Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH SPS

CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH SPS

Tải bản đầy đủ

qua sau vòng đàm phán Uruguay và trước khi thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Ban Hội thẩm căn cứ vào các quyết định trước đó, quy định rằng nếu các hiệp
định cụ thể không nêu rõ chỉ áp dụng đối với một số biện pháp nhất định thì phạm vi
điều chỉnh của Hiệp định không thay đổi.
2.1.2. Mối quan hệ giữa SPS và GATT 1994
Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật (SPS) có hiệu lực kể từ
ngày thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), 1/1/1995. Hiệp định về Các biện
pháp Kiểm dịch động thực vật bổ sung điều khoản XX(b), 3 Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại năm 1994 (GATT 1994). Theo điều khoản XX, các thành viên
WTO có thể sử dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ của con
người và động, thực vật với điều kiện các biện pháp đó không được áp dụng một cách
tùy tiện và phân biệt đối xử giữa các nước có cùng điều kiện.
Có thể nói SPS là văn bản quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ hơn nội dung đã
được nhắc đến trong GATT.
Điều 2.4 của Hiệp định quy định: “Các biện pháp bảo đảm vệ sinh động thực vật
phù hợp với các quy định liên quan của Hiệp định này sẽ được thừa nhận là đúng theo
các nghĩa vụ của các thành viên phù hợp theo Hiệp định GATT 1994 liên quan đến
việc sử dụng các biện pháp vệ sinh động thực vật, đặc biệt các quy định tại điều
XX(b)”. Đồng thời Điều 3.2 cũng quy định cụ thể rằng các biện pháp kiểm dịch động
thực vật phải tuân theo những tiêu chuẩn, chỉ dẫn, khuyến nghị quốc tế cần thiết và hài
hoà với các điều khoản khác trong Hiệp định SPS cũng như các điều khoản liên quan
trong GATT 1994 để bảo vệ sức khoẻ, đời sống của con người và động, thực vật.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là trong trường hợp một số quy định của SPS xung đột
với một số quy tắc trong GATT thì áp dụng luật nào. Ghi chú diễn giải về phụ lục 1A
của Hiệp định Marrakesh cho thấy: Trong trường hợp có xung đột giữa quy định của
Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 hoặc quy định của một hiệp định

3Điều XX(b): “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân
biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với
thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi
hành hay áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực
vật”

khác trong Phụ lục 1A này với Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới thì
quy định của hiệp định khác sẽ được áp dụng để giải quyết xung đột. Có thể hiểu điều
này như một ví dụ của nguyên tắc Lex specialis (luật chuyên ngành ưu tiên áp dụng
hơn so với luật chung). Do SPS là hiệp định cụ thể chi tiết hơn về vấn đề vệ sinh dịch
tễ đã được đề cập trong GATT 1947, do đó khi có mâu thuẫn giữa hai Hiệp định, SPS
sẽ có khả năng được áp dụng cao hơn GATT.
2.1.3. Chủ thể chịu sự điều chỉnh của Hiệp định SPS
Theo Điều 13 của Hiệp định SPS về thi hành, các thành viên cuả WTO có trách
nhiệm trong việc tuân thủ tất cả các nghĩa vụ đặt ra trong Hiệp định mà đại diện là các
chính phủ.
Ngoài ra, các thành viên không được áp dụng các biện pháp có ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đề nghị hay khuyến khích các các tổ chức phi chính phủ cũng như
các tổ chức khu vực là thành viên hoạt động theo phương thức không phù hợp với các
quy đinh của Hiệp định SPS.
2.2.

Một số quy định cơ bản
Hiệp định SPS không quy định bất cứ một biện pháp nào cụ thể. Hiệp định quy

định các yêu cầu thủ tục chung áp dụng khi thiết lập tiêu chuẩn. Khung này nhằm đảm
bảo bất kỳ biện pháp Kiểm dịch động thực vật nào được áp dụng đều có cơ sở khoa
học và bảo vệ trước nguy cơ gây hại đến sức khoẻ và không phải là rào cản phi thuế
trá hình đối với thương mại.4
Hiệp định SPS ghi nhận thực tế là các thành viên WTO có thể duy trì các mức độ
bảo vệ khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là giảm thiểu các khác biệt này bằng
cách thúc giục các thành viên WTO áp dụng tiêu chuẩn có cơ sở khoa học.
Hiệp định SPS quy định các nước thành viên khi ban hành và áp dụng các biện
pháp SPS phải tuân thủ các nguyên tắc sau:5

4 Xem: http://agro.gov.vn/images/2007/05/cac%20khia%20canh%20phap%20ly%20cua%20hiep%20dinh
%20sps.pdf > Tr. 4
5 Điều 2.2, Hiệp định SPS

(1)

Chỉ được áp dụng ở mức cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ

con người, động vật, thực vật và phải căn cứ vào các nguyên tắc khoa học (trừ một
số ngoại lệ, ví dụ dịch bệnh khẩn cấp);
(2)

Không tạo ra sự phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không có

căn cứ hoặc gây ra cản trở trá hình đối với thương mại;
(3)

Phải dựa vào các tiêu chuẩn, hướng dẫn, khuyến nghị quốc tế (nếu

(4)

Khuyến khích việc hài hoà hoá các biện pháp SPS giữa các nước.

có);

Theo đó, một biện pháp SPS không tuân thủ một trong các nguyên tắc trên có thể
vi phạm quy định WTO và có thể bị buộc phải huỷ bỏ.
2.2.1. Chỉ được áp dụng ở mức cần thiết
Hiệp định SPS quy định, việc áp dụng cần tuân thủ nguyên tắc áp dụng ở “mức
cần thiết” để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật, thực vật. Tuy
nhiên, việc quy định áp dụng theo “mức cần thiết” cho thấy việc đánh giá là không rõ
ràng, bởi vì mức độ cần thiết sẽ tùy thuộc vào mỗi quốc gia khác nhau. Do đó, quan
điểm chung là tất cả các biện pháp SPS mà các nước áp dụng được hiểu là đương
nhiên ở mức cần thiết.6 Điều đó có nghĩa là, theo nguyên tắc này, việc căn cứ sẽ dựa
vào tiêu chí thứ hai “dựa trên các căn cứ khoa học” để xác định một biện pháp SPS là
cần thiết hay vượt quá mức cần thiết để bảo vệ sức khoẻ hoặc cuộc sống của con
người, động thực vật.
2.2.2. Phải dựa trên căn cứ khoa học
Để xem xét một biện pháp SPS có căn cứ vào các nguyên tắc khoa học hay
không sẽ được đánh giá dựa trên tiến hành hai (2) “phép thử” sau:
(1)

Phân tích rủi ro (dùng phương pháp khoa học để xác định sự tồn tại rủi

ro cho người, động thực vật của hàng hoá và khả năng xảy ra rủi ro); và

6 Ban pháp chế Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam - VCCI, Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam
kết gia nhập của Việt Nam - Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS).

(2)

Kiểm soát rủi ro (lựa chọn chính sách bảo vệ con người, động thực vật

khỏi rủi ro và biện pháp SPS tương ứng trên cơ sở kết quả phân tích rủi ro và hoàn
cảnh xã hội cụ thể, ví dụ thói quen hay khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng).
Thực tế, nếu một biện pháp SPS được xây dựng bởi một lý thuyết khoa học đáng
tin cậy thì được xem như thoả mãn yêu cầu. Ngoài ra, nếu biện pháp đó được áp dụng
để bảo vệ sức khoẻ, cuộc sống của con người, động thực vật khỏi các nguy cơ/mối
nguy hiểm càng cao thì sẽ có nhiều khả năng được thừa nhận là “có đủ bằng chứng
khoa học” (dù là trên thực tế giả thiết khoa học liên quan chưa hẳn đã thật chắc chắn). 7
Trên thực tế có những trường hợp khẩn cấp về vệ sinh dịch tễ mà một nước
không thể chờ cho đến khi có những căn cứ khoa học đầy đủ hay các kết quả phân tích
rủi ro rõ ràng để có thể tiến hành các biện pháp ngăn chặn cần thiết, bởi nếu chậm có
thể sẽ là quá muộn. Ví dụ, để ngăn chặn bệnh dịch SARS hay cúm H5N1, người ta có
thể tiến hành các biện pháp ngăn chặn tại biên giới ngay từ lúc chưa xác định được đầy
đủ và chính xác virus liên quan, cách thức lây nhiễm cũng như hệ quả trực tiếp đến sức
khỏe.
Hiệp định SPS thừa nhận các trường hợp này tại Điều 5.7 và theo đó, cho phép
các nước thành viên được “phòng tránh sớm”8 bằng những biện pháp SPS tạm thời,
không phải đáp ứng các điều kiện về căn cứ khoa học như bình thường.
Mặc dù các thành viên WTO có mức độ linh hoạt nhất định liên quan đến các
biện pháp kiểm dịch động thực vật, Điều 2 Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch
động thực vật quy định các biện pháp không dựa trên căn cứ khoa học không có giá trị.
Đây là điều khoản trọng tâm của Hiệp định SPS. Ví dụ, thậm chí các thành viên WTO
đặt ra tiêu chuẩn “nguy cơ bằng 0” thì các biện pháp đó vẫn cần có căn cứ khoa học.
Điều 5.7 quy định một ngoại lệ duy nhất, đó là nguyên tắc phòng bị tạm thời là
một phần của Hiệp định. Theo Điều 5.7, trong trường hợp thông tin khoa học không
đầy đủ, một thành viên có thể tạm thời áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật
7 Ban pháp chế Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam - VCCI, Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam
kết gia nhập của Việt Nam - Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS).
8 Hay được đề cập là Nguyên tắc phòng bị tạm thời (precautionary principle). Nguyên tắc này là một trong
những nguyên tắc được thừa nhận chung trong tập quán Thương mại Quốc tế trong lĩnh vực môi trường (Xem
Công ước London 1972 về môi trường). Tuy nheien, cần lưu ý rằng, Mỹ không coi đây là một nguyên tắc và chỉ
xem nó như là một cách tiếp cận.

nếu có đủ thông tin phù hợp (...). Trong những trường hợp như vậy, các thành viên
phải tìm kiếm thêm thông tin cần thiết để đánh giá nguy cơ khách quan hơn và trên cơ
sở đó rà soát biện pháp kiểm dịch động thực vật trong thời gian thích hợp.
Trong trường hợp áp dụng biện pháp SPS tạm thời, nước đó cần đáp ứng:9
(1)

Áp dụng trong các trường hợp mà “các thông tin khoa học liên quan

chưa đầy đủ”;
(2)

Phải được xây dựng “trên cơ sở các thông tin đáng tin cậy sẵn có”;

(3)

Nước áp dụng phải nỗ lực “tìm kiếm các thông tin bổ sung cần thiết để

có đánh giá rủi ro khách quan hơn”;
(4)

Phải được xem xét lại “sau một khoảng thời gian hợp lý”.

2.2.3. Áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử
Hiệp định SPS quy định:
Với mục tiêu nhất quán trong việc áp dụng khái niệm mức bảo vệ động - thực vật
phù hợp chống lại các rủi ro đối với cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật
hoặc thực vật, mỗi Thành viên sẽ tránh sự phân biệt tuỳ tiện hoặc vô căn cứ về mức
bảo vệ được xem là tương ứng trong những trường hợp khác, nếu sự phân biệt đó dẫn
đến sự phân biệt đối xử hoặc hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Các thành
viên sẽ hợp tác tại Uỷ ban nêu tại các đoạn 1, 2 và 3 của điều 12 để định ra hướng
dẫn giúp đưa điều khoản này vào thực tế. Trong khi định ra những hướng dẫn đó, Uỷ
ban sẽ xem xét mọi yếu tố liên quan, kể cả tính chất đặc biệt của các rủi ro về sức
khoẻ con người mà người ta có thể tự mắc vào. (Điều 5.5 Hiệp định SPS).
Nguyên tắc không phân biệt đối xử (giữa hàng hoá nhập khẩu từ các nguồn khác
nhau với nhau, giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa) là một nguyên tắc trụ cột của
WTO. Đối với trường hợp các biện pháp SPS, nguyên tắc này vẫn áp dụng nhưng có
giới hạn.
Cụ thể, Hiệp định SPS không cấm các biện pháp SPS phân biệt đối xử mà chỉ
cấm các biện pháp SPS phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không có căn cứ. Nói
9 Điều 5.7, Hiệp định SPS

cách khác, nếu một nước có lý do để áp dụng các biện pháp SPS khắt khe hơn đối với
hàng hoá nhập khẩu đến từ một khu vực nhất định so với hàng hoá đến từ các khu vực
khác hoặc hàng hoá trong nước (ví dụ, khu vực đó đang có dịch bệnh nguy hiểm) thì
vẫn được chấp nhận theo Hiệp định SPS.
Theo Điều 5.5 Hiệp định SPS, việc phân biệt đối xử giữa các sản phẩm hay các
tình huống tương tự khi đánh giá nguy cơ là bị cấm. Các thành viên WTO có nghĩa vụ
tránh áp các mức bảo hộ khác biệt một cách độc đoán, không có cơ sở và phân biệt đối
xử hay chính là biện pháp trá hình gây cản trở đối với thương mại quốc tế. Quy định
này cấm các thành viên WTO áp dụng các mức bảo hộ khác nhau cho từng sản phẩm
khác nhau mà trên thực tế đều gây hại đến sức khoẻ như nhau. Trong các quy định
khác của GATT về phân biệt đối xử đều lấy căn cứ là xuất xứ của sản phẩm, do đó
không thể phân biệt đối xử. Điều 5.5 yêu cầu đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nhập
khẩu và sản xuất trong nước.
Trong vụ tranh chấp Hóc môn của Uỷ ban Châu Âu,10 Ban Hội thẩm đã thông
qua phương pháp kiểm nghiệm gồm ba phần, trong đó liệt kê ba trường hợp vi phạm
Điều 5.5: (1) các thành viên WTO phải áp dụng các mức bảo hộ liên quan sức khoẻ
động vật phù hợp tuỳ theo từng trường hợp; (2) các biện pháp đó không có sự khác
biệt một cách độc đoán và không giải thích được; và (3) các biện pháp phân biệt đối xử
hay là biện pháp bảo hộ trá hình gây cản trở đối với thương mại quốc tế.
Trong tranh chấp trên, Cơ quan Phúc thẩm chấp nhận phương pháp thử nghiệm
này là phù hợp, nhưng thừa nhận rằng các chính phủ thường xuyên thiết lập các biện
pháp như vậy trong thời gian ngắn, bám vào thuật ngữ “các tình huống khác nhau” với
cách hiểu khá rộng. Cơ quan Phúc thẩm phán xét rằng khi áp dụng các mức bảo hộ
khác nhau trong các tình huống khác nhau thì phải có một hoặc nhiều nhân tố chung
để có thể so sánh được”, khi đó coi như đã qua bước một trong phương pháp thử
nghiệm. Nếu sản phẩm đó hoàn toàn khác biệt thì được coi là hoàn tất bước thử
nghiệm. Quy định này là một sự tương phản đối với quy định về “sản phẩm cùng loại”
trong GATT.

10 Tranh chấp số WT/DS26/AB/R và WT/DS28/AB/R về các biện pháp của Liêm minh châu Âu về thịt và các sản phẩm thịt (Hooc-mon).
Chi tiết vụ tranh chấp truy cập: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds26_e.htm

Một câu hỏi khác nảy sinh là liệu việc vi phạm Điều 5.1 có bị coi là vi phạm
Điều 5.5 hay không. Cơ quan Phúc thẩm trong vụ kiện cá hồi 11 là một minh chứng cho
luận điểm này. Cơ quan này phát hiện rằng một biện pháp SPS không dựa trên cơ sở
đánh giá rủi ro chắc chắn (hoặc là vì không đánh giá rủi ro, hoặc vì đánh giá chưa hiệu
quả) là một “ví dụ điển hình” cho việc biện pháp SPS không nhằm mục tiêu bảo vệ
động thực vật mà là một biện pháp hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Cơ
quan Phúc thẩm viết “do đó, chúng tôi coi việc một biện pháp không đồng bộ với Điều
5.1 là một dấu hiệu cảnh báo thích hợp về sự “hạn chế trá hình đối với thương mại
quốc tế”.
Cuối cùng, phải có mối quan hệ hợp lý giữa biện pháp SPS và đánh giá rủi ro. Cơ
quan Phúc thẩm trong vụ tranh chấp hóc môn EC lại cho rằng các thành viên WTO có
thể đưa ra các biện pháp SPS dựa trên việc đánh giá rủi ro và thỏa mãn các điều khoản
được đưa ra tại Điều 5. Một khi đạt được các điều khoản của Điều 5 (cũng như những
điều khoản khác của Hiệp định SPS), các thành viên WTO có thể xây dựng các biện
pháp SPS căn cứ vào những quan điểm khoa học chưa được phổ cập hoặc mang tính
thiểu số.
Khi bắt đầu các thủ tục, Ban hội thẩm về vụ tranh chấp hóoc môn EC quyết định
rằng các thành viên WTO không phải đệ trình bằng chứng rằng họ đã tiến hành đánh
giá rủi ro cụ thể khi thực hiện hoặc bảo lưu một biện pháp để chứng tỏ biện pháp này
được xem xét “dựa trên” việc đánh giá rủi ro. Điều này có thể khiến cho một số bình
luận gia băn khoăn về tính khả thi của một hệ thống cho phép đánh giá rủi ro về một
biện pháp SPS dựa trên việc “hồi tưởng lại quá khứ”. Có thể hình dung rằng các thành
viên WTO chỉ có thể dựa trên những thông tin sẵn có tại thời điểm giải quyết tranh
chấp thay vì các bằng chứng sẵn có tại thời điểm biện pháp được thực thi.
Trong cuộc họp ngày 21 và 22 tháng 6 năm 2000, Ủy ban SPS47 đã đưa ra và
thông qua tài liệu “Hướng dẫn việc xúc tiến thực hiện trên thực tế Điều 5.5”. Những
hướng dẫn này nhằm giúp cho các thành viên WTO tuân thủ các nghĩa vụ của mình
theo Điều 5.5 của Hiệp định SPS. Những hướng dẫn này không làm tăng thêm hay
11 Tranh chấp số WT/DS18/AB/R của Úc về các biện pháp nhập khẩu cá hồi. Chi tiết vụ tranh chấp truy cập:
https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds18_e.htm

giảm đi những quyền hoặc nghĩa vụ đang tồn tại the Hiệp định SPS hoặc thực hiện
chức năng làm sáng tỏ Điều 5.5. Mục tiêu của những hướng dẫn rất đơn giản là tư vấn
cho các thành viên WTO về việc áp dụng khái niệm mức độ bảo hộ hợp lý và thực thi
trên thực tế khái niệm này.
2.2.4. Dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế
Theo quy định tại Điều 3 Hiệp định SPS, các nước thành viên WTO có nghĩa vụ
bảo đảm các biện pháp SPS mà họ áp dụng là “dựa trên các tiêu chuẩn, khuyến nghị,
hướng dẫn quốc tế” nếu đã có các tiêu chuẩn, khuyến nghị hay hướng dẫn liên quan
của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế nhất định.
Tuy nhiên, mặc dù Hiệp định SPS đề cập đến “tiêu chuẩn quốc tế”, nhưng trong
toàn hiệp định không có định nghĩa nào xác định khi nào một tiêu chuẩn được coi là
tiêu chuẩn quốc tế. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc đạt được thống nhất hoàn
toàn về mặt khoa học nên Điều 3 Hiệp định SPS chỉ khuyến khích các thành viên
WTO hài hòa hoá các biện pháp của mình bằng cách tuân theo các tiêu chuẩn, chỉ dẫn
và khuyến nghị quốc tế (nếu có).
Nhiều tổ chức quốc tế xây dựng các tiêu chuẩn về các biện pháp kiểm dịch động
thực vật. Ba tiêu chuẩn đề cập đến trong văn bản Hiệp định về Các biện pháp Kiểm
dịch động thực vật: (1) trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Codex Alimentarius
Commission - Codex, thành lập năm 1963 và do Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
(FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quản lý;12 (2) trong lĩnh vực tiêu chuẩn sức
khoẻ động vật, OIE, thành lập năm 1924, tổ chức kết hợp nghiên cứu về giám sát và
kiểm soát các bệnh của động vật ở cấp độ quốc tế và nhằm hài hòa hoà các tiêu chuẩn
về buôn bán động vật và các sản phẩm từ động vật; 13 (3) về sức khoẻ thực vật, một tổ
chức khác thuộc Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc, đó là Công ước Bảo vệ Thực
vật (IPPC).14 Tuy nhiên, danh sách này được nhận định là chưa đầy đủ.
12 Xem trang web của Codex: http://www.codexalimentatius.net; “tư cách thành viên của Codex” hay “danh
sách các điểm liên lạc”
13 Xem trang web của Tổ chức Nông lương quốc tế OIE: http://www.oie.int.

14 Xem tại: http://www.fao.org, “Nông nghiệp”, “Phòng Gieo trồng và Bảo vệ Thực vật”; “Phòng Bảo vệ Thực
vật quốc tế”

Điều 3.2 Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật quy định cụ thể
rằng các biện pháp kiểm dịch động thực vật phải tuân theo những tiêu chuẩn, chỉ dẫn,
khuyến nghị quốc tế cần thiết và hài hoà với các điều khoản khác trong Hiệp định về
Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật cũng như các điều khoản liên quan trong
GATT 1994 để bảo vệ sức khoẻ, đời sống của con người và động, thực vật. Tuy nhiên,
Cơ quan Phúc thẩm áp dụng điều khoản 3.2 với nghĩa hẹp hơn nhiều trong vụ tranh
chấp hóc môn của EC. Cơ quan Phúc thẩm cho rằng các biện pháp kiểm dịch động
thực vật có thể tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế và thu được ba kết quả khác nhau.
Thứ nhất, các thành viên WTO có thể áp dụng các biện pháp tuân theo tiêu chuẩn
quốc tế. Nếu biện pháp đó phù hợp với tiêu chuẩn thì thành viên WTO có thể tận dụng
giả định, mặc dù có thể bị bác bỏ, quy định tại Điều 3.2 rằng biện pháp đó được coi là
cần thiết, phù hợp với các điều khoản khác trong Hiệp định cũng như GATT 1994 để
bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người, động thực vật.
Thứ hai, thành viên WTO có thể đưa ra các quy định dựa trên các tiêu chuẩn
quốc tế. Việc này không có được giả định phù hợp và có thể bị kiểm tra, có dựa trên cơ
sở khoa học và đánh giá rủi ro hay không. Theo Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm về vụ
tranh chấp hóc môn của EC, nếu biện pháp đó gần sát với tiêu chuẩn quốc tế hiện hành
thì thành viên WTO có thể được thực hiện theo sự giả định này.
Thứ ba, thành viên WTO có thể bỏ qua tiêu chuẩn quốc tế và quyết định mức độ
bảo hộ phù hợp. Trong trường hợp này, rõ ràng là không có giả định về sự phù hợp,
nhưng thành viên WTO có thể không áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế mà không bị coi
là vi phạm Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật nếu nước đó tuân
theo một số nguyên tắc nhất định. Cụ thể, các thành viên WTO cần phải đảm bảo chắc
chắn rằng các biện pháp nghiêm ngặt hơn đó có căn cứ khoa học và dựa trên đánh giá
rủi ro theo quy định tại Điều 5. (Điều 3.3 Hiệp định SPS)
Vấn đề đặt ra ở đây là việc bỏ qua tiêu chuẩn quốc tế đó liệu có phải là trường
hợp ngoại lệ của nguyên tắc chung rằng các thành viên WTO phải áp dụng các biện
pháp dựa trên tiêu chuẩn quốc tế hay liệu đó có phải là quyền lợi của các nước theo
quy định tại Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật. Trong vụ tranh
chấp hóc môn của EC, Cơ quan Phúc thẩm đã bác bỏ kết quả ban đầu rằng việc bỏ qua
đó được xem như một trường hợp ngoại lệ. Cơ quan Phúc thẩm ghi nhận Điều 3.3 là

quyền tự chủ và chỉ rõ lý do là bởi vì các thành viên WTO đều có quyền áp dụng tiêu
chuẩn chặt chẽ hơn, bên khởi kiện phải tìm đủ bằng chứng để có thể chứng tỏ việc đó
là không vi phạm quy định.
Về xác định tiêu chuẩn quốc tế, một số nước đã gợi ý nên cụ thể hoá tiêu chuẩn
quốc tế, đặc biệt là những tiêu chuẩn được coi là nền tảng xây dựng các biện pháp kỹ
thuật và kiểm dịch động thực vật. Chẳng hạn như có thể phân biệt các tiêu chuẩn quốc
tế dựa trên cơ sở đó là biện pháp bắt buộc hay tự nguyện. Tuy nhiên, một câu hỏi được
đặt ra là, việc quy định tiêu chuẩn quốc tế có dựa trên nguyên tắc đồng thuận đa số hay
không?
Các tổ chức quốc tế khác nhau tuân theo thủ tục xây dựng tiêu chuẩn khác nhau.
Hiện tại, có hai tổ chức quốc tế chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn thực phẩm, đó là Tổ
chức quốc tế về Tiêu chuẩn hoá (ISO)15 và Uỷ ban Lương thực Codex.16 Hai tổ chức
này có trình tự xây dựng tiêu chuẩn khác nhau. ISO quy định bỏ phiếu và tất cả các
thành viên ISO có quyền như nhau. Codex quyết định theo nguyên tắc đồng thuận
hoặc bỏ phiếu đa số.
Ví dụ, kinh nghiệm làm việc của Codex trong thời gian qua cho thấy việc thông
qua tiêu chuẩn theo nguyên tắc đồng thuận ngày càng khó khăn.17
Bản thân Uỷ ban Lương thực Codex hay chính xác là Uỷ ban Điều hành của
Codex khẳng định nhu cầu cần phải có tiêu chuẩn mới về lương thực do quá trình quy
hoạch khu vực. Điều đó đặt nền móng cho thủ tục mới, quy định Uỷ ban rà soát các
tiêu chuẩn bao gồm dư lượng hoá chất tối đa (MRLs), quy tắc áp dụng và các chỉ dẫn
khác hai lần, sau đó đến các chính phủ của các quốc gia thành viên, các bên quan tâm
như các nhà sản xuất lương thực, nhà buôn và đại diện người tiêu dùng rà soát thêm
15 Thông tin về Tố chức Tiêu chuẩn quốc tế ISO trên trang web: http://www.iso.ch/iso/.
16 Xem thêm thông tin trên trang web: http://www.codexalimentarius.net.
17 Một vài năm trước, quyết định được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận. Thực tế, một số định nghĩa tiêu
chuẩn quốc tế còn nói rõ rằng đã được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận. Điều này bây giờ không còn đúng
nữa. Một số tổ chức như Codex, ngày càng có nhiều tiêu chuẩn được thông qua theo nguyên tắc đa số thay vì
đồng thuận như trước đây. Mặc dù theo lý thuyết thì khó có thể lập luận phản đối việc áp dụng phương thức đưa
ra quyết định như vậy, nhưng rõ ràng là sẽ dẫn đến trường hợp nhiều tiêu chuẩn quốc tế vẫn được thông qua bất
chấp sự phản đối của số đông các nước. Ví dụ, tiêu chuẩn về nước khoáng vẫn được thông qua với 33 phiếu
thuận và 31 phiếu chống. Điều này có nghĩa là chỉ có 1/5 tổng số thành viên nhưng tiêu chuẩn này vẫn được
thông qua. Điều này cũng giải thích tại sao các cuộc họp về lĩnh vực này chỉ thu hút được số ít thành viên tham
gia.

hai lần nữa trước khi thông qua tiêu chuẩn mới. Trong một số trường hợp, thủ tục tăng
tốc được áp dụng. Thủ tục này cho phép Uỷ ban Codex, các chính phủ và các bên liên
quan chỉ rà soát một lần.
Uỷ ban họp mặt hai năm một lần để thông qua các tiêu chuẩn, chỉ dẫn và quy tắc
áp dụng, đồng thời giao nhiệm vụ cho các cơ quan trực thuộc. Các cơ quan này bao
gồm Uỷ ban Điều phối khu vực, các Uỷ ban Hàng hoá và Uỷ ban về các vấn đề chung.
Cơ quan trực thuộc có nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn, chỉ dẫn và khuyến nghị.
2.2.5. Khuyến khích việc hài hoà hoá các biện pháp SPS giữa các nước.
Mục tiêu hai hòa hóa các biện pháp SPS giữa các nước được quy định tại phần
mở đầu và Điều 3 của Hiệp định SPS.
Nhằm mục đích hài hoà hoá các biện pháp vệ sinh và an toàn thực phẩm trên một
diện rộng nhất có thể, các thành viên được khuyến khích căn cứ các biện pháp của
mình trên các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế nếu chúng đã ban hành.
Tuy nhiên, các thành viên có thể duy trì hoặc đưa ra các biện pháp mà đưa lại kết quả
là các tiêu chuẩn cao hơn nếu có các biện chứng khoa học hoặc như là hệ quả của một
quyết định về rủi ro đồng nhất dựa trên đánh giá rủi ro thích đáng. Hiệp định giải thích
rõ ràng các thủ tục và tiêu chuẩn đối với đánh giá rủi ro và xác định mức độ bảo vệ
phù hợp về vệ sinh động thực vật.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu hài hóa trên là không dễ dàng với thực tế là các
nước phát triển luôn đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe hơn nhiều so với các nước đang
và kém phát triển. Mặt khác, các nước đang và kém phát triển cũng gặp phải khó khăn
từ chính nội tại trong nước về bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa.
2.3.

Các đối xử đặc biệt và khác biệt (S & D)

2.3.1. Định nghĩa S & D
Các đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and differential treatment – S&D) là
những quy định của WTO dành riêng cho các Thành viên đang và kém phát triển, theo
đó, các Thành viên này có thể được miễn hoặc giảm nhẹ việc thực hiện nghĩa vụ cam
kết, thời gian thực hiện dài hơn,… so với các Thành viên khác.