365, hiện màu tím sau khi phun thuốc thử H2SO4 10% trong cồn, hơ nóng.

Tải bản đầy đủ - 73trang

(3H, s, H-26), 1,03 (3H, s, H-27), 1,72 (3H, s, H-30). Các tín hiệu proton trên cho

chúng ta một giả thiết về một hợp chất lupi – triterpenoid.

Trên phổ



13



C-NMR và DEPT các tín hiệu của carbon olefin methin lai hóa



sp2 đầu mạch ở 152,0 (C-20) và 110,1 (C-29) đặc trưng cho sự có mặt của một

triterpen khung lupan, một cacbon methin 79,7 (C-3) cùng với 6 tín hiệu của cacbon

methyl, và có tín hiệu đặc trưng của cacbon cacbonyl ở 179,02 (C-28) cho thấy có

sự cacbonyl hóa một nhóm methylen của khung lupan. Ngoài ra trên phổ còn chỉ rõ

sự có mặt của 10 nhóm methylen, 5 nhóm methin, 5 cacbon bậc 4. Dựa trên phổ

HMBC, và so sánh dữ liệu phổ với tài liệu tham khảo [47], cấu trúc của hợp chất

VH01 được xác định là acid betulinic.



Hình 3.10: Cấu trúc hóa học hợp chất VH01

Bảng 3.2. Bảng so sánh dữ liệu phổ 1H, 13C-NMR của VH01 và acid betulinic

Vịtrí DEPT



acid betulinic



VH01 (CD3OD, 500 MHz)



HMBC (H→C)



(CDCl3, 150

MHz) [47]

δc(ppm)



δc(ppm)



C1



CH2



38,7



40,1



C2



CH2



27,4



28,1



C3



CH



79,0



79,7



C4



C



38,8



40,0



C5



CH



55,3



56,9



40



δH(ppm) (J (Hz))



3,15 (dd; 11,5, 5,0)



23, 24



0,73 (d, 9,0)



1, 6, 24



C6



CH2



18,3



19,5



C7



CH2



34,3



35,6



8



C



40,7



42,0



9



CH



50,5



52,0



10



C



37,2



38,3



11



CH2



20,8



22,1



12



CH2



25,5



26,9



13



CH



38,4



39,7



14



C



42,4



43,6



15



CH2



30,5



30,9



16



CH2



32,1



33,4



17



C



56,3



57,5



18



CH



49,2



50,5



1,65 (t, 11,3)



13, 17, 19, 20,

28



19



CH



46,9



48,5



3,04 (td, 11,0, 4,5)



13, 17, 19, 21



20



C



150,4



152,0



21



CH2



29,7



31,7



22



CH2



37,0



38,2



23



CH3



28,0



28,6



0,97 (s)



3, 4, 5, 24



24



CH3



15,3



16,1



0,77 (s)



3, 4, 5, 23



25



CH3



16,1



16,7



0,88 (s)



1, 5, 9, 10



26



CH3



16,0



16,1



0,99 (s)



7, 9, 14



27



CH3



14,7



15,1



1,03 (s)



8, 13, 14, 15



28



C



29



CH2



4,73 (brs)



19, 30



180,1

109,7



110,1



4,61 (brs)

30



CH3



3.3.



Bàn luận



19,4



19,6



1,72 (s)



3.3.1. Về đặc điểm thực vật

41



19, 20, 29



Với các đặc điểm hình thái thu được cho thấy cây Nho rừng thu hái ở Lào

Cai có những đặc điểm hình thái chung của chi Vitis như: dây leo, có tua cuốn, lá

đơn chia thùy hoặc không, có lá kèm rụng sớm. Quả mọng hình cầu, kích thước

không đều; có từ 3-4 hạt trong 1 quả, hạt hình trứng, nhẵn. Và có những đặc điểm

nổi bật để nhận dạng như: thân và nhánh non có lông tơ như tơ nhện màu vàng;

cuống, mặt dưới lá và cụm quả có lông tơ như tơ nhện màu vàng nhạt.

Kết quả nghiên cứu vi học Nho rừng có một số đặc điểm: vi phẫu thân có lớp

mô cứng và libe gỗ khá dày nên khi cắt ngang gây khó khăn; vi phẫu lá có lông che

chở đơn bào và một lớp cutin mỏng bao phủ biểu bì. Về đặc điểm bột thân và lá thì

đều có nhiều tinh thể calci oxalat hình kim và hình cầu gai; ngoài ra còn có nhiều

tinh bột hình chuông ở bột thân và tinh bột hình tròn ở bột lá.

Nghiên cứu này đã mô tả khá đầy đủ và chi tiết về đặc điểm hình thái thực

vật (thân, lá, quả) và cấu tạo giải phẫu (thân, lá) cây Nho rừng. Trên cơ sở các mô tả

này có thể giúp nhận biết loài Vitis heyneana với các loài trong chi Vitis. Ngoài ra

có thể ứng dụng các kết quả này để làm tiêu chuẩn hóa dược liệu, phân tích, kiểm

nghiệm dược liệu Nho rừng trong tương lai.

3.3.2. Về hóa thực vật

3.3.2.1.



Chiết xuất



Trong nghiên cứu này, dược liệu được chiết xuất bằng phương pháp chiết

nóng với dung môi ethanol đã trình bày. Phương pháp chiết nóng được lựa chọn vì

những ưu điểm của phương pháp: đơn giản, dễ thực hiện, thiết bị đơn giản, rẻ tiền

và tăng tốc độ chiết, tăng khả năng chiết các hoạt chất.

Sử dụng dung môi ethanol vì đây là một dung môi có rất nhiều ưu điểm: dễ

kiếm, rẻ tiền, khả năng chiết cao, đông vón được protein, hạn chế được tạp chất.

Tuy nhiên ethanol có nhược điểm là dung môi không chọn lọc nên dịch chiết

ethanol thu được chứa rất nhiều nhóm chất khác nhau. Để giải quyết vấn đề này và

thuận lợi cho quá trình phân lập chất thì từ dịch chiết ethanol đã tiếp tục được chiết

lỏng – lỏng với các dung môi phân cực tăng dần (n-hexan, ethyl acetat) để thu các

phân đoạn phục vụ cho các nghiên cứu phân lập về sau dễ dàng hơn.



42



3.3.2.2.



Định tính nhóm chất trong dược liệu



Kết quả định tính sơ bộ các nhóm chất trong phần thân mang lá của Nho

rừng bằng các phản ứng đặc trưng cho thấy dược liệu chứa các hợp chất thuộc

nhóm: flavonoid, tannin, acid amin, đường khử, polysaccharid, chất béo và sterol.

Mặc dù cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học về loài này cả

trong nước và ngoài nước, nhưng kết quả định tính này khá tương đồng với các kết

quả định tính sơ bộ thành phần hóa học của các loài thuộc chi này như V. vinifera,

V. labrusca, V. amuresis [23], [30], [41], [51]. Kết quả định tính sơ bộ này tạo tiền

đề để định hướng cho việc chiết xuất và phân lập các hợp chất trong cây Nho rừng.

3.3.2.3.



Phân lập, xác định cấu trúc hợp chất trong phân đoạn n-hexan



Sau khi tiến hành sắc ký cột pha thường phân đoạn n-hexan thu được 2 chất

sạch đã xác định cấu trúc là VHD (daucosterol) và VH01 (acid betulinic). Phân

lập được daucosterol và acid betulinic từ cây Nho rừng phù hợp với kết quả định

tính sơ bộ và nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc trước đó [49].

Daucosterol là hợp chất phổ biến trong thực vật, đã được phân lập ở nhiều

cây. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên phân lập được daucosterol ở cây Nho rừng.

Daucosterol là hợp chất có nhiều tác dụng dược lý như bảo vệ tế bào thần kinh [28],

đồng thời kích thích sự phát triển của tế bào thần kinh [27], tác dụng ngăn ngừa tế

bào ung thư [10] và ức chế sự phát triển nấm Candida albicans [25].

Acid betulinic là một triterpen cũng đã được phân lập ở nhiều loài thuộc chi

Vitis như V. vinifera, V. amurensis, V. thunbergii. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên

cứu đánh giá tác dụng của acid betulinic, kết quả cho thấy hợp chất có tác dụng

chống viêm [24], [45]; kháng virus [31]; điều trị sốt rét [21]; ngăn ngừa và điều trị

ung thư [9], [14], [37].

Hai hợp chất đã phân lập được từ cây Nho rừng nêu trên có nhiều tác dụng

sinh học quý, tạo cơ sở để ứng dụng dược liệu này trong phòng và chữa bệnh.



43



Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1.



Kết luận

Sau thời gian nghiên cứu, kết quả thu được gồm:

Phân tích được đặc điểm hình thái thực vật phần trên mặt đất của cây Nho



rừng, đặc điểm vi học của thân, lá và bột thân, bột lá cây Nho rừng, góp phần cung

cấp cơ sở dữ liệu cho việc phân biết tránh nhầm lẫn khi nhận biết, kiểm nghiệm, sử

dụng dược liệu. Giám định tên khoa học của cây Nho rừng là Vitis heyneana Roem.

& Schult.

Bằng các phản ứng hóa học đặc trưng đã sơ bộ xác định được trong mẫu

dược liệu Nho rừng chứa nhóm chất: flavonoid, tannin, acid amin, đường khử,

polysaccharid, chất béo, sterol.

Từ dược liệu đã chiết được các cao phân đoạn: n-hexan, ethyl acetat, cao

nước từ thân mang lá Nho rừng.

Từ phân đoạn n- hexan phân lập được 2 chất sạch (VHD, VH01). Sử dụng

các phổ (1H-NMR,



13



C-NMR, HMBC, DEPT) và so sánh với các dữ liệu phổ đã



công bố xác định cấu trúc VHD (daucosterol), VH01 (acid betulinic).

4.2.



Kiến nghị

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên các kết quả thu được trên đây chỉ mới là



bước đầu xây dựng tiêu chuẩn Nho rừng và khảo sát thành phần hóa học Nho rừng.

Cần tiếp tục nghiên cứu thêm:

Nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm thực vật (đặc điểm hoa, rễ).

Tiếp tục nghiên cứu, phân lập, xác định cấu trúc hóa học trong cây Nho rừng

(trong phân đoạn ethyl acetat, cao nước).

Tiến hành các nghiên cứu thử tác dụng sinh học của dược liệu cũng như

thành phần thu được từ cây.



44



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo tiếng việt

1.



Bộ môn Dược liệu (2012), Phương pháp nghiên cứu dược liệu, Đại học Y



Dược TP Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

2.



Bộ môn Dược liệu (2003), Thực tập dược liệu Trường đại học Dược Hà Nội,



Hà Nội.

3.



Bộ môn thực vật (2012), Thực tập thực vật và nhận biết cây thuốc, Trường



đại học Dược Hà Nội, Hà Nội.

4.



Bộ Y Tế (2011), Dược liệu học (tập 1, 2), Nhà xuất bản Y học Hà Nội.



5.



Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản Y học,



Hà Nội, pp. 353-358.

6.



Phạm Hoàng Hộ (2002), Cây cỏ Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Hồ Chí Minh,



pp. 475-476.



Tài liệu tham khảo tiếng anh

7.



Anna Apostolou, Dimitrios Stagos, et al. (2013), "Assessment of



polyphenolic content, antioxidant activity, protection against ROS-induced DNA

damage and anticancer activity of Vitis vinifera stem extracts", Food and chemical

toxicology, 61, pp. 60-68.

8.



Bakhta Aouey, Amira Mahjoubi Samet, et al. (2016), "Anti-oxidant, anti-



inflammatory, analgesic and antipyretic activities of grapevine leaf extract (Vitis

vinifera) in mice and identification of its active constituents by LC–MS/MS

analyses ", Biomedicine & Pharmacotherapy, 84, pp. 1088-1098.

9.



Christina Eder-Czembirek, Boban M. Erovic, et al. (2010), "Betulinic acid a



radiosensitizer in head and neck squamous cell carcinoma cell lines",

Strahlentherapie und Onkologie, 186(3), pp. 143-148.



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tinh thể hình kim màu trắng, nhiệt độ nóng chảy 316-318oC; tan trong ethanol, methanol; khi chạy sắc kí lớp mỏng quan sát thấy không hiện màu ở UV254, UV365, hiện màu tím sau khi phun thuốc thử H2SO4 10% trong cồn, hơ nóng.

Tải bản đầy đủ ngay(73 tr)

×