Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG

Tải bản đầy đủ

cùng một loại hàng hoá trong nước nếu các biện pháp này nhằm bảo vệ sức khoẻ con
người, động thực vật.
• SPS trong vòng đàm phán Tokyo: Vòng đàm phán đa phương của GATT ở Tokyo, bắt
đầu năm 1973 và kéo dài cho đến năm 1979, là nỗ lực lớn đầu tiên của GATT để giải
quyết các rào cản thương mại phi thuế quan và thương mại nông nghiệp. Các cuộc
đàm phán thành công trong việc tiếp tục các nỗ lực của GATT nhằm giảm dần thuế.
Nó cũng dẫn đến một loạt các thỏa thuận về các rào cản phi thuế quan và thỏa thuận về
một số sửa đổi và bổ sung một số hệ thống GATT.
Một kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Tokyo là Hiệp định về Hàng rào Kỹ
thuật trong Thương mại (Hiệp định TBT năm 1979 hoặc "Bộ luật Tiêu chuẩn"). Mặc
dù hiệp định này không được xây dựng cụ thể cho mục đích điều chỉnh các biện pháp
kiểm dịch động thực vật (SPS) nhưng nó bao gồm các yêu cầu về kỹ thuật do an toàn
thực phẩm và các biện pháp sức khoẻ vật nuôi và thực vật, bao gồm giới hạn về dư
lượng thuốc trừ sâu, yêu cầu kiểm tra và ghi nhãn. Tuy nhiên, vòng đàm phán Tokyo
đã không dẫn đến những thỏa thuận về những vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến thương
mại nông nghiệp..
• SPS trong vòng đàm phán Uruguay:
Đến những năm 1980 đã có nhiều quan tâm và áp lực mở rộng đàm phán để bao
trùm các rào cản phi thuế quan về nông nghiệp. Quyết định bắt đầu vòng đàm phán
thương mại Vòng đàm phán Uruguay được thực hiện sau nhiều năm tranh luận công
khai, bao gồm cả cuộc tranh luận ở các chính phủ quốc gia. Tuyên bố Punta del Este,
đưa ra Vòng đàm phán Uruguay vào tháng 9 năm 1986, kêu gọi gia tăng kỷ luật trong
ba lĩnh vực trong ngành nông nghiệp: tiếp cận thị trường; trợ cấp trực tiếp và gián tiếp;
và các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật. Về sau, các nhà đàm phán đã cố
gắng để phát triển một hệ thống đa phương cho phép đơn giản hóa và hài hòa hóa các
biện pháp SPS, cũng như loại bỏ tất cả các hạn chế thiếu cơ sở khoa học hợp lệ.
• Văn bản Dunkel
Do phần lớn là do bế tắc đàm phán nông nghiệp, Vòng đàm phán được dự kiến sẽ
kết thúc vào tháng 12 năm 1990 đã được hoãn lại vào tháng 12 năm 1991. Tiếp theo đó

là việc ban hành "Văn bản Dunkel" của Tổng Giám đốc GATT , Arthur Dunkel.
Dunkel bổ sung các điều khoản cho các quy định nghiêm ngặt hơn của quốc gia và loại
trừ các cân nhắc về kinh tế trong bối cảnh đánh giá rủi ro đối với an toàn thực phẩm.
Trong hai năm tiếp, tất cả các cuộc đàm phán vòng đàm phán Uruguay đều gần như
thất bại. Điều này phần lớn do sự khác biệt giữa Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu, bao
gồm các vấn đề trong bản thảo Hiệp định SPS. Vào tháng 11 năm 1992, Hoa Kỳ và
Liên minh châu Âu giải quyết hầu hết những khác biệt của họ trong một thỏa thuận gọi
là "Hiệp định Blair House". Vào tháng 7 năm 1993, các cuộc thương lượng đã được
tiến hành nhưng cho đến ngày 15 tháng 12 năm 1993 mọi vấn đề cuối cùng mới được
giải quyết.
Ngày 15 tháng 4 năm 1994 Bộ trưởng của hầu hết 125 chính phủ tham gia vòng
đàm phán Uruguay gặp tại Marrakesh, Ma-rốc đã ký kết thỏa thuận kết thúc vòng đàm
phán Uruguay. Văn bản cuối cùng của Hiệp định về áp dụng các Biện pháp Vệ sinh và
Kiểm dịch Động thực vật đã được thông qua vào cuối Vòng đàm phán Uruguay phần
lớn dựa trên văn bản của Dunkel và đã hoàn thành các mục tiêu chung được đặt ra
trong Tuyên bố Punta del Este.
• Có hiệu lực
Hiệp định SPS bắt đầu có hiệu lực đối với hầu hết các nước thành viên WTO vào
ngày 1 tháng 1 năm 1995. Theo các điều khoản tại Điều 14 của Hiệp định SPS, các
nước thành viên kém phát triển nhất được trì hoãn thực hiện trong 5 năm. 1
1.2.2. Mục đích ban hành SPS
Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ con người, vật nuôi và động, thực vật, mỗi nước
thành viên WTO đều ban hành một hệ thống các biện pháp SPS tại lãnh thổ nước
mình. Đây là điều là chính đáng và cần thiết.
Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp các biện pháp này đã bị lạm
dụng, gây ra cản trở bất hợp lý cho thương mại quốc tế (ví dụ nước nhập khẩu đặt
điều kiện, tiêu chuẩn SPS quá cao khiến hàng hoá nước ngoài khó có thể thâm nhập thị
trường nội địa).
1 Xem: http://www.fao.org/docrep/003/x7354e/x7354e01.htm#TopOfPage , truy cập vào ngày 2 tháng 9 năm
2017

Việc thông qua Hiệp định SPS là nhằm tạo khung khổ pháp lý chung cho vấn đề
này. Hiệp định đưa các nguyên tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải
tuân thủ khi ban hành và áp dụng các biện pháp SPS.

CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH SPS
2.1.

Nội dung cơ bản

2.1.1. Phạm vi áp dụng của Hiệp định SPS
Hiệp định SPS quy định tất cả các biện pháp kiểm dịch động thực vật hoặc trực
tiếp hoặc gián tiếp tác động đến thương mại quốc tế. Hiệp định quy định bất cứ một
biện pháp nào trước hết phải phục vụ mục đích bảo về cuộc sống, sức khoẻ con người
và động, thực vật, tránh môt số nguy cơ có nguồn gốc từ thực phẩm (ví dụ: vấn đề
dinh dưỡng nằm ngoài phạm vi điều chỉnh) hay tránh nguy cơ sâu bệnh và các bệnh
liên quan. Hiệp định SPS cũng điều chỉnh các biện pháp các nước áp dụng để tránh
nguy cơ lây lan sâu bệnh. Phụ lục A Hiệp định quy định danh sách biện pháp kiểm
dịch động thực vật chưa hoàn chỉnh, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định. Các biện
pháp này bao gồm các luật liên quan, chỉ thị, quy định, yêu cầu và thủ tục, trong đó có
điều kiện thành phẩm, phương pháp sản xuất, chế biến, thử nghiệm, giám định, thủ tục
chứng nhận, thời gian kiểm dịch, cách ly có liên quan đến vận chuyển động, thực vật
(hoặc liên quan đến vật dụng cần thiết để nuôi sống động, thực vật trên đường vận
chuyển); các điều khoản về phương pháp thống kê, thủ tục lấy mẫu và phương pháp
đánh giá rủi ro; yêu cầu về đóng gói và dán nhãn có liên quan trực tiếp đến an toàn
thực phẩm.
Có hai ý kiến xác định phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SPS bắt nguồn từ việc
giải quyết tranh chấp:
Thứ nhất, tách Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật ra khỏi
GATT, bắt nguồn từ vụ tranh chấp Hooc-môn của EC. 2 Ban Hội thẩm cho rằng các
điều khoản thuộc Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật điều chỉnh tất
cả các biện pháp kiểm dịch động thực vật tác động đối với thương mại quốc tế mà
không cần có bằng chứng rằng các biện pháp đó vi phạm GATT.
Thứ hai, đó là nguyên tắc áp dụng tất cả các điều khoản thuộc Hiệp định về Các
biện pháp Kiểm dịch động thực vật đối với cả các biện pháp của các nước được thông
2 Tranh chấp số WT/DS26/AB/R và WT/DS28/AB/R về các biện pháp của Liêm minh châu Âu về thịt và các sản phẩm thịt (Hoocmon). Chi tiết vụ tranh chấp truy cập: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds26_e.htm

qua sau vòng đàm phán Uruguay và trước khi thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Ban Hội thẩm căn cứ vào các quyết định trước đó, quy định rằng nếu các hiệp
định cụ thể không nêu rõ chỉ áp dụng đối với một số biện pháp nhất định thì phạm vi
điều chỉnh của Hiệp định không thay đổi.
2.1.2. Mối quan hệ giữa SPS và GATT 1994
Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật (SPS) có hiệu lực kể từ
ngày thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), 1/1/1995. Hiệp định về Các biện
pháp Kiểm dịch động thực vật bổ sung điều khoản XX(b), 3 Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại năm 1994 (GATT 1994). Theo điều khoản XX, các thành viên
WTO có thể sử dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ của con
người và động, thực vật với điều kiện các biện pháp đó không được áp dụng một cách
tùy tiện và phân biệt đối xử giữa các nước có cùng điều kiện.
Có thể nói SPS là văn bản quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ hơn nội dung đã
được nhắc đến trong GATT.
Điều 2.4 của Hiệp định quy định: “Các biện pháp bảo đảm vệ sinh động thực vật
phù hợp với các quy định liên quan của Hiệp định này sẽ được thừa nhận là đúng theo
các nghĩa vụ của các thành viên phù hợp theo Hiệp định GATT 1994 liên quan đến
việc sử dụng các biện pháp vệ sinh động thực vật, đặc biệt các quy định tại điều
XX(b)”. Đồng thời Điều 3.2 cũng quy định cụ thể rằng các biện pháp kiểm dịch động
thực vật phải tuân theo những tiêu chuẩn, chỉ dẫn, khuyến nghị quốc tế cần thiết và hài
hoà với các điều khoản khác trong Hiệp định SPS cũng như các điều khoản liên quan
trong GATT 1994 để bảo vệ sức khoẻ, đời sống của con người và động, thực vật.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là trong trường hợp một số quy định của SPS xung đột
với một số quy tắc trong GATT thì áp dụng luật nào. Ghi chú diễn giải về phụ lục 1A
của Hiệp định Marrakesh cho thấy: Trong trường hợp có xung đột giữa quy định của
Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 hoặc quy định của một hiệp định

3Điều XX(b): “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân
biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với
thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi
hành hay áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực
vật”