Tải bản đầy đủ - 12 (trang)
Điều kiện của người nhờ mang thai hộ

Điều kiện của người nhờ mang thai hộ

Tải bản đầy đủ - 12trang

chung mà không đăng kí kết hôn nhờ người mang thai hộ, đến khi đứa trẻ sinh

ra, họ không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa thì quyền và lợi ích của đứa

trẻ sẽ bị ảnh hưởng.

Về xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền việc người vợ không thể mang

thai và sinh con ngay cả khi áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản thì theo Nghị định

số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh

trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì cặp vợ

chồng nhờ mang thai hộ cần phải có bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có

bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng

của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi

áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Cũng tại Điều 7 của nghị định này thì các cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bao

gồm: Cơ sở phụ sản, sản - nhi của Nhà nước từ tuyến tỉnh trở lên, Bệnh viện đa

khoa tư nhân có khoa sản, khoa sản – nhi, Bệnh viện chuyên khoa phụ sản,

chuyên khoa sản - nhi tư nhân và Bệnh viện chuyên khoa nam học và hiếm

muộn. Các cơ sở khám chữa bệnh này có nhiệm vụ phải đảm bảo tính chính xác

của kết luận hay xác nhận đồng thời chịu trách nhiệm về những kết luận, xác

nhận đó của mình.

Thứ hai, Vợ chồng đang không có con chung.

Chỉ cho phép áp dụng mang thai hộ khi vợ chồng chưa có con chung, bởi lẽ

mang thai hộ là nhằm mục đích nhân đạo, là một nhĩa cử cao đẹp giữa những

người phụ nữ với nhau, giống một sự hỗ trợ, giúp đỡ để những ngưới kém may

mắn có thể hưởng niềm vui được làm mẹ, khi niềm khao khát có một đứa con

ruột thịt được thành hiện thực thì niềm hạnh phúc làm mẹ thật thiêng liêng, đáng

trân trọng. Quy định trên cũng góp phần hạn chế việc nhờ mang thai hộ tràn lan,

dù biết rằng mang thai hộ là giải pháp tối ưu cho người phụ nưc không thể man

thai và sinh con nhưng không vì thế mà xem thường những ảnh hưởng của việc

mang thai họ đối với sức khỏe của người phụ nữ mang thai hộ.

5



Thứ ba, Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Luật HN&GĐ 2014 quy định tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý là điều kiện bắt

buộc trước khi tiến hành quá trình mang thai hộ là hoàn toàn hợp lý. Bởi thông

qua việc tư vấn, người nhờ mang thai hộ được cung cấp thông tin về mặt y tế,

mặt pháp lý cũng như mặt tâm lý để chuẩn bị tâm lý sẵn sang cũng như hiểu biết

các quyền và nghĩa vụ của mình. Từ chỗ hiểu được các quyền và nghĩa vụ của

mình, người nhờ mang thai hộ sẽ có những ứng xử phù hợp với quy định của

pháp luật, giúp hạn chế những tranh chấp giữa các bên trong quan hệ mang thai

hộ.

Theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ thì người nhờ mang thai

hộ được tư vấn những nội dung về y tế, pháp lý và tâm lý sau:





Về y tế:



-



Các phương án khác ngoài việc mang thai hộ hoặc xin con nuôi;



-



Quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ;



-



Các khó khăn khi thực hiện mang thai hộ;



-



Tỷ lệ thành công của kỹ thuật có thể rất thấp nếu dự trữ buồng trứng của

người vợ thấp hoặc người vợ trên 35 tuổi;



-



Chi phí điều trị cao;



-



Khả năng đa thai;



-



Khả năng em bé bị dị tật và có thể phải bỏ thai;



-



Các nội dung khác có liên quan.





-



Về pháp lý:



Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình.



-



Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định

tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình.



-



Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy

định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình.



-



Các nội dung khác có liên quan.

6





-



Về tâm lý:



Các vấn đề về tâm lý trước mắt và lâu dài của việc nhờ mang thai hộ, người

thân và bản thân đứa trẻ sau này;



-



Người mang thai hộ có thể có ý định muốn giữ đứa bé sau sinh;



-



Hành vi, thói quen của người mang thai hộ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe

của đứa trẻ;



-



Tâm lý, tình cảm khi nhờ người mang thai và sinh con;



-



Thất bại và tốn kém với các đợt điều trị mang thai hộ có thể gây tâm lý căng

thẳng, mệt mỏi;



-



Các nội dung khác có liên quan.

2.



Điều kiện của người mang thai hộ



Thứ nhất, Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ

mang thai hộ.

Đối với quy định người mang thai hộ là người thân thích của vợ, chồng của

người nhờ mang thai hộ, có ý kiến cho rằng nên mở rộng đối tượng được phép

mang thai hộ. Tuy nhiên, xét một khía cạnh khác của vấn đề này, việc mở rộng

đối tượng cho phép mang thai hộ lại chứa đựng nhiều bất ổn có thể tồn tại trong

thực tiễn, nhất là khi cơ sở để phân biệt nhân đạo và thương mại lại rất mong

manh, khó xác định. Do đó, việc quy định như trong Luật là chỉ cho phép đối

tượng được nhờ mang thai hộ là người thân thích của vợ, chồng bên nhờ mang

thai hộ bảo đảm hạn chế phát sinh các quan hệ mang thai hộ vì mục đích thương

mại, nhờ đó sẽ hạn chế những biến tướng của việc mang thai hộ đồng thời cũng

ngăn chặn những nguy cơ có thể phá vỡ kết cấu và hạnh phúc gia đình. Hơn nữa,

với điều kiện thực tế và cơ chế pháp lý còn khá mỏng ở Việt Nam hiện nay, việc

quy định như vậy là phòng tránh nhiều rủi ro có thể xảy ra trong đời sống xã hội.

Người thân thích được hiều là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người

có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời (Điều 3 Luật

HN&GĐ 2014). Quan hệ hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng sau khi kết

hôn hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, còn quan hệ nuôi dưỡng được hiểu là

7



quan hệ giữa cha mẹ và con được hình thành dựa trên sự kiện sinh con hoặc nhận

nuôi con nuôi. Quan hệ cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống được thể hiện qua

giấy khai sinh hoặc Quyết định công nhân cha, mẹ, con của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền. Việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công

nhận là phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người

được nhận làm con nuôi.

Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ cũng đã chỉ rõ người thân thích

cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ ở đây bao gồm: Anh,

chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con

chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của

người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ. Như vậy,

chỉ những người được quy định trên đây mới có thể được mang thai hộ cho cặp

vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Để đảm bảo không trái với thuần phong mỹ tục của người Việt (mẹ ruột mang

thai hộ cho con đẻ, mẹ chồng mang thai hộ con dâu…) pháp luật cũng đã chú ý

để quy định người thân thích phải cùng hang. Quy định chặt chẽ như vậy là đúng

đắn, phù hợp đồng thời loại bỏ tính vụ lợi trong qua trình thực hiện việc mang

thai hộ.

Thứ hai, Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần.

Việc đạt điều kiện người mang thai hộ đã từng có thai và sinh con để đảm bảo

rằng họ có kinh nghiệm cho việc mang thai. Đồng thời, quy định này cũng nhằm

đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con. Mang thai và sinh con là cả một quá trình

mà người phụ nữ đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của thai kỳ, phải có chế

độ ăn uống, nghỉ ngơi, chăm sóc đặc biệt để đảm bảo thai nhi phát triển khỏe

mạnh. Việc yêu cầu người phụ nữ đã từng sinh đẻ là điều cần thiết bởi nếu chưa

từng mang thai, sinh con, người phụ nữ sẽ gặp phải nhiều khó khan khi mang

thai, thiếu kỹ năng, thiếu kinh nghiệm khiến người phụ nữ không biết cách

phòng ngừa những biến chứng, những tác động không tốt đến sức khỏe của thai

nhi từ đó ảnh hưởng tới sự thành công của việc mang thai hộ.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện của người nhờ mang thai hộ

Tải bản đầy đủ ngay(12 tr)

×