Tải bản đầy đủ - 95 (trang)
2 Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo mô hìnhCAMELS

2 Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo mô hìnhCAMELS

Tải bản đầy đủ - 95trang

4



-



Capital adequacy (Vốn ngân hàng): Thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động

kinh doanh của ngân hàng.



-



Asset quality (Chất lượng tài sản): Thể hiện hiệu quả và an toàn trong cho vay và

đầu tư.



-



Management (Quản trị): Năng lực quản trị đóng vai trò quyết định đến thành công

của hoạt động ngân hàng. Quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp

đến những yếu tố sau: Mức độ tăng trưởng cũng như chất lượng tài sản có, mức

độ thu nhập,…



-



Earning (Lợi nhuận): Thể hiện kết quả của hoạt động điều hành quản trị và kiểm

soát tốt.



-



Liquidity (Thanh khoản): Khả năng của ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản

bất cứ lúc nào của khách hàng.



-



Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Đo lường

mức độ ảnh hưởng của thay đổi lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận

hay vốn cổ phần.

Mô hình CAMELS đã được áp dụng từ những năm 1970 - là hệ thống xếp hạng,



giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ. Mô hình này dựa trên báo cáo tài chính, nghĩa là

thông qua thanh tra tại chỗ và dựa trên thang điểm từ 1 – 5 để các nhà quản lý đưa ra

đánh giá, xếp hạng ngân hàng.

Tại Việt Nam, đã áp dụng mô hình CAMELS vào việc xếp loại NHTM cổ phần

từ ngày 12/03/2008 thông qua Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN. Theo quyết định

này thì NHNN đã áp dụng cả chỉ tiêu định tính và định lượng để chấm điểm, xếp hạng

NHTM. Có 5 nhóm chỉ tiêu cơ bản: 1. Vốn tự có; 2. Chất lượng tài sản; 3. Năng lực

quản trị; 4. Kết quả hoạt động kinh doanh; 5. Khả năng thanh khoản. Trong đó: chỉ tiêu

1,2,4,5 là chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu 3 là định tính.



5



1.2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo mô hình

CAMELS

1.2.3.1



Vốn ngân hàng



Vốn là điều kiện không thể thiếu để một ngân hàng được thành lập và tiến

hành các hoạt động kinh doanh. Vốn chủ sở hữu (CSH) của NHTM là toàn bộ nguồn

vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các

cổ đông trong ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm hai bộ phận: vốn của chủ sở hữu

ban đầu và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động.

Vốn chủ sở hữu ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà

nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTM nhà nước), do cổ đông góp thông qua

việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các ngân hàng cổ phần). Mức vốn này phải

đảm bảo bằng mức vốn pháp.

Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ sở hữu bổ

sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá

trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ

sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn…

Trên bảng cân đối kế toán của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục

cơ bản: vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, vốn điều lệ là vốn

được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu

và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Các quỹ

gồm: quỹ dự trữ là vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bổ sung vốn điều lệ (ngân

hàng phải trích 5% lợi nhuận ròng để lập quỹ này) và quỹ dự phòng tài chính cũng là

loại vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động

(ngân hàng phải trích 10% trên lợi nhuận ròng cho đến khi bằng vốn pháp định).

Vốn chủ sở hữu có vai trò hấp thụ những khoản lỗ phát sinh không thể dự tính

trước được, củng cố niềm tin cho người gửi tiền và tạo khả năng cho ngân hàng vượt

qua những khó khăn để tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động. Vốn chủ sở hữu càng

lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng áp dụng những chiến lược kinh doanh có mức độ

mạo hiểm cao nhằm thu được lợi nhuận kỳ vọng cao hơn, trong khi đó nếu vốn chủ sở



6



hữu thấp sẽ giảm đi đáng kể tính năng động của ngân hàng. Luật các TCTD quy định

ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn chủ sở hữu đối với một khách hàng, với

mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép cho vay những dự án lớn, từ đó

làm tăng qui mô tín dụng và tăng qui mô tổng tài sản.

Vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một

ngân hàng. Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh

cũng như quy mô hoạt động của NHTM: khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng

tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ. Hệ thống sở

giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các dịch vụ ngân hàng đến

khách hàng. NHTM có mạng lưới rộng sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận được với các

sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thuận tiện hơn, giúp ngân hàng mở rộng và chiếm

lĩnh thị trường, tạo hình ảnh vị thế của ngân hàng. Phần lớn vốn chủ sở hữu là không

sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc,

đầu tư công nghệ. Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh

của ngân hàng.

Vốn chủ sở hữu lớn cho phép ngân hàng thành lập các công ty con và tham gia

hoạt động đầu tư, liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược, hùn vốn vào các công

ty và có thể mua lại các ngân hàng khác theo qui định không được vượt quá 40% vốn

điều lệ và quỹ dự trữ.

Vì vậy, bảo đảm an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt

trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM và được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối

thiểu. Theo quy định của hiệp ước (BASEL), hệ số an toàn vốn (viết tắt là CAR), thể

hiện ở 2 cấp độ:

Tổng số vốn loại 1

(1) Tỷ lệ an toàn vốn

(CAR I)



=



(1.1)

Tổng tài sản có điều chỉnh theo mức độ rủi ro

Tổng số vốn (loại 1 và loại 2)



(2) Tỷ lệ an toàn vốn

(CAR II)



=



(1.2)

Tổng tài sản có điều chỉnh theo mức độ rủi ro



7



-



Ở cấp độ (1) tỷ lệ phải ≥ 4%;



-



Ở cấp độ (2) tỷ lệ phải ≥ 9%



Vốn loại 1 là vốn chủ sở hữu chỉ bao gồm: vốn tự có (vốn góp, vốn được cấp),

lợi nhuận không chia, thu nhập từ công ty con, tài sản vô hình.

Vốn loại 2 là vốn được sử dụng ổn định, bao gồm: các khoản dự phòng tổn thất,

các khoản nợ cho phép chuyển thành vốn chủ sở hữu, nợ thứ cấp (nợ có tính chất dài

hạn).

Thông thường khi nhắc đến hệ số CAR, hệ số này được hiểu là CAR ở cấp độ 2

(ở Việt Nam cũng tính theo CAR ở cấp độ 2, BASEL II). Nếu các ngân hàng có qui mô

vốn nhỏ mà vẫn mở rộng hoạt động của mình đến mức làm cho tỷ lệ an toàn vốn bị

thấp hơn mức tối thiểu 9% thì rủi ro đối với hoạt động của ngân hàng sẽ là rất lớn. Các

cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính thường đòi hỏi vốn ngân hàng phải

phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và những tài sản rủi ro

khác.

Với những ý nghĩa quan trọng đó có thể nói một ngân hàng có mức vốn chủ sở

hữu lớn là yếu tố đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn, đồng thời thể hiện sức

mạnh tài chính của bản thân ngân hàng.

1.2.3.2



Chất lượng tài sản



Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng

các dịch vụ thanh toán. Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản sẽ không chỉ phụ thuộc vào

sự tăng trưởng của tài sản mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của nguồn vốn của

ngân hàng.

Tài sản của ngân hàng bao gồm tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời. Quy

mô, cơ cấu và chất lượng tài sản sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM.

Khi nói đến tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến qui mô của hoạt động tín dụng và

hoạt động đầu tư. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền

vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM.

Qui mô và chất lượng tài sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tốc độ tăng

trưởng của tổng tài sản, tỷ trọng tài sản sinh lời trong tổng tài sản, tính đa dạng hoá



8



trong tài sản, tốc độ tăng trưởng của tổng dư nợ, tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng tài

sản, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

tín dụng, tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán, mức độ rủi ro của các khoản cam kết

ngoại bảng,…

Tuy nhiên, ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và

cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản thì không chỉ phụ

thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của nguồn

vốn.

Qui mô, chất lượng nguồn vốn được thể hiện ở tổng nguồn vốn mà ngân hàng

huy động được với chi phí thấp, tính ổn định cao và có cơ cấu hợp lý, đáp ứng được

yêu cầu về cho vay, đầu tư. Các chỉ tiêu để đánh giá qui mô, chất lượng nguồn vốn

như: tổng nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, thị phần huy

động vốn, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn trên tài sản ngắn hạn, lãi suất huy động bình

quân…

Muốn tăng trưởng tổng tài sản bền vững đòi hỏi phải nghiên cứu mối tương

quan giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn. Qua mối tương quan này sẽ đánh giá được tính

tối ưu trong cơ cấu tài sản - nguồn vốn, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những

hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công

chúng. Sự phối hợp hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tối đa hoá thu nhập đồng thời kiểm

soát chặt chẽ các rủi ro.

1.2.3.3



Năng lực quản trị



Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh

của bất kỳ doanh nghiệp nào là năng lực của người lãnh đạo thể hiện qua các chiến

lược, chính sách tổ chức quản trị ngân hàng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu

tố như: chất lượng tài sản có, mức độ tăng trưởng của tài sản có, mức độ thu nhập,…

Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân hàng có

vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân

hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng có một chiến lược

kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm



9



soát, điều hành của một ngân hàng người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực và các

chiến lược mà ngân hàng xây dựng cho mình. Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng

trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực

quản trị cao của ngân hàng.

Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:

-



Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng

uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm dịch vụ,…



-



Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả.



-



Kết quả hoạt động kinh doanh cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và có khả

năng vượt qua bất trắc.



-



Khả năng ứng phó với những thay đổi về môi trường xung quanh.



-



Chất lượng của các chính sách và khả năng kiểm soát việc tuân thủ các chính

sách.



-



Việc thực hiện và chấp hành các quy định của Nhà Nước và pháp luật,…

1.2.3.4



Khả năng sinh lời (lợi nhuận)



Khả năng sinh lời (hay lợi nhuận) là thước đo cuối cùng đánh giá hiệu quả kinh

doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Mức sinh lời được phân tích qua các

thông số được nêu ở bảng 1.1.

(1) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA – Return on Assets): Tổng tài sản ở đây là

tài sản có bình quân. ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý tài sản của

ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu

nhập ròng.

Nếu với một mức ROA thấp có thể là kết quả một chính sách đầu tư hay cho

vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại

với ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp

lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của

nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu khả năng sinh lời quá lớn thì cũng có thể ngân hàng phải

đối đầu với những rủi ro lớn do thực hiện đầu tư quá mạo hiểm hoặc dự trữ giảm quá

mức.



10



Bảng 1.1: CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI

Stt



Thông số



Nội dung

- Giá trị tuyệt đối của LNST



1



Ý nghĩa

Đánh giá hiệu quả hoạt động



Lợi nhuận - Tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận.



kinh doanh và nguồn gốc



- Cơ cấu của lợi nhuận



hình thành nên lợi nhuận.

Đánh giá hiệu quả hoạt động



2



ROA



(LNST/Tổng tài sản)*100%



quản trị tài sản của ngân

hàng.

Đo lường vốn chủ sở hữu tạo



3



ROE



(LNST/Vốn chủ sở hữu)*100%



ra bao nhiêu lợi nhuận cho

ngân hàng.



(Tổng thu nhập từ lãi – Tổng chi phí

4



5



NIM



NM



từ lãi)/Tổng tài sản có sinh lời

*100%



Dự báo trước khả năng sinh



(Tổng thu nhập ngoài lãi – Tổng chi



lãi của ngân hàng.



phí ngoài lãi)/Tổng tài sản có sinh

lời *100%



(2) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity): Vốn chủ sở hữu

trong công thức được hiểu là vốn tự có cơ bản trung bình bao gồm vốn cổ phần thường,

cổ phần ưu đãi, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không chia. Như vậy, ROE đo lường tỷ lệ

thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận

được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng.

ROE = Tỷ lệ sinh lời hoạt động * Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản * Tỷ trọng vốn chủ sở

hữu



(1.3)

Tổng tài sản

ROE

(%)



=



x ROA x 100%



(1.4)



Vốn chủ sở hữu



Khi một trong các tỷ số trên giảm, nhà quản trị cần tập trung, đánh giá những lý

do tạo ra sự thay đổi này. Đối với hầu hết các ngân hàng, trong 3 tỷ số nêu trên thì tỷ



11



trọng vốn CSH là lớn nhất. Tỷ trọng vốn CSH là một phương pháp đo lường trực tiếp

mức độ đòn bẩy tài chính của ngân hàng, bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tạo ra trên

cơ sở một đồng vốn CSH và ngân hàng phải dựa vào đồng vốn vay là bao nhiêu.

Tỷ số ROA và ROE trong một công thức thể hiện sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi

nhuận. Từ công thức trên cho thấy thu nhập của ngân hàng rất nhạy cảm với phương

thức tài trợ tài sản từ nợ hay vốn CSH. Cũng có một số ngân hàng có ROA thấp để đạt

được ROE cao thông qua sử dụng đòn bẩy tài chính và sử dụng tối thiểu vốn CSH.

(3) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ròng (NIM – Net interest margin): Là chênh lệch giữa

thu nhập lãi từ các khoản cho vay, đầu tư chứng khoán và chi phí trả lãi cho tiền gửi và

nợ khác, tất cả chia cho tổng tài sản có sinh lời. Chỉ tiêu này giúp cho ngân hàng dự

báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản

sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất.

(4) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên ròng (NM – Noninterest margin ): Là chênh lệch

giữa nguồn thu ngoài lãi (thu phí dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ngân quỹ, thẻ,…) và chi

phí ngoài lãi (tiền lương, sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí tổn thất tín dụng,…). Đối

với hầu hết ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường là âm. Mặc dù trong những năm

gần đây tỷ lệ thu từ phí dịch vụ của các ngân hàng đã tăng khá cao so với tổng nguồn

thu, song nhìn chung thì chi phí ngoài lãi vẫn vượt thu từ phí.

Sử dụng các chỉ tiêu trên đây để so sánh giữa các thời kỳ, so sánh với các

NHTM khác, so sánh với mức bình quân hoặc so sánh với dự kiến sẽ cho thấy khả

năng sinh lời cao hay thấp, hiệu quả hoạt động ở mức độ nào. Khả năng sinh lời phụ

thuộc rất nhiều vào mức độ nợ xấu của NHTM theo chiều hướng nghịch.

1.2.3.5



Khả năng thanh khoản



Khả năng thanh khoản của một ngân hàng là khả năng sẵn sàng chi trả, thanh

toán cho khách hàng và bù đắp những tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh

doanh. Khả năng thanh khoản của một ngân hàng thể hiện qua các chỉ tiêu định lượng:

tỷ số thanh toán hiện hành và nhanh, tỷ số thanh toán tiền mặt, chỉ tiêu thanh khoản và

chỉ tiêu đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản của NHTM, đặc biệt là khả



12



năng quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó. Cụ thể được tính thông qua các tỷ lệ

sau:

(1) Tỷ lệ giữa tài sản thanh khoản và tổng tài sản (%): chỉ tiêu này đánh giá tính thanh

khoản của tổng tài sản của ngân hàng.

Tài sản thanh khoản bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền tại quỹ, tiền

gửi tại NHNN, tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTD, tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD

có thời hạn trong vòng 3 tháng, các khoản đầu tư chứng khoán nợ do chính phủ phát

hành có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua và chứng

khoán vốn cho mục đích thương mại, sẵn sàng để bán.

(2) Tỷ lệ giữa tổng dư nợ ròng và tổng tiền gửi khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế

(%): chỉ tiêu này đánh giá cân đối nguồn tiền huy động từ tiền gửi của tổ chức kinh tế

và cá nhân để cho vay.

Tổng dư nợ ròng = Tổng dư nợ tín dụng – Dự phòng rủi ro tín dụng (dự phòng cụ thể).

Tổng dư nợ ròng không bao gồm cho vay các tổ chức tín dụng; tổng tiền gửi khách

hàng không bao gồm phát hành giấy tờ có giá và phát hành trái phiếu.

(3) Tỷ lệ giữa tiền gửi, cho vay các TCTD và tiền gửi, tiền vay từ các TCTD (lần): chỉ

tiêu này đánh giá cân đối giữa huy động nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn huy động

trên thị trường liên ngân hàng. Chỉ tiêu này có giá trị nhỏ hơn 1 cho thấy ngân hàng

đang sử dụng vốn vay liên ngân hàng để cho vay khách hàng.

(4) Hệ số khả năng chi trả:

Tỷ số thanh toán hiện hành và nhanh (Rc / Rq):

Tỷ suất thanh toán

hiện hành và nhanh

(%)

Tỷ số thanh toán tiền mặt

Tỷ số thanh toán



Tài sản ngắn hạn

=



x 100%



(1.5)



Nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản tương đương tiền +

Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn



tiền mặt

=

x 100% (1.6)

(%)

Nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng chi trả trên bằng hoặc lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng có khả

năng thanh toán tốt. Tuy nhiên nếu hệ số này quá lớn cũng là điều không tốt, thể hiện



13



ngân hàng thừa khả năng thanh toán (dự trữ quá mức), làm giảm khả năng sinh lời. Bởi

vậy, duy trì khả năng thanh toán phù hợp sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt

động của ngân hàng và cho toàn xã hội.

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi NHTM không đáp ứng được nhu cầu cho vay và

đầu tư hoặc không đáp ứng được khả năng thanh toán của khách hàng. Rủi ro này xuất

phát từ chênh lệch kỳ hạn huy động vốn và sử dụng vốn, dùng nguồn vốn ngắn hạn để

cho vay trung dài hạn quá nhiều, không cân đối được kỳ hạn thu hồi vốn đầu tư với kỳ

hạn phải thanh toán, trong khi nhu cầu thanh toán của khách hàng không thể trì hoãn

được. Nếu NHTM lâm vào tình trạng này mà không xử lý được kịp thời sẽ rất nguy

hiểm, làm mất lòng tin của khách hàng sẽ dẫn đến rút tiền ồ ạt làm tình trạng mất khả

năng thanh toán của ngân hàng càng trầm trọng hơn, có thể dẫn tới phá sản ngân hàng.

1.2.3.6



Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường



Các tài sản mà ngân hàng nắm giữ chủ yếu là các tài sản chính, chúng thường

rất nhạy cảm với những biến động thị trường và gây ra những rủi ro nhất định. Hầu hết,

các tài sản của ngân hàng đều có liên quan đến rủi ro thị trường ở các mức độ khác

nhau, chủ yếu liên quan đến các tài sản có sự nhạy cảm trước biến động về lãi suất, tỷ

giá hoặc những thay đổi giá cả trên thị trường tài chính. Nếu trong cơ cấu tài sản của

ngân hàng có một tỷ lệ lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố này, có thể báo hiệu

một khả năng dễ tổn thương của ngân hàng đó. Hơn nữa, nếu một ngân hàng tham gia

vào hoạt động kinh doanh ngoại hối, chứng khoán ở nước ngoài thì mỗi biến động trên

thị trường tài chính thế giới sẽ tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của

ngân hàng đó.

Khi phân tích đến chỉ tiêu này, người ta quan tâm tới khả năng của ban lãnh đạo

ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng

thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn, định hướng rõ ràng và tập trung.

1.2.4 Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động của

ngân hàng thương mại



 Bảng cân đối kế toán: còn được gọi là báo cáo về trạng thái các tài sản, khoản nợ và

vốn chủ sở hữu trên nguyên tắc: Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu.



14



-



Tài sản của ngân hàng trong Bảng cân đối kế toán được xếp theo trật tự thanh

khoản từ cao tới thấp, bao gồm: Tiền mặt, vàng bạc, đá quý; Tiền gửi tại

NHNN; Tiền gửi tại các ngân hàng và cho vay các TCTD khác; Chứng khoán

kinh doanh; Cho vay khách hàng; Chứng khoán đầu tư; Góp vốn, đầu tư dài

hạn; Tài sản cố định; Tài sản khác.



-



Nợ phải trả của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi của khách hàng, gồm những

khoản mục sau: Các khoản nợ Chính phủ và NHNN; Tiền gửi và vay các TCTD

khác; Tiền gửi của khách hàng; Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay các TCTD

chịu rủi ro; Phát hành giấy tờ có giá; Các khoản nợ khác.



-



Vốn chủ sở hữu: bao gồm Vốn điều lệ; Các quỹ; Lợi nhuận chưa phân phối.



 Báo cáo kết quả kinh doanh: Phản ánh thu nhập, chi phí và lợi nhuận của ngân hàng

trong một thời kỳ nhất định. Thực chất, tài sản trên Bảng cân đối kế toán tạo ra phần

lớn các khoản thu từ hoạt động, trong khi các khoản nợ tạo ra hầu hết các chi phí hoạt

động của một ngân hàng.

Thu nhập của một ngân hàng bao gồm các khoản sau: Thu nhập lãi và các

khoản thu tương tự; Thu từ lãi tiền gửi tại các TCTD khác và tại NHNN; Thu từ hoạt

động dịch vụ; Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; Thu từ mua bán chứng khoán;

Thu từ góp vốn liên doanh, liên kết; Thu từ hoạt động kinh doanh khác.

Chi phí của một ngân hàng bao gồm các khoản sau: Chi trả lãi tiền gửi; Chi trả

lãi tiền vay; Chi trả lãi phát hành trái phiếu; Chi về kinh doanh ngoại hối; Chi về mua

bán chứng khoán; Khấu hao tài sản cố định; Lương cán bộ công nhân viên; Các chi phí

khác; Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng; Chi nộp thuế theo quy định của pháp luật.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM có vai

trò quan trọng trong việc tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. Có thể khái

quát một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM như sau:

1.3.1 Nhân tố khách quan

1.3.1.1



Môi trường kinh doanh



Môi trường kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo mô hìnhCAMELS

Tải bản đầy đủ ngay(95 tr)

×