Tải bản đầy đủ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

38

Nhận xét: Nhóm trẻ có mẹ TSG tuổi thai khi sinh trung bình là
36,53±2,42 có sự khác biệt với nhóm trẻ có mẹ bình thường (39,40±0,93). Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Về cân nặng khi sinh nhóm trẻ có mẹ TSG có cân nặng trung bình
2371,05±728,72 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nhóm trẻ
có mẹ bình thường.

Biểu đồ 3.3. Đặc điểm về giới của trẻ
Nhóm trẻ có mẹ bình thường tỷ lệ nam nữ bằng nhau (50%)
Nhóm trẻ có mẹ TSG nam chiếm 42,1%;
57,9% nữ 57,9%

Nhận xét:

50,0%

50,0%

42,1%

Biểu đồ 3.4. Chỉ số Apgar của trẻ 1 phút sau sinh
Nhận xét:
Apgar 96,8%,
Nhóm trẻ có mẹ bình thường Apgar 1 phút sau sinh 8-10 chiếm
96,8%
4-7 chiếm 3,2%.
71,1%
Nhóm trẻ có mẹ TSG Apgar 1 phút sau sinh 8-10 chiếm 71,1%; 4-7
chiếm 26,3%; 1-3 chiếm 2,6%.
26,3%
3.1.2. Một số đặc điểm của mẹ
3,2%

2,6%

Biểu đồ 3.5. Đặc điểm số lần sinh của mẹ
Nhận xét:
57,9%

50,0%
50,0%
Nhóm thai phụ
mang
thai con so mắc TSG trong nhóm nghiên cứu là

42,1%, con dạ là 57,9%.

42,1%

Nhóm thai phụ bình thường mang thai con so hoặc con dạ đều chiếm
tỷ lệ 50%.
Bảng 3.2. Một số đặc điểm lâm sàng của mẹ
Đặc điểm
Tuổi (năm)
Huyết áp tâm thu (mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
38

Thai phụ bình
thường (n=62)
28,95±5,27
110,16±5,87
67,90±6,31

Thai phụ tiền
sản giật (n=38)
30,66±5,43
153,95±14,80
94,61±7,20

p
>0,05
<0,05
<0,05

39

Đặc điểm
Phù (%)
Đau đầu (%)
Nhìn mờ (%)
Hoa mắt, chóng mặt (%)
Đau thượng vị (%)

Thai phụ bình
thường (n=62)
22,6
21,0
0,0
12,9
0,0

Thai phụ tiền
sản giật (n=38)
97,4
44,7
10,5
15,6
0,0

p
<0,05
<0,05
<0,05
>0,05

Nhận xét: Tuổi trung bình của thai phụ TSG là 30,66±5,43 không có sự khác
biệt so với nhóm thai phụ bình thường (p>0,05).
Về đặc điểm huyết áp: nhóm thai phụ TSG lần lượt có chỉ số huyết áp
tâm thu và huyết áp tâm trương trung bình là 153,95±14,80 mmHg và
94,61±7,20 mmHg. Nhóm thai phụ bình thường huyết áp tâm thu trung bình
là 110,16±5,87 mmHg, huyết áp tâm trương trung bình 67,90±6,31 mmHg.
Hai chỉ số này của hai nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Đặc điểm phù: trong nhóm TSG có 97,4% sản phụ có dấu hiệu này
trong khi ở nhóm thai phụ bình thường là 22,6%. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05).
Về đau đầu: có 44,7% thai phụ TSG và 21,0% thai phụ bình thường có
triệu chứng này. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p<0,05).
Nhìn mờ: 10,5% thai phụ TSG có triệu chứng nhìn mờ trong khi không
ghi nhận trường hợp nào của thai phụ bình thường có triệu chứng này.
Hoa mắt, chóng mặt: 15,6% thai phụ TSG và 12,9% thai phụ bình thường
có triệu chứng này. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p>0,05.
Không có trường hợp đau thượng vị nào được ghi nhận trong cả hai
nhóm bình thường và TSG.

39

40

Bảng 3.3. Một số đặc điểm cận lâm sàng của mẹ
Đặc điểm
Protein niệu (g/l)
Hồng cầu (T/L)
Hemoglobin (g/l)
Bạch cầu (G/l)
Tiểu cầu (G/l)
AST (U/l)
ALT (U/l)
Ure (mmol/l)
Creatinin (µmol/l)
Protein máu (g/l)
Acid uric (µmol/l)

Thai phụ bình
thường (n=62)
0,03±0,08
4,23±0,43
121,77±10,01
10,90±2,22
228,23±58,88
19,55±4,01
13,40±5,88
3,11±0,82
58,84±9,04
68,40±3,76
297,64±72,83

Thai phụ tiền
sản giật (n=38)
4,35±5,44
4,45±0,62
123,63±14,83
10,85±3,69
196,32±60,94
32,32±26,60
31,02±43,19
5,60±2,34
75,58±25,96
62,08±5,95
453,69±120,27

p
<0,05
>0,05
>0,05
>0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05

Nhận xét: Về protein niệu: nhóm thai phụ TSG có protein niệu 4,35±5,44 g/l
khác so với nhóm thai phụ bình thường 0,03±0,08 g/l. Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê với p<0,05.
Hồng cầu, bạch cầu và hemoglobin trung bình của nhóm thai phụ TSG
lần lượt là 4,45 T/l; 1,85 G/l và 123,63 g/l. Trong khi đó với nhóm thai phụ
bình thường các chỉ số này lần lượt là 4,23 T/l ; 10,9 G/l và 121,77 g/l. Sự
khác nhau về ba chỉ số này giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05).
Tiểu cầu : nhóm thai phụ TSG số lượng tiểu cầu trung bình là
196,32±60,94 G/l khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm thai phụ bình
thường (228,23±58,88 G/l).
Giá trị trung bình các chỉ số AST và ALT lần lượt ở nhóm thai phụ TSG
là 32,32 U/l và 31,02 U/l. Ở nhóm thai phụ bình thường giá trị trung bình
AST là 19,55 U/l và ALT là 13,40 U/l. Sự khác biệt về hai chỉ số này ở hai
nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

40

41

Giá trị ure, creatin và acid uric máu trung bình của nhóm thai phụ TSG
cao hơn nhóm thai phụ bình thường với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05).
Protein toàn phần trong huyết thanh của nhóm thai phụ TSG có giá trị
trung bình là 62,08±5,95 g/l giảm so với nhóm bình thường (68,40±3,76 g/l).
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
3.2.

Tần suất HLA-C ở trẻ có mẹ bình thường và trẻ có mẹ tiền sản giật
3.2.1. Kết quả chiết tách DNA
Để tiến hành xác định kiểu gen HLA-C của trẻ chúng tôi tiến hành
chiết tách DNA từ bạch cầu máu ngoại vi trong 250µl máu toàn phần chống
đông bằng EDTA theo quy trình của E.Z.N.A.® Blood DNA Mini Kit
(Omega Bio-tek). DNA sau chiết tách được kiểm tra chất lượng và số lượng
bằng đo độ hấp phụ ở bước sóng 260/280nm và điện di trên gel agarose 0,8%.
Kết quả ngẫu nhiên kiểm tra một số mẫu như sau:

41

42

Bảng 3.4. Nồng độ và độ tinh sạch của DNA sau chiết tách
Mẫu số
OD260/280
Nồng độ (μg/ml)
1 (nhóm chứng)
1,92
100,3
2 (nhóm chứng)
1,96
122,5
3 (nhóm TSG)
1,97
120,5
4 (nhóm TSG)
1,88
155,7
5 (nhóm TSG)
1,98
171,8
Nhận xét: Các mẫu DNA thu được đều có giá trị OD260/280 = 1,88 – 1,98
và nồng độ DNA 100,3 – 171,8 ng/µl đảm bảo tiến hành phản ứng PCR.
Mẫu số

1

2

3

4

5

6

7

8

Hình 3.1. Điện di DNA sau chiết tách trong gel agarose 0,8%, hiệu điện thế
100V trong 15 phút
Nhận xét: DNA thu được không bị đứt gãy, đảm bảo tiến hành phản ứng PCR.
3.2.2. Kiểu gen HLA-C của trẻ
Để xác định kiểu gen HLA-C của trẻ chúng tôi tiến hành PCR phát hiện
hai nhóm HLA-C với 2 cặp mồi. Ống số một với cặp mồi C1 để xác định sự
có mặt của HLA-C1. Ống số hai với cặp mồi C2 để xác định sự có mặt của
HLA-C2. Sản phẩm của phản ứng PCR với 2 cặp mồi trên đều có kích thước
614bp. Kiểu gen HLA-C được xác định dựa trên sự có mặt của 2 HLA-C này.
Mẫu

(1)

(2)

Ladder

(3) DNA 100bp

(1)

42
Xác định C1

Xác định C2

(2)

(3)

43

614bp

Mẫu 1
Mẫu 2
Mẫu 3
HLA-C1
(+)
(-)
(+)
HLA-C2
(+)
(+)
(-)
Kiểu gen
C1C2
C2C2
C1C1
Hình 3.2. Điện di sản phẩm PCR gen HLA-C trong gel agarose 1,5%, hiệu
điện thế 100V trong 45 phút
Biểu đồ 3.6. Phân bố kiểu gen HLA-C ở nhóm trẻ có mẹ bình thường (n=68)
Nhận xét: Trong nhóm trẻ có mẹ bình thường kiểu gen HLA C1C1 chiếm tỷ lệ
cao nhất 62,9%, thấp nhất là HLA C2C2 8,1%.
Biểu đồ 3.7. Phân bố kiểu gen HLA-C ở nhóm trẻ có mẹ tiền sản giật (n=38)
Nhận xét: Trong nhóm trẻ có mẹ TSG, kiểu gen HLA C1C1 chiếm tỷ lệ cao
nhất 73,7%, không có trường hợp nào có kiểu gen HLA C2C2, kiểu gen HLA
C1C2 chiếm 26,3%.
Bảng 3.5. Phân bố kiểu gen HLA-C

43

44

Gen
HLA C1C1
HLA C1C2
HLA C2C2

Nhóm trẻ có mẹ Nhóm trẻ có mẹ
bình thường
tiền sản giật
(n=62)
(n=38)
39
18
5

28
10
0

OR

95%CI

0,606 0,249-1,470
1,145 0,463-2,836
0

Nhận xét: Tỷ suất chênh giữa các nhóm mang kiểu gen HLA-C khác nhau, lần
lượt là OR=0,606 (95%CI 0,249-1,470) và OR=1,145 (95%CI 0,463-2,836).
Không thấy mối liên quan giữa kiểu gen HLA-C con và tình trạng TSG của
mẹ.

44

45

Bảng 3.6. Phân bố nhóm HLA-C
Nhóm trẻ
Gen

Mẹ bình thường
(n=62)

Mẹ tiền sản giật
(n=38)

HLA-C1

77,4%

86,8%

HLA-C2

22,6%

13,2%

p

>0,05

Nhận xét: Sự phân bố nhóm HLA-C trong hai nhóm đối tượng nghiên cứu là
tương đương nhau, nhóm C1 chiếm đa số 77,4% ở nhóm chứng và 86,8% ở
nhóm bệnh. Sự khác nhau giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê.

3.3.

Mối liên quan giữa gen HLA-C con với tình trạng tiền
sản giật của mẹ

Bảng 3.7. Mối liên quan giữa HLA-C2 con với một số đặc điểm lâm sàng của mẹ
Đặc điểm

Không

Nhìn mờ
Không
Hoa mắt, Có
chóng mặt Không
Đau đầu

HLA – C2 con
Mẹ bình thường Mẹ TSG
(n=23)
(n=10)
5
4
18
6
0
2
23
8
4
1
19
9

OR (95% CI)
0,417 (0,084-2,078)
0,000
1,895 (0,18419,482)

Nhận xét: Tỷ suất chênh giữa các nhóm có triệu chứng lâm sàng khác nhau
khi mang HLA-C2 không khác biệt. Với triệu chứng đau đầu OR = 0,417 và

45

46

95%CI là 0,084-2,078. Triệu chứng hoa mắt, chóng mặt OR=1,895 và 95%CI
là 0,184-19,482.

46

47

Bảng 3.8. Mối liên quan giữa HLA-C2 con với một số đặc điểm
cận lâm sàng của mẹ
Đặc điểm
Tiểu cầu (G/l)
AST (U/l)
ALT (U/l)
Ure (mmol/l)
Creatinin (µmol/l)
Protein máu (g/l)
Acid uric (µmol/l)

HLA – C2 con
Mẹ bình thường
Mẹ TSG
±SD
±SD
(n = 23)
(n =10)
237,59±76,12
191,30±73,29
20,15±4,08
32,87±18,92
13,69±5,35
29,71±23,55
6,07±2,47
3,08±0,80
60,80±9,37
80,81±29,47
68,71±3,08
63,07±6,88
311,50±80,93
425,61±88,25

p
p>0,05
p>0,05
p>0,05
p<0,05
p<0,05
p<0,05
p<0,05

Nhận xét:
Những thai phụ mắc TSG và mang HLA-C2 có số lượng tiều cẩu trung
bình là 237,59 G/l cao hơn so với nhóm thai phụ bình thường mang HLA-C2.
Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Những thai phụ mắc TSG và mang HLA-C2 có hoạt độ AST và ALT lần
lượt là 32,87 và 29,71 U/l cao hơn so với nhóm thai phụ bình thường mang
HLA-C2 (20,15 và 13,69). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
Nhóm thai phụ mắc TSG và mang HLA-C2 có nồng độ ure và creatinin,
acid uric máu lần lượt là 6,07±2,47 mmol/l; 60,80±9,37 mmol/l và
425,61±88,25 µmol/l cao hơn nhóm thai phụ bình thường mang C2. Sự khác
biệt về 2 chỉ số này giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nồng độ protein máu trong nhóm thai phụ TSG mang HLA-C2 là 63,07
g/l giảm so với nhóm thai phụ bình thường mang HLA-C2 (68,71 g/l). Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa HLA-C2 con với một số đặc điểm của con
Đặc điểm
47

HLA – C2 con

p

48

Tuổi thai khi sinh
(tuần)
Cân nặng khi sinh
(gram)

Trẻ có mẹ bình thường
±SD
(n = 23)

Trẻ có mẹ TSG
±SD
(n =10)

39,39±1,16

36,10±2,77

p<0,05

3167,39±482,33

2330,00±925,62

p<0,05

Nhận xét:
Nhóm trẻ có mẹ mắc TSG và mang HLA-C2 có tuổi thai khi sinh trung
bình là 36,1 và cân nặng khi sinh trung bình là 2330 gram.
Nhóm trẻ có mẹ bình thường và mang HLA-C2 có tuổi thai khi sinh
trung bình là 39,39 và cân nặng khi sinh trung bình là 3167,39 gram.
Giữa hai nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
TSG là một biến chứng nguy hiểm trong thai kỳ, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến cả mẹ và thai. Biểu hiện lâm sàng của TSG rất thay đổi và thường
biểu hiện muộn (sau tuần 20 của thai kỳ) do vậy khó khăn trong việc theo dõi,
điều trị cũng như tiên lượng bệnh. Nhu cầu cần có một công cụ nhanh và
chính xác để hỗ trợ tầm soát TSG là thật sự cần thiết, giúp cho việc điều trị và
điều trị dự phòng trên lâm sàng hiệu quả hơn và cải thiện được tiên lượng của
người mẹ cũng như thai nhi [2], [3]. Cơ chế bệnh sinh của TSG hiện nay được
cho rằng khởi phát bởi sự thiếu hụt xâm lấn nguyên bào nuôi và sửa đổi

48