Tải bản đầy đủ - 28 (trang)
TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

Tải bản đầy đủ - 28trang

- Số lượng bạch cầu bình thường, công thức bạch cầu không

có gì thay đổi

- Ở tuỷ xương: tế bào tuỷ bình thường, riêng mẫu tiểu cầu

tăng, nhất là những mẫu tiểu cầu đang sinh tiểu cầu (nguyên

tiểu cầu, mẫu tiểu cầu kiềm, mẫu tiểu cầu có hạt), điều này

nói lên tiểu cầu bị phá huỷ quá nhiều ở ngoại vi.

- Dấu hiệu dây thắt (+).



- Thời gian máu chảy kéo dài: thường có sự liên quan giữa

thời gian máu chảy với số lượng tiểu cầu trong máu. Do vậy,

thời gian máu chảy trở lại bình thường khi hết xuất huyết,

đồng nghĩa số lượng tiểu cầu đã tăng, tuy nhiên cũng có khi

thời gian máu chảy không tương xứng với mức độ xuất huyết.



- Thời gian co hồi cục máu kéo dài, bình thường sau 2 giờ

nhưng ở bệnh nhân này sau 4 giờ cục máu vẫn chưa co hoàn

toàn, xét nghiệm này rất có giá trị vì tỷ lệ gặp cao (92%).

- Mức độ tiêu thụ Prothrombin giảm, thường giảm <60 giây

(bình thường ≥ 60 giây)

- Đo độ đàn hồi cục máu đồ (TEG), chủ yếu là biên độ âm hẹp

(bình thường là ≥ 54mm), thường là dưới 54mm



- Thời gian Quick và phức hệ Prothrombin bình thường (12

giây và 100%).

- Kháng thể kháng tiểu cầu: bằng phương pháp đặc biệt

người ta phát hiện được kháng thể kháng tiểu cầu. Nếu phát

hiện được kháng thể này càng chắc chắn là xuất huyết tiểu

cầu tự miễn.



6. CHẨN ĐOÁN

6.1. Chẩn đoán phân biệt

Nói chung xuất huyết giảm tiểu cầu về đặc điểm đều giống các

xuất huyết có giảm tiểu cầu khác nên cần phân biệt với :

- Bệnh bạch cầu cấp: xuất huyết trong bệnh bạch cầu cấp cũng

giống như xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn nhưng ngoài xuất

huyết ra các triệu chứng như sốt, gan to, lách, hạch to đều nặng

nề hơn rất nhiều, đương nhiên khi xét nghiệm máu cũng như tuỷ

đều thấy sự thay đổi đặc trưng.



- Bệnh bạch cầu kinh thể tuỷ: trên lâm sàng ngoài xuất huyết

ra ta thấy lách rất to và xét nghiệm thấy bạch cầu tăng rất

cao và tăng tất cả các giai đoạn tăng trưởng của dòng bạch

cầu. Cần thiết làm thêm các xét nghiệm khác như P.A.L và

nhiễm sắc thể Philladelphie.

- Suy tuỷ xương: đây là bệnh khó phân định nhất. Ta phải dựa

vào tuỷ đề. Lưu ý trong suy tuỷ không có sự tăng mẫu tiểu cầu

đang sinh tiểu cầu.



6.2. Chẩn đoán xác định



• Dựa vào đặc tính xuất huyết, cách tiến triển và đặc biệt là



huyết đồ thấy giảm tiểu cầu nhưng tuỷ đồ lại tăng sinh

mẫu tiểu cầu đang sinh tiểu cầu. Chắc chắn hơn ta đi tìm

kháng thể kháng tiểu cầu



6.3. Chẩn đoán thể

Có nhiều cách phân loại thể bệnh dựa vào cách tiến triển ta

có thể phân ra một số thể sau đây:

- Thể ác tính: biểu hiện xuất huyết rầm rộ ở nhiều nơi cùng

một lúc đặc biệt là xuất huyết não, màng não gây tử vong

trong vài tuần mặc dù đã được điều trị.



- Thể cấp tính: bệnh xuất hiện lần đầu và có thể khỏi tự

nhiên trong vòng 1 tháng. Bệnh thường gặp ở trẻ em,

thường xảy ra sau khi uống một loại thuốc gì đó thường là

Sulfamid nên người ta thường nghĩ đến xuất huyết do thuốc.

- Thể bán cấp: bệnh thường tiến triển trong vòng ≥ 3 tháng



- Thể mạn tính: đây là thể hay gặp nhất bệnh tiến triển từng

đợt trong vòng 6 tháng hoặc nhiều năm.

- Thể xuất hiện từng lúc: bệnh xuất hiện từng đợt thời gian

cách nhau ngắn hay dài tuỳ ý nhưng giữa hai đợt số lượng

tiểu cầu và chất lượng trở lại hoàn toàn binh thường.



6.4. Chẩn đoán biến chứng

Thường thì bệnh tiến triển rất phức tạp khó lường trước

nhưng thường có hai biến chứng dẫn đến tử vong đó là:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(28 tr)

×