Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3. Tác động của SPS tới Việt Nam

CHƯƠNG 3. Tác động của SPS tới Việt Nam

Tải bản đầy đủ

-

Đối với thực vật: tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị được xây dựng bởi Ban thư ký
Công Ước Bảo vệ thực vật Quốc tế (IPPC), hợp tác với các tổ chức khu trong khuôn

-

khổ công ước.
Đối với các vấn đề không thuộc phạm vi các tổ chức trên, các tiêu chuẩn, hướng dẫn
và khuyến nghị phù hợp được công bố bởi các tổ chức quốc tế khác mà nước đó gia
nhập do Ủy ban SPS xác định.
• Tính tương đương
Các Thành viên phải chấp nhận các biện pháp kiểm dịch động, thực vật tương
đương của Thành viên khác ngay cả khi các biện pháp đó khác với biện pháp mà họ
đang áp dụng để quản lý rủi ro nếu Thành viên xuất khẩu chứng minh được rằng các
biện pháp mà họ đề xuất cũng đạt mức độ bảo vệ tương tương với biện pháp của
Thành viên nhập khẩu áp dụng. Trong trường hợp nước nhập khẩu khởi kiện tính
tương đương sẽ được tiếp cận hợp lý để thanh tra, thử nghiệm và thực hiện các thủ tục
liên quan khác.


Đánh giá rủi ro và xác định mức độ bảo vệ phù hợp
Đánh giá rủi ro phải dựa trên các kỹ thuật đánh giá rủi ro do các tổ chức quốc tế

liên quan xây dựng (như Codex, OIE, IPPC). Khi đánh giá rủi ro phải dựa trên chứng
cứ khoa học, các quá trình và phương pháp sản xuất, thanh tra, thử nghiệm liên quan,
dựa trên tính phổ biến của một số loại sâu bệnh cũng như điều kiện sinh thái môi
trường liên quan khác. Khi đánh giá rủi ro đòi hỏi phải tính đến các yếu tố kỹ thuật và
kinh tế như khả năng thiệt hại, chi phí và hiệu quả của phương pháp hạn chế rủi ro.
Việc lựa chọn một biện pháp gây hạn chế thương mại ít nhất là cần thiết, theo đó
cần lựa chọn một biện pháp SPS hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất và
tác động tích cực nhất đến thương mại. Trong trường hợp chứng cứ khoa học liên quan
chưa đủ, các Thành viên có thể áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở thông tin chuyên
môn có sẵn và phải thu thập các thông tin bổ sung để đánh giá rủi ro khách quan và
hiệu quả.
• Đảm bảo các điều kiện khu vực, kể cả khu vực không dịch bệnh hoặc ít dịch bệnh
Các Thành viên đảm bảo rằng các biện pháp kiểm dịch động, thực vật của mình
thích ứng với các đặc tính kiểm dịch động thực vật của từng khu vực, trong đó có tính
đến mức độ phổ biến của loại sâu bệnh, các chương trình diệt trừ, kiểm soát sâu bệnh

và các tiêu chí do các tổ chức quốc tế xây dựng nên. Khi một Thành viên xuất khẩu
tuyên bố khu vực trong lãnh thổ của mình không có sâu bệnh hoặc ít sâu bệnh cần phải
cung cấp bằng chứng cần thiết để chứng minh với Thành viên nhập khẩu, Thành viên
nhập khẩu sẽ được tiếp cận một cách hợp lý để tiến hành thanh tra, kiểm tra, thử
nghiệm. Do vậy, khi tiến hành xem xét sản phẩm nhập khẩu của các Thành viên khác,
Thành viên nhập khẩu cân nhắc đến khả năng nước xuất khẩu không có sâu bệnh hoặc
có những vùng của nước Thành viên xuất khẩu không có sâu bệnh.


Minh bạch chính sách
Các Thành viên đảm bảo những quy định về kiểm dịch động, thực vật đã ban

hành phải được công bố cho các Thành viên quan tâm biết. Thành lập điểm hỏi đáp để
trả lời các câu hỏi của các Thành viên khác và cung cấp các tài liệu liên quan đến kiểm
dịch động, thực vật. Nếu các biện pháp được ban hành không dựa trên tiêu chuẩn,
hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế và có thể tác động lớn đến thương mại của Thành
viên khác, sẽ phải thông báo trước cho các Thành viên đó và dành thời gian hợp lý để
họ nhận xét, bình luận.
Các thành viên phải thông báo những thay đổi về chính sách, biện pháp SPS và
cung cấp thông tin liên quan thông qua văn phòng Thông báo và Hỏi đáp Quốc gia
theo quy trình, thủ tục và thời gian quy định của phụ lục B của hiệp định.


Các thủ tục kiểm soát, kiểm tra và phê chuẩn
Khi sử dụng bất cứ thủ tục nào để kiểm tra và thực thi kiểm dịch động thực vật

phải đảm bảo các thủ tục đó được thực hiện nhanh chóng và thuận lợi không kém hơn
đối với sản phẩm trong nước, mọi hồ sơ và yêu cầu phải được xử lý chính xác và kịp
thời, trong trường hợp hồ sơ bị thiếu sót cũng phải thông báo kịp thời cho người yêu
cầu để bổ sung. Bí mật thông tin về sản phẩm phải được tôn trọng và bảo vệ được
quyền lợi thương mại chính đáng. Ngoài ra, mọi khoản phí phải đảm bảo không gây
phân biệt đối xử và không cao hơn chi phí thực tế thực hiện thủ tục.


Trợ giúp kỹ thuật
Dành trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển thông qua hợp tác song, đa

phương trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp kỹ thuật, trang thiết bị và
đào tạo nguồn nhân lực.

Ngoài ra, những cam kết của Việt Nam liên quan đến các biện pháp kiểm dịch
động, thực vật được thể hiện tại các Đoạn từ 304 đến 328 Báo cáo Ban Công tác về
việc Việt Nam gia nhập WTO, trong đó Việt Nam cam kết thực thi Hiệp định SPS kể
từ ngày gia nhập mà không viện dẫn đến giai đoạn chuyển đổi, Việt Nam cũng xác
nhận rằng các biện pháp SPS được áp dụng trong khuôn khổ quản lý chuyên ngành
cũng được tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc liên quan của Hiệp định SPS.
3.2.

Tác động của các biện pháp SPS đến Việt Nam
Vốn là một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc khá nhiều vào sản xuất nông

nghiệp, cũng như các sản phẩm nông nghiệp chiếm một tỷ trọng chủ yếu trong kim
ngạch xuất khẩu, Việt Nam phải chịu tác động rất lớn từ các biện pháp kiểm dịch
động, thực vật SPS. Dù vậy, đứng ở vị trí là một nước nhập khẩu, Việt Nam cũng chịu
những ảnh hưởng không nhỏ từ việc áp dụng các biện pháp này. Phần này sẽ phân tích
tác động của các biện pháp kiểm dịch động thực vật đến Việt Nam, từ góc nhìn của
một nước nhập khẩu nông sản từ các quốc gia đối tác, cũng như của một nước xuất
khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang các quốc gia này.
3.2.1. Tác động của các biện pháp SPS đến Việt Nam khi là một nước nhập khẩu
Dù không nhiều, nhưng Việt Nam cũng đã từng áp dụng biện pháp SPS đối với
sản phẩm nông sản từ một số quốc gia, chẳng hạn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia.
Tác động của các biện pháp này đến nền sản xuất trong nước, cũng như đến thị trường
tiêu thụ nội địa Việt Nam chủ yếu là các tác động tích cực.
Thứ nhất, các biện pháp SPS đã đạt được đúng mục đích của mình, như quy định
tại điểm c, mục 1, Phụ lục A của Hiệp định SPS là “[đ]ể bảo vệ sức khoẻ cuộc sống
con người, động thực vật trong phạm vi lãnh thổ của nước thành viên khỏi các nguy
hiểm phát sinh từ các dịch bệnh lây từ động thực vật, thực vật và các sản phẩm của nó,
hay từ khâu nhập khẩu, từ sự hình thành và lây lan của các loại côn trùng có hại.”
Chẳng hạn như vào tháng 3 năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
quyết định tạm ngừng nhập khẩu gia cầm, sản phẩm gia cầm chưa qua xử lý nhiệt từ
bang Tennessee, Hoa Kỳ do phát hiện thấy có dịch cúm gia cầm đang bùng phát tại
đây.22 Trước đó, vào năm 2013, một trong những năm đỉnh điểm của dịch cúm gia cầm
22http://www.baomoi.com/viet-nam-ngung-nhap-khau-gia-cam-chua-xu-ly-nhiet-tu-my/c/21734397.epi Truy
cập ngày 02/9/2017.

H7N9, Việt Nam cũng đã cấm nhập khẩu gia cầm từ Trung Quốc. 23 Những biện pháp
này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe người dân Việt Nam, bảo vệ các đàn gia cầm đang
được chăn nuôi tại Việt Nam, mà còn giúp cho dịch bệnh không lây lan ra phạm vi
rộng.
Thứ hai, các biện pháp SPS giúp bảo hộ nền sản xuất trong nước. Các sản phẩm
nông sản do các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp sản xuất vẫn được tiêu dùng khá
phổ biến tại Việt Nam. Vì vậy, khi các sản phẩm được sản xuất tại nước ngoài không
thể tiếp cận thị trường trong nước, thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng lựa chọn các sản
phẩm trong nước và từ đó tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm trong nước và thúc
đẩy nền sản xuất phát triển.
Ngoài ra, do mục đích “bảo vệ sức khỏe, cuộc sống con người, động thực vật
trong phạm vi lãnh thổ” quốc gia, nên các biện pháp SPS thường có thể được áp dụng
một cách hiệu quả để bảo hộ nền sản xuất trong nước mà không vi phạm các nghĩa vụ
của WTO và các Hiệp định Thương mại song phương, đa phương. Tính đến nay, vẫn
chưa có quốc gia nào có sản phẩm bị Việt Nam áp dụng biện pháp SPS có khiếu kiện
về vấn đề này.
Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp SPS đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các
nước khác cũng có thể có tác động tích cực đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Vào
năm 2015, Việt Nam đã ra lệnh cấm nhập khẩu toàn bộ các sản phẩm hoa quả từ
Australia do lo ngại nạn ruồi giấm. Dù lý do được đưa ra là vì Việt Nam quan ngại về
nạn ruồi giấm đang diễn ra ở khu vực Địa Trung Hải, nhưng động thái này được cho là
được xuất phát từ việc Việt Nam không hài lòngvới khoảng thời gian dài mà Australia
cân nhắc liệu có cho phép nhập khẩu nông sản vườn từ Việt Nam hay không. Chính vì
để tránh Việt Nam cấm nhập khẩu hoa quả của mình nên Australia đã chủ trương đẩy
nhanh quá trình rà soát quy định đối với nhập khẩu hoa quả của Việt Nam. 24 Do đó,
nhờ việc đẩy nhanh các thủ tục tại nước nhập khẩu, các sản phẩm xuất khẩu của Việt
Nam có cơ hội được tiếp cận với thị trường các nước này sớm hơn.
23http://www.tienphong.vn/kinh-te/cam-nhap-khau-gia-cam-tu-trung-quoc-620755.tpo Truy cập ngày
02/9/2017.
24http://vneconomy.vn/thi-truong/viet-nam-da-dung-nhap-hoan-toan-hoa-qua-tu-australia20150106103450438.htm Truy cập ngày 02/9/2017.

Tuy nhiên, biện pháp SPS cũng gây ra một ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường nội
địa Việt Nam khi là một nước nhập khẩu, đó là có thể làm mất đi tính đa dạng của thị
trường và đặc biệt là khi sản phẩm bị áp dụng biện pháp là các sản phẩm bản thân Việt
Nam không sản xuất. Như trong trường hợp cấm nhập khẩu hoa quả từ Australia năm
2015, có thể thấy các sản phẩm hoa quả này bao gồm cả những sản phẩm vốn chỉ nhập
khẩu như kiwi, cherry, nho đen, v.v. mà trong nước không sản xuất. Vì vậy, việc cấm
nhập khẩu đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của người tiêu dùng khi bị hạn chế
trong lựa chọn tiêu dùng sản phẩm này, hay bắt buộc phải chuyển sang mua hoa quả
được nhập khẩu từ quốc gia khác như Hoa Kỳ, New Zealand, có thể có giá thành cao
hơn sản phẩm tương tự tại Australia.
3.2.2. Tác động của các biện pháp SPS đến Việt Nam khi là một nước xuất khẩu
Như đã nói ở trên, các sản phẩm nông nghiệp chiếm một tỷ trọng rất lớn trong
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Chính vì vậy, các biện pháp SPS đã gây ra nhiều
ảnh hưởng tiêu cực đến nền sản xuất nông sản Việt Nam.
Đầu tiên, các biện pháp SPS gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu
Việt Nam trong quá trình thâm nhập thị trường các nước khác. Điều này là do hai
nguyên nhân chính. Thứ nhất là dù không bị chịu ảnh hưởng của sâu bệnh, dịch bệnh,
nhưng các sản phẩm nông sản của Việt Nam cũng khó có thể đáp ứng được các yêu
cầu, cũng như quy trình kiểm tra khắt khe về bảo đảm vệ sinh trong quá trình sản xuất,
hay lưu lượng các chất bảo quản, chất bảo vệ thực vật, v.v. trong sản phẩm. Điều này
có thể được thấy rõ ràng trong việc xuất khẩu cá tra, cá ba sa của Việt Nam vào thị
trường Hoa Kỳ.25 Nguyên nhân thứ hai là do sự khác biệt giữa các phương thức kiểm
tra và tiêu chuẩn đánh giá tại các thị trường khác nhau, dẫn đến doanh nghiệp Việt
Nam gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa điều chỉnh quá trình sản xuất sao cho phù
hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu và quá trình đồng bộ hóa quy trình sản xuất.
Ngoài ra, các phương thức kiểm tra này cũng chưa chắc đã phù hợp với điều kiện sản
xuất tại Việt Nam, khiến doanh nghiệp không thể đáp ứng được các yêu cầu được đặt
ra để đưa được sản phẩm của mình vào thị trường nước ngoài.

25 Phần 3.3.

Tác động tiêu cực thứ hai của các biện pháp SPS đối với xuất khẩu nông sản của
Việt Nam là các biện pháp này gây ra thiệt hại không nhỏ cho quá trình sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Ta có thể thấy điều này thông qua vụ việc mới
xảy ra gần đây khi Australia ra lệnh khẩn cấp cấm nhập khẩu các sản phẩm tôm chưa
nấu chín của Việt Nam. Nguyên nhân của lệnh cấm này là do sự bùng phát của bệnh
đốm trắng tại bang Queensland, Australia và nước này nghi ngờ các sản phẩm tôm và
thịt tôm chưa nấu chín tại các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, là nguyên nhân gây
ra dịch bệnh này. Lệnh cấm này do được đưa ra quá bất ngờ mà không được thông báo
trước, nên nó đã gây ra hậu quả không nhỏ cho ngành xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam nói chung, và ngành sản xuất tôm xuất khẩu nói riêng.26
Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP),
hiện có 8 doanh nghiệp đã và đang xuất khẩu tôm chưa qua nấu chín sang Australia.
Năm 2015, Australia nhập khẩu trên 41 triệu USD tôm chưa nấu chín từ Việt
Nam.27Đây tuy là một con số không lớn đối với một nước phát triển, nhưng đối với
một nước đang phát triển như Việt Nam, với nhiều hộ gia đình chăn nuôi tôm nhỏ lẻ và
các doanh nghiệp sản xuất chưa có nhiều tiềm lực về kinh tế và công nghệ, đây lại là
một con số rất lớn. Chính vì vậy, lệnh cấm này của Australia đã gây ra thiệt hại rất lớn,
thậm chí có thể khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam phải đi đến bờ
vực phá sản.
Tác động tiêu cực thứ ba đó là các biện pháp SPS còn làm giảm đáng kể sức cạnh
tranh của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường các nước nhập khẩu do
biện pháp này có thể gây tổn hại rất lớn đến uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu một khi
sản phẩm không thỏa mãn được các yêu cầu ngặt nghèo do nước nhập khẩu đưa ra.
Tóm lại, các biện pháp SPS được các nước nhập khẩu sản phẩm từ Việt Nam áp
dụng đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ cho nền sản xuất trong nước,
cũng như tổn hại cho nền thương mại của Việt Nam nói chung. Các biện pháp này đã
tạo ra một sự bất bình đẳng nhất định cho các sản phẩm của Việt Nam, trong nhiều

26 http://cafef.vn/doanh-nghiep-thiet-hai-lon-boi-lenh-cam-nhap-khau-tom-cua-australia20170316072511675.chn Truy cập ngày 02/9/2017.
27 Như trên.

trường hợp đã đi ngược lại nguyên tắc S&D và nguyên tắc MFN trong thương mại
quốc tế.
3.3.

Tình huống Việt Nam gặp phải liên quan đến các biện pháp kiểm dịch
động thực vật

3.3.1. Đạo luật Nông nghiệp của Mỹ và những tác động của nó đến việc xuất khẩu cá
tra, cá basa của Việt Nam sang thị trường Mỹ
Cá tra và cá basa của Việt Nam là những mặt hàng với thị trường xuất khẩu chủ
yếu sang Mỹ và các nước EU. Trong đó thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng cao nhất với kim
ngạch xuất khẩu cá tra sang Mỹ tính đến tháng 11/2016 tăng 22% so với cùng kỳ năm
trước.
Tuy nhiên, vào năm 2008, Mỹ thông qua việc sửa đổi từ Đạo luật liên bang về
thanh tra sản phẩm thịt, Luật Nông trại (Farm Bill 2008) đã đưa cá da trơn vào đối
tượng áp dụng thanh tra và chuyển thẩm quyền phụ trách các vấn đề an toàn thực
phẩm đối với cá da trơn từ Cơ quan Phụ trách thực phẩm và dược phẩm (FDA) sang
Cơ quan Thanh tra và an toàn thực phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ. Thêm vào
đó, cơ quan này phải xem xét các điều kiện nuôi trồng và vận chuyển cá da trơn tới các
cơ sở chế biến, một điểm mới trong chương trình thanh tra, kiểm tra này.
Dự thảo đưa ra các quy định sẽ áp dụng với cá da trơn được sản xuất hoặc nhập
khẩu vào thị trường Mỹ. Trong những quy định đó, những sản phẩm có nhãn cá da
trơn (catfish) phải có giấy chứng nhận thanh tra, kiểm tra của FSIS, hoặc chứng nhận
của nước xuất khẩu sản phẩm đó. Dự thảo cũng quy định phương thức thanh tra, kiểm
tra của FSIS tại các trang trại cá da trơn Mỹ cũng như quá trình vận chuyển từ nông
trại tới các cơ sở chế biến. Về vấn đề này, FSIS sẽ chú trọng kiểm tra các yếu tố ảnh
hưởng tới tính an toàn của sản phẩm đầu ra, ví dụ như chất lượng nguồn nước và thức
ăn.
Đến năm 2014, Đạo luật Nông nghiệp (Agriculture Act 2014) được ban hành
thay thế cho Luật Nông trại (Farm Bill 2008) trước đây. Theo đó, cá da trơn (catfish)
được định nghĩa là gồm tất cả các loài trong Siluriformes (Sec. 12106, Agriculture Act
2014), bao gồm cả dòng cá tra và cá basa của Việt Nam. Các sửa đổi theo các đạo luật

Farm Bill 2008 và 2014 chắc chắn có những tác động đáng quan ngại đối với ngành cá
tra Việt Nam.
Chương trình giám sát an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp Mỹ được cho là
khắt khe hơn nhiều so với chương trình giám sát của FDA. Chương trình do FSIS thực
hiện chỉ áp dụng cho các loại thực phẩm được cho là có nguy cơ cao đối với sức khỏe
người tiêu dùng. Cá da trơn đến thời điểm hiện tại là dòng sản phẩm thủy sản duy nhất
bị áp dụng chương trình giám sát của FSIS. Trong khi chương trình của FDA chỉ áp
dụng cho cơ sở chế biến, thì chương trình do FSIS thực hiện sẽ áp dụng từ công đoạn
nuôi trồng và vận chuyển từ vùng nuôi đến nhà máy chế biến.
Một trong những điểm cơ bản khi triển khai chương trình này là FSIS sẽ thực
hiện kiểm tra 100% các lô hàng thay vì kiểm tra xác suất như trước đây. Nếu phát hiện
ra lô hàng của doanh nghiệp nào vi phạm về an toàn thực phẩm, họ sẽ lập tức bắt buộc
100% các lô hàng sau của doanh nghiệp đó phải lấy mẫu phân tích trên 85 chỉ tiêu về
kháng sinh và 106 chỉ tiêu về thuốc bảo vệ thực vật. Cho đến khi doanh nghiệp triển
khai biện pháp khắc phục, được cơ quan có thẩm quyền trong nước chứng nhận, phía
Mỹ mới xem xét thẩm tra để gỡ bỏ chế độ kiểm tra 100% cho doanh nghiệp vi phạm.
Những chỉ tiêu này được đánh giá khá khắt khe đối với những doanh nghiệp xuất khẩu
cá tra, cá basa của Việt Nam.
3.3.2. Nhận định của Việt Nam
Ngày 14 tháng 3 năm 2016, Chính phủ Việt Nam đã gửi bản bình luận đối với
Đạo luật nêu trên tới WTO và đề nghị được công bố bản bình luận này tới các nước
thành viên khác.
Tại bản bình luận, Việt Nam đã đưa ra các quan điểm về việc quy định mới đối
chương trình giám sát cá da trơn không được xây dựng dựa trên các căn cứ khoa học,
chưa tính đến yếu tố thương mại đồng thời có thể không phù hợp với các quy định của
WTO,28 cụ thể:

28 Truy cập tại: http://www.vca.gov.vn/pvtm/NewsDetail.aspx?ID=3251&CateID=523, (truy cập ngày
2/9/2017).

(1) Chương trình Giám sát cá da trơn của USDA được thiết lập trên nền tảng nhằm đáp
ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Mỹ, tuy nhiên điều này lại không dựa trên
một căn cứ khoa học và không tính đến các dữ kiện sau đây:
-

Cá da trơn là loại cá duy nhất mà trách nhiệm giám sát được chuyển giao cho

USDA, trong khi các loại cá và hải sản khác vẫn thuộc trách nhiệm giám sát của FDA;
-

USDA đã công bố một bản đánh giá nguy cơ vào tháng 7 năm 2012 theo đó xác

định rằng nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm bởi cá da trơn là rất thấp. Ngoài ra, bản báo
cáo của Văn phòng giải trình Chính phủ năm 2012 cũng đã xác nhận trước Quốc hội
Mỹ rằng cá da trơn là một “thực phẩm có nguy cơ thấp”. Theo kết luận từ các bản báo
cáo trên, có thể nhận thấy không có cơ sở khoa học để giải thích cho việc loại bỏ
chương trình giám sát cá da trơn khỏi hệ thống quản lý của FDA đối với các sản phẩm
thủy sản.
-

Trên thế giới, các quy định riêng biệt liên quan đến sức khỏe đã được thiết lập

cho động vật trên cạn, dưới nước và động vật trên cạn được xác định là nhiều nguy cơ
ảnh hưởng đến vấn đề an toàn thực phẩm hơn. Như vậy, khi đặt cá da trơn dưới chế độ
dành cho động vật trên cạn, không giống với bất kỳ sản phẩm thủy sản nào khác, Mỹ
đã không chứng minh được cá da trơn gây ra sự tăng nguy cơ về an toàn thực phẩm;
-

Cho tới nay vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng cụ thể nào chứng minh rằng cá da

trơn nhập khẩu và sản xuất nội địa mang lại nguy cơ về an toàn thực phẩm cao hơn các
loài hải sản khác mà trách nhiệm giám sát phải được chuyển giao cho USDA – cơ
quan chỉ quản lý về thịt, gia cầm và trứng;
-

Trong quá trình xây dựng quy định đạo luật về giám sát cá da trơn mới, Mỹ chưa

thực hiện việc xem xét một cách hợp lệ các vấn đề về thương mại hiện có của cá da
trơn và các sản phẩm cá da trơn Việt Nam với các quốc gia khác. Việt Nam đã xuất
khẩu cá da trơn sang Mỹ trong vòng 20 năm qua và chưa có bất kỳ vấn đề gì liên quan
đến an toàn đối với sản phẩm này.
-

Trong quá trình thực hiện một biện pháp mới như quy định về giám sát cá da

trơn, theo thông lệ các nước phát triển sẽ cấp cho các quốc gia đang phát triển một
khoảng thời gian chuyển đổi lên tới 5 năm. Tuy nhiên, đối với đạo luật mới này, Mỹ
chỉ cấp cho Việt Nam khoảng 18 tháng để tuân thủ.

(i)

Việt Nam tái khẳng định mối quan ngại sâu sắc rằng đạo luật mới về việc giám sát cá
da trơn của Mỹ có khả năng vi phạm Hiệp định SPS của WTO, cụ thể:
-

Đạo luật mới về giám sát cá da trơn có thể vi phạm Điều 2.2 (Quyền và Nghĩa vụ

cơ bản), theo đó yêu cầu rằng bất kỳ biện pháp vệ sinh dịch tễ nào cũng chỉ được áp
dụng trong phạm vi cần thiết để bảo vệ đời sống hoặc sức khoẻ của con người, động
vật hoặc thực vật; phải dựa trên các nguyên tắc khoa học, và không được duy trì khi
không có bằng chứng khoa học đầy đủ.
-

Đạo luật mới về giám sát cá da trơn cũng có thể vi phạm Điều 3.1 và 3.3 (Hài hoà

hoá), của Hiệp định SPS, theo đó yêu cầu các biện pháp vệ sinh dịch tễ phải dựa trên
các chuẩn mực, hướng dẫn hoặc khuyến nghị quốc tế. Để có thể áp dụng bất kỳ mức
độ cao hơn nào trong việc bảo đảm an toàn vệ sinh dịch tễ mà Mỹ cho là thích hợp với
cá da trơn và các sản phẩm từ cá da trơn cần phải có sự chứng minh của khoa học.
-

Ngoài ra, Đạo luật mới về giám sát cá da trơn có thể vi phạm Điều 5.1 và 5.6

(Đánh giá nguy cơ và Xác định mức độ phù hợp của bảo đảm an toàn vệ sinh dịch tễ),
theo đó yêu cầu các biện pháp vệ sinh dịch tễ phải dựa trên đánh giá nguy cơ phù hợp
với hoàn cảnh và không được hạn chế thương mại nhiều hơn mức cần thiết để đạt được
sự bảo vệ phù hợp;
-

Thêm vào đó, Việt Nam hiện được coi là nước đang phát triển. Điều 10 (Đối xử

Đặc biệt và Khác biệt) yêu cầu phải tính tới những nhu cầu đặc biệt của các nước đang
phát triển trong việc chuẩn bị và áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ, cho phép các
nước đang phát triển có thời gian làm quen dần dần với biện pháp mới và có khung
thời gian dài hơn để tuân thủ.
3.3.3. Một số ý kiến về Chương trình giám sát cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ
Có nhận định cho rằng: rất khó có khả năng các cơ quan quản lý của Mỹ mắc lỗi
khi soạn ra các quy định cụ thể (của Farm Bill), cũng như các tiêu chuẩn và thủ tục
khiến bị bắt lỗi dựa trên các thỏa thuận trong WTO. Các tiêu chuẩn, quy định và việc
thanh tra này cũng sẽ được áp dụng chung cho nông dân nuôi cá da trơn tại Mỹ, do đó
khó có thể dựa trên các hiệp định trong WTO để chứng minh quy định mới của Mỹ
phân biệt đối xử đối với các nước khác, đặc biệt khi các tiêu chuẩn của Mỹ dựa trên
khoa học và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Một nhận định khác cho rằng: Chương trình thanh tra cá da trơn được xây dựng
trên quy định của Farm Bill 2008 hoàn toàn có thể được xem là biện pháp vệ sinh dịch
tễ theo quy định của Hiệp định về biện pháp vệ sinh dịch tễ (Hiệp định SPS) của
WTO. Nếu được xem là biện pháp SPS, Mỹ sẽ cần phải đáp ứng các điều kiện theo
quy định của Hiệp định SPS để có thể áp dụng chương trình thanh tra cá da trơn:
-

Mỹ phải chứng minh được rằng việc áp dụng chương trình này là cần thiết để bảo

vệ sức khỏe người tiêu dùng dựa trên chứng cứ khoa học đầy đủ. Tuy vậy, vào thời
điểm năm 2008, khi Đạo luật Farm Bill 2008 được thông qua, không có một nghiên
cứu khoa học hay đánh giá rủi ro nào cho thấy cá da trơn có nguy cơ tiềm ẩn ảnh
hưởng đến sức khỏe con người. Đến năm 2010, hai năm sau khi Đạo luật Farm Bill
được thông qua, FSIS mới thực hiện báo cáo đánh giá rủi ro nhằm rộng đường để thi
hành Đạo luật Farm Bill. Tuy nhiên, việc làm này của FSIS có thể được xem là gượng
ép làm việc đã rồi. Như vậy, tính khách quan của các đánh giá trong báo cáo năm 2010
hoàn toàn có thể bị nghi ngờ.
-

Mỹ cũng phải chứng minh mối quan hệ căn nguyên giữa biện pháp SPS áp dụng

và chứng cứ khoa học. Nghĩa là việc đưa vào biện pháp này phải xuất phát từ quan
ngại về ảnh hưởng của cá tra tới sức khỏe người tiêu dùng và từ đó tiến hành các
nghiên cứu khoa học để làm sáng tỏ vấn đề và làm cơ sở để áp dụng SPS. 29
Hơn nữa, Mỹ đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoàn toàn nhập khẩu cá tra từ
Việt Nam, bắt đầu bằng quy định về nhãn hiệu năm 2002 (quy định chỉ có cá da trơn
nuôi tại Mỹ mới được sử dụng tên “catfish”) và sau đó là việc áp thuế chống bán phá
giá. Việc áp dụng chương trình thanh tra cá da trơn có thể được xem như là biện pháp
bảo hộ ngành công nghiệp Mỹ, thay vì là biện pháp để bảo vệ sức khỏe người tiêu
dùng nước này.
Mặc dù vẫn còn những quan điểm khác nhau, trên thực tế Đạo luật này và
Chương trình giám sát cá da trơn do FSIS vẫn được áp dụng đối với các sản phẩm cá
tra và cá basa của Việt Nam từ 1/9/2017.

29 Truy cập tại: http://www.thesaigontimes.vn/139914/De-ca-tra-ba-sa-di-My-Doanh-nghiep-khong-the-ngoicho.html, (truy cập ngày 2/9/2017).