Tải bản đầy đủ
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH THANH HOÁ

ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH THANH HOÁ

Tải bản đầy đủ

90-130 ngày mưa. Độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, số giờ nắng bình quân khoảng
1600-1800 giờ. Nhiệt độ trung bình 230C - 240C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi
cao. Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và
Đông nam. Đặc điêm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi
dào là điều kiện thuận lợi cho phát triên sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
- Về Tài nguyên đất: Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha; Trong
đó, đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha; Đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; Đất
nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha; Đất chưa sử dụng 153.520 ha với các nhóm đất thích
hợp cho phát triên cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả.
- Về Tài nguyên rừng: Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên
rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m 3
gỗ, hàng năm có thê khai thác 50.000 - 60.000 m 3. Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng
cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa dạng về họ, loài; Có các loại gỗ quý hiếm
(như: Lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dỗi, de, chò chỉ). Rừng
Thanh Hóa cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật và các loài
chim … Đặc biệt, ở vùng Tây nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, vùng Tây Bắc
có các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, là những khu rừng đặc
dụng, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien động - thực vật quí hiếm.
- Về tài nguyên Biên: Thanh Hóa có 102 km bờ biên và vùng lãnh hải rộng
17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biên có 5 cửa lạch
lớn, thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào.Vùng biên Thanh Hóa có trữ lượng
khoảng 100.000 - 120.000 tấn hải sản, với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao.
- Về tài nguyên khoáng sản: Thanh Hóa là một trong số ít các tỉnh ở Việt
Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng; Có 296 mỏ và điêm
khoáng sản với 42 loại khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như:
Đá granit và marble (trữ lượng 2 -3 tỉ m3), đá vôi làm xi măng (trên 370 triệu tấn),
sét làm xi măng (85 triệu tấn), crôm (khoảng 21 triệu tấn), quặng sắt (2 triệu tấn),
secpentin (15 triệu tấn), đôlômit (4,7 triệu tấn); Ngoài ra còn có vàng sa khoáng và
các loại khoáng sản khác.

32

- Về tài nguyên nước: Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt,
sông Mã, sông Bạng, sông Yên với tổng chiều dài 881 km, tổng diện tích lưu vực là
39.756km2; tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m 3. Sông suối Thanh
Hóa chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho phát triên thủy
điện. Nước ngầm ở Thanh Hóa cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại, bởi
vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biến chất, mác ma và phun trào.
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện; Tổng
diện tích 11.133,4 km2 và số dân 3,491 triệu người, với 7 dân tộc Kinh, Mường,
Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú. Trong đó có khoảng 462,7 nghìn người sống ở
thành thị. Hiện nay, Thanh Hóa có 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ
lệ 61,8% dân số toàn tỉnh; Lao động đã qua đào tạo chiếm 32%; Trong đó, lao động
có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 6,4%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh
(GDP) năm 2014 theo giá so sánh năm 1994 tăng 11,6% so với năm 2013 (năm
2013 tăng 11,2%); trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,8%; khu
vực công nghiệp, xây dựng tăng 13,5%; khu vực dịch vụ tăng 12,0%. Trong 11,6%
tăng trưởng của năm 2014; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,8%;
ngành công nghiệp, xây dựng 6,8%; các ngành dịch vụ 4,0%. Cơ cấu GDP chuyên
dịch theo hướng tăng dần khu vực II (công nghiệp, xây dựng) từ 40,0% lên 40,9%,
khu vực III (các ngành dịch vụ) giữ như năm 2013 là 40,3%; giảm khu vực I (nông,
lâm nghiệp, thuỷ sản) từ 19,7% xuống còn 18,8%. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo
giá hiện hành bình quân đầu người năm 2014 ước đạt 28,9 triệu đồng, nếu tính theo
USD đạt 1.365 USD.
Tác động của kinh tế - xã hội đến hoạt động Ngân hàng:
- Sự khủng hoảng của kinh tế thế giới đã có tác động đến kinh tế Việt Nam
nói chung và kinh tế Thanh Hoá nói riêng.
- Là tỉnh thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất cả nước nhưng nguồn vốn
chủ yếu tập trung đầu tư vào công nghiệp nặng, hoá lọc dầu và đầu tư mang tính dài
hạn; hiện đang trong quá trình xây dựng.

33

- Sư phát triên kinh tế giữa các vùng, miền chưa đồng đều; cơ cấu kinh tế
chuyên dịch chậm và tăng trưởng chưa vững chắc; hiệu quả đầu tư thấp; số lượng
sản phẩm hàng hoá còn ít, tính cạnh tranh thấp.
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã được cải thiện nhiều, song vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu phát triên.
- Các vấn đề xã hội còn nhiều bức xúc, trình độ lao động chưa đáp ứng với
công việc. Đời sống nhân dân vẫn ở mức trung bình của cả nước; miền núi, vùng
sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn.
- Việc bình xét hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các địa phương theo quyết định số
09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dung cho giai đoạn 2011-2015 hàng năm là chưa kịp
thời (do mỗi năm chỉ điều tra 01 lần). Một số địa phương, công tác điều tra còn
chưa chính xác, chạy theo thành tích nên số hộ nghèo, hộ cận nghèo thực tế từng
thời kỳ còn lớn hơn so với danh sách qua các năm.
- Qúa trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều kết quả nhưng cũng
có một số nơi chưa làm tốt nên có những ảnh hưởng tiêu cực, như: Các khoản đóng
góp tăng lên; Bình xét, đánh giá tiêu trí hộ nghèo, hộ cận nghèo, xá định danh sách
hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo chưa chính xác.
- Việc đánh giá hộ thoát nghèo qua các năm chưa chính xác.
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thiên tai - hạn hán vẫn còn ra ảnh hưởng lớn
đến sản xuất nông nghiệp và phát triên kinh tế của nhân dân.
2.1.2. Thực trạng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tại tại Thanh Hoá
2.1.2.1 Thực trạng
Theo tổng điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tính đến năm 2014 toàn tỉnh
có 121.849 hộ nghèo, với 625.940 nhân khẩu nghèo và hộ cận nghèo theo chuẩn áp
dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, chiếm tỷ lệ 9,78%; Có 102.007 hộ cận nghèo (hộ có
thu nhập = 130% hộ nghèo), với 552.941 nhân khẩu cận nghèo, chiếm tỷ lệ 8,96%.
Tính từ năm 2012 đến năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh đã
có chiều hướng giảm dần, số liệu cụ thê tính theo từng lĩnh vực như sau:

34

- Về hộ nghèo theo chuẩn mới năm 2012 có 182.439 hộ (trong đó dân tộc
thiêu số 15.368 hộ); Năm 2013 xuống còn 151.010 hộ (trong đó dân tộc thiêu số
14.831 hộ); năm 2014 số hộ nghèo xuống còn 121.849 hộ (trong đó dân tộc thiêu số
13.487 hộ).
- Về hộ cận nghèo theo chuẩn mới năm 2012 có 115.131 hộ (trong đó dân tộc
thiêu số 18.432 hộ); Năm 2013 xuống còn 108.100 hộ (trong đó dân tộc thiêu số
17.831 hộ); năm 2014 số hộ cận nghèo xuống còn 102.007 hộ (trong đó dân tộc
thiêu số 16.487 hộ).
- Bằng nhiều công cụ chính sách trong đó không thê không kê đến hoạt động
cho vay nguồn vốn tín dụng ưu đãi của ngân hàng CSXH tỉnh Thanh Hóa đã góp
phần đưa số hộ nghèo và hộ cận nghèo trên đại bàn tỉnh giảm xuống rõ rệt cụ thê:
trong năm 2013 số hộ nghèo giảm tuyệt đối so với năm trước là 31.429 hộ và hộ cận
nghèo giảm 7.021 hộ; năm 2014 số hộ nghèo giảm tuyệt đối là 29.161 và hộ cận
nghèo giảm 6.103 so với năm 2013.
- Về tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ giảm hộ nghèo năm 2012 là 13,56% với tỷ lệ giảm hộ
nghèo 2,64%, đến năm 2013 tỷ lệ này còn 11,62% với tỷ lệ giảm hộ nghèo 1,94% và
năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,78% với tỷ lệ giảm hộ nghèo 1,84% .
2.1.2.2 Đặc điểm và nguyên nhân
a. Đặc điểm
- Vùng ven biên có số dân rất lớn và có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao hơn so
với vùng đồng bằng, miền núi. Nguyên nhân là do hiện nay lao động trong độ tuổi
không có việc làm khá đông. Họ chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản. Nhưng có
những vùng không đánh bắt được, như Bãi Ngang.
- Vùng có đồng bào dân tộc thiêu số sinh sống nhiều có tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận
nghèo cao hơn các vùng khác, nhiều hộ thiếu ăn quanh năm, nhất là đến vụ giáp hạt.
- Các hộ đói nghèo ở vùng đồng bằng tập trung vào các gia đình có nhiều
người nhưng không có đất canh tác, không có tay nghề, không có việc làm, hoặc chỉ
đi làm thuê hàng ngày không ổn định.

35

- Hộ đói nghèo thường có cảm nhận: sự thiếu thốn về vật chất một phần do
đời sống bất ổn, cảm giác bị xa lánh và có ít quan hệ xã hội. Hiêu biết xã hội kém,
hay uống rượu, cờ bạc…
b. Nguyên nhân
- Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; vùng đồng bằng ven biên, vùng núi,
vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí thấp
- Do chưa có cơ chế đồng bộ:
+ Hệ thống chính sách, cơ chế XĐGN còn thiếu đồng bộ; cơ chế vận hành và
trách nhiệm của từng ngành chưa rõ ràng. Cơ chế dân chủ, công khai, kiêm tra giám
sát còn mang tính hình thức. Công tác điều tra quản lý đối tượng hộ nghèo, hộ cận
nghèo, xã nghèo; Xây dựng chương trình, kế hoạch còn nhiều thiếu sót. Nhiều nơi
còn lúng túng, chưa biết cách huy động người dân tham gia xây dựng kế hoạch,
thực hiện và quản lý nguồn lực cho XĐGN.
+ Thiếu những chính sách đủ mạnh đê khuyến khích đầu tư, huy động mọi
nguồn lực, phát triên các thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới. Tỷ
lệ rủi ro, đọng vốn trong cho vay giải quyết việc làm còn cao.
- Chỉ đạo điều hành về công tác xoá đói giảm nghèo cũng như việc phối hợp,
lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội với XĐGN chưa đạt hiệu quả cao. Nhận
thức và trách nhiệm đối với công tác XĐGN của cấp uỷ Đảng, chính quyền, Hội,
Đoàn thê của một số địa phương cấp huyện, xã và một số ban ngành tỉnh chưa sâu
sát và toàn diện; thiếu nhất quán trong chỉ đạo; Phối hợp điều hành nhiều khi còn
lúng túng. Lãnh đạo một số địa phương. Nhất là miền núi có tư tưởng trông chờ, ỷ
lại vào nguồn hỗ trợ của Nhà nước; chưa huy động và khai thác được nội lực đê
thực hiện chương trình XĐGN tại địa phương; Chưa xác định được nguyên nhân
đói nghèo và tâm tư nguyện vọng của hộ đê có biện pháp hỗ trợ hiệu quả nhất.
- Một số chính sách hỗ trợ chương trình XĐGN chưa có tác dụng khuyến
khích đê hộ phấn đấu vươn lên.
- Do bản thân hộ gia đình: Nghèo do các thành viên trong hộ gia đình có
trình độ học vấn thấp (không biết chữ, không biết tiếng kinh); tập quán canh tác lạc

36

hậu; thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn, chưa biết áp dụng các tiến bộ khoa học
- kỹ thuật mới vào trồng trọt, chăn nuôi và phát triên ngành nghề mang lại hiệu quả
kinh tế cao (chiếm 30,9% trong tổng số hộ nghèo đói toàn tỉnh); các hộ thuộc diện
đói nghèo là những hộ gia đình có quy mô lớn nhưng sức lao động ít.
2.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, MÔ HÌNH TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH
THANH HOÁ
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng chính sách xã hội
tỉnh Thanh Hoá
Chi nhánh Ngân hàng CSXH Thanh Hoá, đơn vị thành viên của Ngân hàng
CSXH Việt Nam được thành lập theo quyết định số 43/QĐ-HĐQT, ngày 14/01/2003
của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng CSXH Việt nam, trên cơ sở tổ chức, sắp
xếp lại hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo, nhận bàn giao vốn từ kho bạc
và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triên nông thôn Chi nhánh Thanh Hoá.
Khi mới thành lập, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của Chi nhánh
còn thiếu, công nghệ ngân hàng lạc hậu, lao động chủ yếu bằng thủ công. Sau hơn
10 năm đi vào hoạt động mặc dù có rất nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của
Ban lãnh đạo cùng toàn thê Cán bộ - Công nhân viên Chi nhánh Ngân hàng CSXH
Thanh Hóa đã thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn và đạt được nhiều thành tích
quan trọng, góp phần vào thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo nhanh và bền
vững, tạo việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triên và ổn định
xã hội trên địa bàn tỉnh, tạo niềm tin và là chỗ dựa vững chắc cho các đối tượng
chính sách và hộ nghèo trên địa bàn.
2.2.2 Về mô hình tổ chức và quản trị điều hành của Ngân hàng Chính sách xã
hội tỉnh Thanh Hoá
2.2.2.1 Mô hình tổ chức bộ máy
Chi nhánh xây dựng mạng lưới hoạt động gồm: Hội sở chính đóng tại Thành
phố và 26 Phòng giao dịch ở các huyện, thị xã; 637 Điêm giao dịch đóng tại UBND
cấp xã; gần 11.000 Tổ TK&VV hoạt động dưới gần 6.000 đơn vị cấp thôn, làng, bản,

37

đảm bảo 100% đơn vị cấp thôn, xã đều có hoạt động của Ngân hàng CSXH.
2.2.2.2 Quản trị và điều hành của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh
a. Ban đại diện hội đồng quản trị các cấp
- Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng CSXH tỉnh, gồm: Chủ tịch
(hoặc Phó Chủ tịch) UBND tỉnh là Trưởng Ban đại diện; các thành viên còn lại là
đại diện lãnh đạo các sở, ngành, tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh (Sở tài chính, Sở
Kế hoạch và đầu tư, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và
Phát triên nông thôn, Ban Dân tộc, Văn phòng Tỉnh uỷ, Hội nông dân tỉnh, Hội
phụ nữ tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Tỉnh Đoàn).
- Tại các huyện, thị xã trong tỉnh được thành lập Ban đại diện Hội đồng quản
trị do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện, thị xã làm Trưởng Ban. Chủ tịch
UBND huyện, thị xã quyết định nhân sự Ban đại diện HĐQT.
- Ban đại diện HĐQT cấp tỉnh, cấp huyện có chức năng giám sát việc thực
hiện các Nghị quyết, văn bản chỉ đạo của HĐQT tại địa phương; Giúp việc cho Ban
đại diện HĐQT các cấp do các Giám đốc chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh, huyện
đảm nhận.
b. Bộ máy điều hành tác nghiệp
Bộ máy điều hành: toàn chi nhánh có tổng số: 346 cán bộ, trong đó 35 lao
động ngắn hạn được bố trí như sau :
- Ban giám đốc (gồm 1 giám đốc, 3 phó giám đốc) trực tiếp ra quyết định
hướng dẫn thi hành quản lý hoạt động của các phòng trong phạm vi, quyền hạn của
mình. Tiếp thu những ý kiến và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nói
chung và Ngân hàng CSXH nói riêng xây dựng đường lối phát triên cho Ngân hàng .
- Phòng kế toán Ngân quỹ (1 kế toán trưởng, 4 kế toán viên và 1 thủ quỹ):
theo dõi hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng chuẩn mực
kế toán thống nhất do Nhà nước và ngành quy định . Xây dựng chi tiêu kế hoạch
tài chính hàng năm, hạch toán, quyết toán các khoản thu nhập, chi phí và sử dụng
các quỹ theo đúng chế độ quy định. Đảm bảo an toàn thu chi tiền mặt. Lưu trữ hồ

38

sơ tài liệu kế toán đúng quy định, giữ gìn bí mật và số liệu nghiệp vụ.
- Phòng kế hoạch nghiệp vụ tín dụng (1 trưởng phòng, 2 phó phòng, 5 cán
bộ tín dụng) Xây dựng chi tiêu kế hoạch nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn hàng
năm, có chia ra quý tháng. Tham mưu cho ban giám đốc trong việc giao chi tiêu
kế hoạch cho các huyện và điều hành việc thực hiện kế hoạch của toàn chi nhánh.
Đảm bảo cân đối, an toàn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tiếp nhận từ TW
và tự huy động vốn tại địa phương trách tồn đọng lãng phí vốn. Thực hiện công
tác quản lý, cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác dưới 2 hình thức:
“cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác”
- Phòng Hành chính tổ chức tham mưu cho Ban giám đốc trong quản lý
điều hành Ngân hàng, bổ nhiệm các vị trí trong Ngân hàng, phối hợp với các đơn
vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo, xây dựng quy chế lương
thưởng và các biện pháp khuyến khích đội ngũ nhân viên trong cơ quan.
- Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ có chức năng hỗ trợ cho Giám đốc giám
sát mọi hoạt động trong công ty, đảm bảo mọi nhân viên thực hiện đúng nội quy ,
quy chế của công ty. Ngoài ra bộ phận này còn có nhiệm vụ phải báo cáo kịp thời
kết quả kiêm tra, kiêm soát nội bộ và đề xuất các giải pháp kiến nghị cần thiết
nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động an toàn.
- Phòng tin học sửa chữa các lỗi kỹ thuật khi xảy ra sự cố, đào tạo tin học cho
cán bộ Ngân hàng, duy trì vận hành các hệ thống, phần mềm ứng dụng đã triên khai
trong hệ thống, cập nhật đầy đủ các phiên bản mới nhất, đảm bảo thông suốt đường
truyền dữ liệu trong hệ thống quản lý, bảo dưỡng thiết bị tin học, công tác báo cáo
thống kê, điện báo. Hỗ trợ các Phó giám đốc khi bị sự cố về dữ liệu và thiết bị, phối
hợp các phòng nghiệp vụ gửi báo cáo định kỳ vận hành các ứng dụng tài chính .
- 26 Phòng giao dịch huyện và Trung tâm Đào tạo bố trí 303 người (bình
quân có từ 11- 12 người/phòng giao dịch). Những phòng giao dịch quản lý dư nợ
lớn, địa bàn rộng thì được bố trí nhiều cán bộ hơn (cao nhất 14 người, huyện thấp
nhất 7 người).
Ngoài ra, Chi nhánh còn có Bộ máy tác nghiệp bao gồm hệ thống gần
15.000 cán bộ các Tổ chức chính trị- xã hội (TCCT-XH) nhận ủy thác từ tỉnh

39

xuống huyện, xã, thôn tham gia quản lý nguồn vốn ủy thác.
Đê tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc vay vốn, trả nợ, Ngân
hàng CSXH đã tổ chức điêm giao dịch cố định hàng tháng tại các xã, phường, thị
trấn. Đến nay, đã có 637 điêm giao dịch lưu động tại xã, phường trên tổng số 637
xã, phường trong toàn tỉnh.
Tại các điêm giao dịch xã, Ngân hàng CSXH niêm yết công khai các chính
sách của Chính phủ về các chương trình tín dụng ưu đãi, các quy trình, thủ tục cho
vay, đối tượng được vay, nguồn vốn ưu đãi, mức lãi suất, mức cho vay, hồ sơ vay
vốn... đê nhân dân tham gia giám sát; đồng thời, hàng tháng tổ chức những ngày
giao dịch cố định đê cho vay, thu nợ, giao ban với các hội đoàn thê nhận uỷ thác,
với các Tổ Tiết kiệm và vay vốn.
BAN ĐẠI DIỆN
HĐQT TỈNH

TRUNG TÂM
ĐÀO TẠO

BAN GIÁM ĐỐC
NHCSXH TỈNH
BAN ĐẠI DIỆN
HĐQT CẤP HUYỆN

CÁC PHÒNG
NGHIỆP VỤ
PGD NHCSXH
CẤP HUYỆN

ĐƠN VỊ NHẬN
UỶ THÁC

TỔ TK&VV

HỘ VAY VỐN

HỘ VAY VỐN

HỘ VAY VỐN

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức và quản trị điều hành của Ngân hàng CSXH Tỉnh

40

2.2.3. Tình hình hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa
2.2.3.1 Tình hình chung
Kết quả thực hiện hoạt động chung của ngân hàng CSXH Thanh Hóa trong
3 năm (2012 - 2014) được thê hiện qua các chỉ báo sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn và tổng dư nợ các năm từ 2012-2014

Chỉ tiêu

Năm

Tỷ

Năm

Tỷ

Năm

Tỷ

2012

trọng

2013

trọng

2014

trọng

(tỷ đồng) (%)
I. Tổng nguồn vốn:
6.369
1- Vốn Trung ương
6.107
96
2- Vốn địa phương
146
2.2
3- Vốn ủy thác đầu tư 116
1.8
II. Tổng dư nợ
6.361

(tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) (%)
6.740
7.004
6.441
96
6.602
94
178
2.6
276
4
121
1.4
126
2
6.687
6.992
Nguồn: Ngân hàng CSXH Thanh Hóa

Tình hình hoạt động năm 2012
Về nguồn vốn:
Tổng nguồn vốn đạt 6.369.tỷ đồng, tăng 402 tỷ đồng so với năm 2011, đạt
99,3% kế hoạch năm. Trong đó:
- Nguồn vốn cân đối từ Trung ương là 6.107 tỷ đồng, tăng 314 tỷ đồng so
với năm 2011, tăng trưởng 5,43%, hoàn thành 100% kế hoạch.
- Nguồn vốn huy động tại địa phương được Trung ương cấp bù lãi suất 145
tỷ đồng/191tỷ đồng, tăng 71tỷ đồng so với năm 2011, đạt 76,3% kế hoạch năm.
- Nguồn vốn nhận ủy thác đầu tư tại địa phương chuyên sang đê cho vay:
116 tỷ đồng, tăng 16tỷ đồng so với năm 2011.
Về sử dụng vốn:
Tổng dư nợ là 6.360 tỷ đồng, tăng 412 tỷ đồng so với năm 2011, tốc độ tăng
trưởng 6,9%, hoàn thành 99,7% chỉ tiêu kế hoạch.
Tình hình hoạt động năm 2013
Về nguồn vốn:

41

Đến 31/12/2013 Tổng nguồn vốn đạt 6.740 tỷ đồng; tăng 371 tỷ đồng so với
năm 2012, tương ứng với tỷ lệ 5,8%; đạt 99,6% kế hoạch năm 2013. Trong đó: nguồn
vốn cân đối từ TW 6.441 tỷ đồng, chiếm 96% tổng nguồn vốn, tăng 334 tỷ đồng so
với năm 2012, tương ứng tăng 5,5% ; nguồn vốn nhận ủy thác từ ngân sách địa
phương: 121 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm 2012, tương ứng tăng 4,4%; nguồn
vốn huy động tại địa phương được cấp bù lãi suất đạt 178 tỷ đồng, đạt 97% chỉ tiêu
kế hoạch; tăng 32 tỷ đồng so với năm 2012, tương ứng tăng 21,8%.
Về sử dụng vốn:
Đến 31/12/2013 Tổng dư nợ đạt 6.687 tỷ đồng, tăng 326 tỷ đồng so với năm
2012; tương ứng tăng 5,1%; hoàn thành 99,3% chỉ tiêu kế hoạch.
Tình hình hoạt động năm 2014
Về Nguồn vốn:
Đến 31/12/2014, tổng nguồn vốn đạt 7.004 tỷ đồng, tăng 264 tỷ đồng so với
năm 2013, tương ứng tăng 3,9%.
- Nguồn vốn cân đối từ Trung ương: 6.6012 tỷ đồng, chiếm 94,3% tổng
nguồn vốn, tăng 161 tỷ đồng so với năm 2013, tương ứng tăng 2,5%.
- Nguồn vốn huy động tại địa phương được cấp bù lãi suất là 276 tỷ đồng,
tăng 988 tỷ đồng so với năm 2013, tương ứng tăng 55,4%, đạt 123,3% kế hoạch
năm, chiếm 4% tổng nguồn vốn.
- Nguồn vốn nhận ủy thác đầu tư tại địa phương đạt 126 tỷ đồng chiếm 2%
tổng nguồn vốn, tăng 5 tỷ đồng so với năm 2013, tương ứng tăng 3,7%.
Về sử dụng vốn:
Đến 31/12/2014, tổng dư nợ đạt 6.992 tỷ đồng, tăng 305 tỷ đồng so với
năm 2013, tốc độ tăng trưởng 4,6% hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch.
Như vậy, qua 3 năm, nguồn vốn đều có sự tăng trưởng. Trong đó, nguồn vốn
từ TW vẫn là nguồn vốn chiếm ưu thế, kế đến là nguồn vốn địa phương, và nguồn
vốn ủy thác đầu tư. Đáng chú ý là nguồn vốn địa phương đã có sự tăng trưởng
đáng ghi nhận, thê hiện qua quy mô và tỷ trọng trong cơ cấu nguồn vốn. Bên cạnh
sự tăng trưởng của nguồn vốn thì dư nợ cho vay (sử dụng vốn) cũng có sự tăng

42