Tải bản đầy đủ - 57 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 57trang

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



- Vốn lưu động là thước đo hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của

doanh nghiệp

1.1.4 Phân loại vốn lưu động

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân

loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường

có những cách phân loại sau đây:

* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất

kinh doanh.

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3

loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản

nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công

cụ dụng cụ.

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm

dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành

phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý...); các khoản vốn đầu tư ngắn

hạn(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn...) các khoản thế chấp, ký

cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải thu, các

khoản tạm ứng...).

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng

khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu

vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

* Phân loại theo hình thái biểu hiện.

Theo cách này vốn lưu động có thể chia thành hai loại:

- Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện

bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành

phẩm, thành phẩm....



Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



5



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền

gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán

ngắn hạn....

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho

dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

* Phân loại theo quan hệ sở hữu.

Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:

- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh

nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định

đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà

nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty

cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ

sung từ lợi nhuận doanh nghiệp.....

- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay

các nhân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua

phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp

chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình

thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ đó có các

quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm

bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

* Phân loại theo nguồn hình thành.

Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động có thể chia thành các nguồn như

sau:

- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn

điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa

các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.



Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



6



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong

quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu

tư.

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết; là số vốn lưu động được hình thành từ

vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên

doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá....theo thoả

thuận của các bên liên doanh.

- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức

tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp

khác.

- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu,

trái phiếu.

Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh

nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh

doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử

dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để

giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.

* Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn.

Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu động tạm

thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên.

- Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ

yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh

trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao

gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ

ngắn hạn khác.

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định

nhằm hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết.

Chúng ta có thể khái quát như sau:



Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



7



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xem

xét huy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng

để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mình. Ngoài

ra nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những

dự định về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ sở xác định quy

mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động này mang lại hiệu

quả cao nhất cho doanh nghiệp.

1.2. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu

động

1.2.1



Khái niệm kết cấu vốn lưu động



Kết cấu VLĐ phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động

trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp.

VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản lý,

sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển

của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Doanh

nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh

nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ

loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng

quay của vốn.

Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động. Có

nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu

cầu của công tác quản lý. Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà

quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của

những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



8



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng như từ các cách phân

loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo

những tiêu thức khác nhau.

Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không

giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu

thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm

riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định

đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù

hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.

1.2.2



Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động



Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.

Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ của doanh nghiệp.

- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh

nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và

khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng

loại vật tư cung cấp.

- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất

của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản

xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất.

- Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa

chọn theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật

thanh toán giữa các doanh nghiệp.

1.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Doanh

nghiệp

1.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chung vốn lưu động

1.3.1.1 Hiệu năng Vốn lưu động

Doanh thu

Hiệu năng sử dụng vốn lưu động =

Vốn lưu động bình quân

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



9



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu được tạo ra trên vốn lưu động bình quân là

bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và

ngược lại.

1.3.1.2.



Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:



Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại

bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này phản ánh hiệu qủa sử dụng vốn lưu động.

1.3.1.3



Mức đảm nhiệm vốn lưu động



Chỉ tiêu “mức đảm nhiệm vốn lưu động” chỉ rõ để có 100d doanh thu thuần

phải sử dụng bao nhiêu đồng vốn lưu động.



1.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển và mức độ tiết kiệm vốn

lưu động

1.3.2.1 Suất hao phí vốn lưu động.

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng giá trị tổng sản lượng thì phải

huy động bao nhiêu đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.

Tổng vốn lưu động bình quân

Suất hao phí vốn lưu động =

Tổng doanh thu thuần

Vốn lưu động bình quân năm = T1/2+T2+T3+...T11+T12+T`1/212

Với Ti là vốn lưu động bình quân tháng thứ i trong năm

T1 là số vốn bình quân tháng 1 năm sau

1.3.2.2 Số vòng quay của vốn lưu động.

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn lưu động, nó phản ánh

số vòng quay của vốn lưu động trong một năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



10



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



Tổng doanh thu thuần

Số vòng quay của vốn lưu động =

Tổng vốn lưu động

1.3.2.3 Thời gian một vòng luân chuyển.

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một

vòng. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt

Thời gian một vòng luân chuyển = 360 / Số vòng quay của vốn lưu động

1.3.2.4. Mức tiết kiệm vốn lưu động

Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được

trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:

Vtk= M1/ 360 x (K1−K0)

Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển

vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn

lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể.

Trong đó:

Vtk : Mức tiết kiệm Vốn lưu động

K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo

M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

1.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành

vốn lưu động

1.3.3.1 Hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là một yếu tồ cấu thành của vốn lưu động, nên sự biến động của

vốn bằng tiền ảnh hưởng đến sự biến động của vốn lưu động. Nội dung chủ yếu

của quản lý vốn bằng tiền bao gồm các vấn đề chính sau:

- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt một cách hợp lý. Để xác định muwcds

tồn trữ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như có thể dựa vào kinh nghiệm thực tế, có

thể sử dụng mô hình quản lý EOQ (còn gọi là mô hình Baumol) hoặc mô hình

quản lý tiền mặt Millerorr

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



11



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



- Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền bằng cách xây dựng các

nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi để tránh mất mát, lạm dụng tiền

của doanh nghiệp mưu lợi cho cá nhân

- Tât cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không

được chi tiêu ngoài quỹ

- Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế

toán tiền mặt và thủ quỹ

- Tăng tốc quá trình thu tiền và lạm chậm đi quá trình chi tiêu

- Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt

- Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho

doanh nghiệp

1.3.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn trong thanh toán

1.3.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất

1.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Ngoài ra để đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động trong kinh doanh

không thể không nói đến hệ số khả năng thanh toán



( lần )

Hệ số này càng cao càng chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của

doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao thì lại không tốt vì nó

phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu của

doanh nghiệp và tài sản lưu động dư thừa không tạo nên doanh thu.



( lần )

Hệ số thanh toán nhanh thể hiện giữa các loại tài sản lưu động có khả

năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn. Các

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



12



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



loại tài sản được xếp vào loại chuyển nhanh thành tiền gồm: các khoản đầu tư

chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu của khách hàng. Còn hàng tồn kho và

các khoản ứng trước không được xếp vào loại tài sản lưu động có khả năng

thành tiền. Hệ số thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn đối

với khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn so với hệ số thanh toán ngắn hạn.

Hệ số thanh toán tức thời của vốn lưu động

Hệ số thanh toán tức

thời



Tiền + Các khoản tương đương tiền

=



Nợ ngắn hạn



Hệ số này phản anh khả năng thanh toán lập tức tại thời điểm xác định, tỷ

lệ này không phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ

1.4.



Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động



Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của

các nhân tố khác nhau. Những nhân tố này gây ra ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu

cực. Vì vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói

chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng nhà quản trị tài chính phải

xác định và xem xét những nhân tố tác động tới quá trình sản xuất, kinh doanh

của doanh nghiệp, từ đó đưa ra được các giải pháp cụ thể. Các nhân tố này có

thể xem xét dưới các góc độ:

1.4.1. Nhân tố có thể lượng hoá

Đó là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu phản

ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt lượng. Các nhân tố này chúng ta có

thể dễ dàng thấy qua các chỉ tiêu như: doanh thu thuần, hao mon vô hình, rủi ro,

vốn lưu động bình quân trong kỳ. Khi xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này

tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta giả sử các nhân tố khác không thay

đổi

Để làm giảm tác động của các nhân tố này, đòi hỏi nhà quản trị tài chính

doanh nghiệp quản lý vốn lưu động một cách có hiệu quả. Vì vốn lưu động có ba



Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



13



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



thành phần chính là: tiền mặt, dự trữ và các khoản phải thu nên phương pháp

này tập trung vào quản lý ba đối tượng trên:

- Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng.

Việc quản lý tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý chứng khoán thanh

khoản cao bởi vì việc chuyển từ tiền mặt sang chứng khoán thanh khoản cao

hoặc ngược lại từ chứng khoán thanh khoản cao sang tiền mặt là một việc dễ

dàng, tốn kém ít chi phí.

Doanh nghiệp không nên giữ quá nhiều tiền mặt tại quỹ tài chính, vì vậy

khi có nhu cầu đột xuất về tiền mặt thì doanh nghiệp có thể đi vay ngắn hạn tại

các ngân hàng. Việc này tốt hơn so với việc bán chứng khoán, vì nếu cần tiền

trong thời gian ngắn mà bán chứng khoán là không có lợi. Trong trường hợp này

để tối đa hoá doanh lợi dự kiến, doanh nghiệp nên điều chỉnh việc giữ tiền cho

đến khi:





m lại việc lựa chon quản lý tiền mặt như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào

trình độ quản lý, xem xét thực trạng hoạt động của doanh nghiệp của các nhà

quản trị tài chính

- Quản lý dự trữ: dự trữ là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là

nhân tố đầu tiên, cần thiết cho quan trọng sản xuất kinh doanh, vì thế việc quản

lý dự trữ có hiệu quả là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Mức

dự trữ vật tư hợp lý sẽ quyết định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Nếu doanh nghiệp

dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho

quá trình sản xuất kinh doanh gián đoạn gây ra nhiều hậu quả tiếp theo như mất

thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

Có nhiều cách khác nhau để xác định mức dự trữ tối ưu. Theo phương

pháp cổ điển (mô hình đặt hàng hiệu quả nhât) EQQ, mô hình này dựa trên giả



Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



14



BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ



định những lần đặt hàng hoá là bằng nhau, theo mô hình này mức dự trữ tối ưu

là:

Q=√2∗D∗C2C1

Q* là mức dự trữ tối ưu

D là toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng

C1 là chi phí lưu kho cho một đơn vị hàng hoá

C2 là toàn bộ chi phí mỗi lần đặt hàng

Điểm đặt hàng lại: về lý thuyết ta giả định khi hết hang mới tiến hành

nhập kho hàng mới. Nhưng thực tế hầu như không bao giờ như vậy, nếu đặt

hàng quá sớm sẽ làm tăng chi phí lưu kho vì thế cần xác định lại điểm đặt hàng

mới

Thời điểm đặt hàng mới = Số lượng NVL sử dụng hàng ngày * Độ dài

thời gian giao hàng

- Quản lý các khoản phải thu: trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp

muốn bán được hàng thì phải áp dụng nhiều chính sách, biện pháp để lôi kéo

khách hàng đến với mình. Chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu

hiệu không thể thiếu đối với doanh nghiệp. Vì chính sách tín dụng thương mại

có những mặt tích cực và tiêu cực nên nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần

phải phân tích, nghiên cứu và ra những quyết định xem có nên cấp chính sách

tín dụng thương mại cho những đối tượng khách hàng hay không. Đó là việc

quản lý các khoản phải thu. Nội dung của công tác quản lý các khoản phải thu

là:

Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng xem khách hàng có những

điều kiện cần thiết để được hưởng tín dụng thương mại hay không thì chúng ta

còn phải tiến hành phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Khi phân tích

khả năng tín dụng của khách hàng người ta thường dùng những chỉ tiêu tín dụng

sau:

Sinh viên: Tạ Kim Anh - Lớp: KT3-CN7



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(57 tr)

×