Tải bản đầy đủ - 65 (trang)
- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Trước mỗi năm kế hoạch, công ty luôn lập ra những chỉ tiêu kế hoạch để thực hiện dựa trên những căn cứ có khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao hàng hóa, giá cả và trình

- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Trước mỗi năm kế hoạch, công ty luôn lập ra những chỉ tiêu kế hoạch để thực hiện dựa trên những căn cứ có khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao hàng hóa, giá cả và trình

Tải bản đầy đủ - 65trang

So sánh con số này với lượng vốn lưu động thực tế của công ty năm

2011 (481.814.000 đồng) là khá hợp lý. Đó là do công ty xác định doanh

thu dự kiến và vòng quay vốn lưu động phù hợp. Vậy để có một lượng vốn

lưu động bình quân là 3.125.000.000 đồng cung cấp cho hoạt động sản xuất

kinh doanh năm 2013 công ty cần có phương án huy động thêm vốn; tìm

kiếm nguồn tạo lập vốn lưu động.

3.2.2. Tăng cường công tác quản lí các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng

vốn bị chiếm dụng

Trong năm 2013, mặc dù đã thu được một số khoản nợ đọng song VLĐ của

công ty còn bị chiếm dụng khá lớn, hàng hoá tồn kho còn nhiều. Điều đó cho

thấy công tác bán hàng, thanh toán tiền hàng, thu hồi công nợ còn cần phải chặt

chẽ hơn nữa. Công ty chưa đề ra các biện pháp khuyến khích khách hàng mua

với số lượng lớn, thanh toán ngay từ đầu hoặc thanh toán nhanh. Nguyên nhân

cơ bản dẫn đến tình trạng vốn bị chiếm dụng và ứ đọng là: Trong các hợp đồng

tiêu thụ sản phẩm của công ty kí kết với khách hàng chưa có các điều kiện ràng

buộc chặt chẽ về mặt thanh toán, về số tiền ứng trước, công ty chưa có các hình

thức khuyến khích khách hàng thanh toán tiền hàng sớm và ngay khi giao hàng.

Do đặc điểm SXKD của công ty là chuyên nhận lắp đặt cho các dự án,công

trình cho các dự án đã hoàn thành nhưng chưa bàn giao cho nên công ty không

áp dụng chính sách thương mại đối với khách hàng. Sau mỗi lần đặt hàng, công

ty lắp đặt xong và bàn giao thì phía khách hàng mới thanh toán tiền chi phí lắp

đặt và tiền hàng của công ty bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân

hàng Đầu tư và Phát triển. Để đảm bảo sự ổn định, lành mạnh và tự chủ về mặt

tài chính, thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của VLĐ, từ đó góp phần sử dụng

vốn tiết kiệm, hiệu quả, công ty cần có biện pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng

nợ nần dây dưa không thanh toán của khách hàng, công ty cần áp dụng một số

biện pháp như:



- Trước khi kí kết hợp đồng lắp đặt, mua bán, công ty phải xem xét kĩ

lưỡng từng đối tượng, từng khách hàng. Công ty nên từ chối kí hợp đồng với

những khách hàng nợ nần dây dưa hoặc không có khả năng thanh toán, hoặc

những đơn đặt hàng có số tiền trả trước quá nhỏ.

- Mở sổ chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài công ty, thường

xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn. Nếu có nhiều khách hàng mua chịu, sổ tài

khoản kế toán phải ghi chi tiết cho từng khách hàng được bao nhiêu và số tiền

công ty còn phải thu hồi để từ các sổ chi tiết đó, công ty có thể lập dự phòng

cho các khoản phải thu khó đòi và có phương hướng xử lí.

- áp dụng chính sách tín dụng thương mại để có thể kí kết được nhiều hợp

đồng hợp tác kinh tế hơn. Từ đó, tạo điều kiện tăng thu nhập cho công nhân,

khai thác được hết thế mạnh của mình.

3.2.3. Sử dụng có hiệu quả các biện pháp giảm chi phí tồn kho và hỗ trợ

tiêu thụ sản phẩm.

Ta thấy hàng tồn kho trong những năm gần đây đang tăng và chiếm tỷ

trọng lớn hơn trong cơ cấu VLĐ của công ty. Do đó việc giảm hàng tồn kho

xuống là điều rất quan trọng và khó khăn. Em xin đưa ra một số ý kiến để giảm

lượng hàng tồn kho xuống như sau:

- Thường xuyên theo dõi kiểm tra xem mặt hàng nào tồn kho nhiều và

nguyên nhân tồn kho là gì? Do giá cả, do chất lượng hay do nhu cầu thị trường

hiện tại…Cho dù là nguyên nhân nào đi nữa công ty cũng phải tìm mọi cách

giảm hàng tồn kho vì hàng hóa tồn lâu ngày trong kho sẽ rất khó bảo quản, làm

giảm chất lượng và tăng một lượng chi phí lớn cho việc bảo quản gây ứ đọng

vốn. Vì vậy việc nắm được nguyên nhân sẽ giúp cho công ty có những phương

án xử lý dễ dàng hơn. Ví như mặt hàng thép tấm tồn kho với lượng khá lớn do

giá cả nhập vào cao ( 740.000 đồng/ kg) mà giá cả trên thị trường nguyên vật

liệu có xu hướng giảm như vậy để tiêu thụ lượng hàng tồn đọng này công ty có

thể giảm giá 3% - 5% thậm chí bán với giá thấp hơn để thu hồi vốn nếu như



việc tiêu thụ quá khó khăn và hàng tồn trong kho quá lâu. Hay tồn kho do nhu

cầu khách hàng và thị trường thì vấn đề đặt ra là công ty sẽ phải có những biện

pháp tìm kiếm bạn hàng và thị trường tiêu thụ mới.

- Việc bốc dỡ, vận chuyển, xuất hàng có ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ

lưu chuyển hàng hóa. Chính vì vậy hai bên mua bán cần có những thỏa thuận về

việc chịu chi phí vận chuyển, bốc dỡ nhằm tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng

hóa, tránh chi phí thuê kho lưu bãi không cần thiết. Một số xe tải chuyên chở

hàng đã xuống cấp như: chiếc xe Jac biển số 16N- 4325, xe Hyundai biển số

15N- 2887 bộ phận này cần lập báo cáo để có kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng

nhanh chóng đảm bảo an toàn cho các lái xe và tăng tốc độ lưu chuyển hàng

hóa….

- Đối với những hàng hóa tồn kho lâu ngày cần có những biện pháp thúc

đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa như: giảm giá, áp dụng phương thức thanh

toán chậm hoặc đưa ra mức giá linh hoạt đối với từng thời gian trả tiền. Khách

hàng trả tiền càng sớm thì mức giá càng được ưu tiên và chi phí trả chập càng

giảm.

- Giảm công cụ dụng cụ cũng là một nhiệm vụ cần quan tâm trong việc

giảm hàng tồn kho của công ty. Công việc này thuộc về bộ phận quản lý và kho,

bộ phận này cần theo trên dõi hồ sơ và cả thực tế các loại máy móc thiết bị cũng

như các phương tiện sửa chữa vận chuyển trong công ty. Xác định và dự toán

xem trong thời gian tới có những loại máy móc thiết bị nào cần phải bảo dưỡng,

sửa chữa lớn vừa hay nhỏ và cần những loại chi tiết phụ tùng nào thay thế. Sau

đó bộ phận này lập một bản báo cáo trình nên phó giám đốc để có những kế

hoạch thu mua và sửa chữa kịp thời. những loại phương tiện máy móc hay phụ

tùng không dùng đến hoặc đã hư hại nhiều thì có thể thanh lý nhượng bán…Ví

dụ như các loại que hàn tại kho bộ phận sửa chữa đã hỏng hoặc hư hại nhiều, sử

dụng không đạt hiệu quả, nên nhượng bán tài sản này và mua mới thay thế. Tại

bộ phận vận chuyển hàng hóa có một số thiết bị phụ tùng ô tô cũ, không còn giá



trị sử dụng lưu trong kho số 3 cũng nên thanh lý nhượng bán để tăng thêm một

khoản thu nhập và giảm lượng CCDC tồn kho không cần thiết.

3.2.4. Biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.

Khi kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể

lường hết đựơc mọi vấn đề bất thường xảy ra trên thị trường như lạn phát,

khủng hoảng tiền tệ, về phía người cung cấp.... Để hạn chế phần nào những tổn

thất trên công ty cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro.

Để hạn chế ảnh hưởng của rủi ro công ty nên lập quỹ dự phòng tài chính,

mua bảo hiểm cho hàng hoá để khi vốn bị hao hụt thì đã có nguồn bù đắp, khi

tổn thất xảy ra sẽ được bồi thường.

Định kỳ tiến hành kiểm kê đánh giá lại số vật tư hàng hoá, vốn bằng tiền,

vốn trong thanh toán, xác định số vốn lưu động hiện có theo giá trị hiện tại;

Trên cơ sở kiểm kê đánh giá lượng vật tư hàng hoá mà đối chiếu với sổ sách kế

toán để điều chỉnh sao cho hợp lý, những vật tư hàng hoá tồn đọng lâu ngày do

kém phẩm chất hoặc không phù hợp với nhu cầu sản xuất phải chủ động giải

quyết, phần chênh lệch thiếu hụt phải xử lý kịp thời để bù lại.

Đôn đốc các khoản nợ, thường xuyên đối chiếu thu hồi công nợ, giải quyết

tích cực các khoản vốn bị chiếm dụng quá hạn dây dưa, tiền thu về nhanh chóng

sử dụng vào sản xuất nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, những khoản nợ xét

thấy khách hàng không có khả năng trả thì lập danh sách theo dõi để có kế

hoạch bù đắp đảm bảo vốn lưu động.

Những khoản tạm ứng phải thu hồi, thanh toán ngay khi đến hạn; Có biện

pháp xử lý đối với những người nợ dây dưa chiếm dụng vốn của công ty. Trích

lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng giảm giá

hàng bán tồn kho. Việc công ty tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững

chắc, một tấm lá chắn tin cậy về kinh tế, giúp công ty có điều kiện về tài chính



để chống đỡ có hiệu quả mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không ảnh

hưởng nhiều đến vốn lưu động.

Để bảo toàn vốn trong điều kiện lạn phát khi phân phối lợi nhuận cho các

mục đích tích luỹ, tiêu dùng phải để dành lại một phần để bù đắp số vốn hao hụt

do lạn phát có như vậy mới đảm bảo giá trị hiện tại của vốn. Phòng ngừa rủi ro

trong khinh doanh là biện pháp rất cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệp nói

chung và với công ty nói riêng nhất là trong thương trường đầy những cạnh

tranh và rủi ro.

3.2.5. Chú trọng phát huy nhân tố con người.

Dù bất kỳ ở môi trường nào nhân tố con người vẫn luôn được đặt lên hàng

đầu. trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, người ta không chỉ cần có

vốn, công nghệ mà quan trọng hơn cả là con người. Trong nhiều năm qua cũng

như nhiều doanh nghiệp khác, công ty chưa tận dụng được hết sức lực, trí tụê

của CBCNV trong công ty, chưa phát huy được hết tiềm năng con nguời. Đây là

một vấn đề tồn tại cần phải có biện pháp khắc phục; Để làm tốt công tác phát

huy nhân tố con người công ty cần phải xem xét các vấn đề như:

Xét lại cơ cấu nhân sự của công ty, tìm hiểu đánh giá năng lực trình độ của

từng CBCNV để có biện pháp quản lý thích hợp. Công ty sẽ cử 3-5 người đị học

thêm để năng cao tay nghể về kỹ thuật vận hành máy, bảo quản sửa chữa tài sản

để đánh giá lại tài sản một cách chính xác và đầy đủ khách quan hơn.

Công tác quản lý cán bộ được thực hiện một cách nghiêm khắc, công minh

nhìn nhận rõ những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình hoạt động của đội

ngũ lao động trong công ty để phát huy hơn nữa những điẻm tích cực và hạn chế

những điểm tiêu cực.

Định kỳ tổng kết quá trình hoạt động của công ty kịp thời khuyến khích

những người có phát minh sáng kiến đóng góp cho sự phát triển của công ty

đồng thời nghiêm khắc phê bình những hành vi sai trái làm cản trở sự đi lên của



công ty. Làm tốt công tác nhân sự là một nhân tố quan trọng giúp cho việc sử

dụng vốn ngày càng có hiệu quả hơn, do vậy công ty cần xem xét nhân tố con

người trong định hướng phát triển của mình.

Phát huy được nhân tố con người chính là phát huy được nội lực to lớn

trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả

sản xuất kinh doanh của Công ty. Do đó công tác quản lý và đào tạo tốt lao

động sẽ giúp cho công ty phát triển một cách toàn diện hơn.Vậy vấn đề ở đây là

công ty làm thế nào để nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tài chính: Một là,

công ty đưa ra những ưu đãi trong tuyển dụng (về lương bổng, trợ cấp, về thời

gian công tác) nhằm thu hút nguồn nhân lực thực sự có chất lượng cao đảm

nhiệm công tác quản lý DN nói chung và quản lý tài chính nói riêng; Hai là, từ

đội ngũ cán bộ hiện tại ( ưu thế là có kinh nghiệm làm việc lâu năm trong nghề)

công ty thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực làm việc (bồi

dưỡng thông qua mở các đợt học tập trung, hay bằng cách cử những cán bộ giỏi

chuyên môn đến làm việc tại DN trong một thời gian nhằm hướng dẫn thông

qua quá trình làm việc).

Trên đây là một số kiến nghị và giải pháp em đưa ra mà Công ty có thể

xem xét và áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và hiệu quả

sản xuất kinh doanh của Công ty. Sự áp dụng đồng bộ các giải pháp đối với mọi

nguồn lực như vốn, lao động, công nghệ... là một yếu tố then chốt đem lại sự

thành công và phát triển bền vững của Công ty. Do sự hạn chế về thời lượng và

kiến thức hiểu biết thực tế nên việc phân tích đánh giá các mặt hoạt động tài

chính - tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ doanh nghiệp chưa thật sâu

sắc, các biện pháp kiến nghị chưa thật đầy đủ và hoàn thiện.

3.2.6 Giải pháp quản lý vốn bằng tiền

Như đã phân tích ở phần thực trạng, vốn bằng tiền của Công ty đều có

nhu cầu tăng cao qua các năm. Việc giữ lại vốn bằng tiền quá nhiều có thể giúp

Công ty chủ động hơn trong việc thanh toán nhưng khi đó tiền sẽ không sinh lãi



gây lãng phí vốn và phát sinh khoản chi phí cơ hội của việc giữ tiền, khi đó

doanh nghiệp nên sử dụng số tiền dư thừa đó thực hiện đầu tư có tính chất tạm

thời hay ngắn hạn để có thể thu được lợi nhuận cao hơn thay vì gửi số tiền đó

vào ngân hàng với lãi suất thấp. Vì vậy vấn đề đặt ra cho Công ty là để lại

lượng vốn bằng tiền thế nào là hợp lý? Để xác định một cách chính xác lượng

tiền này Công ty cần lên kế hoạch về nhu cầu thanh toán và khả năng thanh

toán, kế hoạch về thu chi ngân quỹ của Công ty trong từng quý.

Tóm lại: Công ty cần phát huy những thế mạnh và khắc phục những

khuyết điểm để có thể đứng vững và phát triển hơn nữa trong tương lai để góp

phần làm cho đất nước giàu mạnh hơn.



KẾT LUẬN

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một hướng đi đúng không chỉ

riêng với Công ty TNHH sản xuất kinh doanh Minh Phượng mà

còn đối với nhiều doanh nghiệp khác có mặt trong nền kinh tế thị trường. Trong

cơ chế thị trường, nhu cầu về vốn lưu động là vô cùng lớn, đòi hỏi các doanh

nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất để đạt được lợi

nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Để làm được

điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm các biện pháp tăng vòng quay vốn lưu

động để khả năng sinh lợi của vốn lưu động cao nhất. Rõ ràng trong điều kiện

hiện nay, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động được khẳng định như một xu

thế khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong sự phát

triển doanh nghiệp. Về ưu điểm công ty đã thực hiện tốt công tác quản lý và sử

dụng vốn lưu động và thực hiện tốt công tác thu hồi nợ và giả quyết tốt hàng tồn

kho. Về nhược điểm tổ chức về quản lý và điều hành chưa linh hoạt, việc sử

dụng vốn bằng tiền chưa hợp lý. Em xin đưa ra một số biện pháp của cá nhân

em biện pháp 1. Khai thác nguồn tài trợ ngắn hạn cho vốn lưu động với chi phí

thấp, biện pháp 2. Tăng cường công tác quản lí các khoản phải thu, hạn chế tối

đa lượng vốn bị chiếm dụng, biện pháp 3. Sử dụng có hiệu quả các biện pháp

giảm chi phí tồn kho và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, biện pháp 4.Biện pháp phòng

ngừa rủi ro trong kinh doanh. biện pháp 5. Nâng cao năng lực quản lý tài chính,

công tác bồi dưỡng cán bộ. Chuyên đề đã giải quyết được các vấn đề về vốn lưu

động và đưa ra một số giải pháp cải thiện tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu

động tại Công ty TNHH sản xuất kinh doanh Minh Phượng.

Chuyên đề thể hiện ý kiến cá nhân với hy vọng được đóng góp một phần

hết sức nhỏ bé vào việc thực hiện công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động.

Tuy nhiên, do khả năng của em còn hạn chế, lý luận còn non kém nên vấn đề



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Trước mỗi năm kế hoạch, công ty luôn lập ra những chỉ tiêu kế hoạch để thực hiện dựa trên những căn cứ có khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao hàng hóa, giá cả và trình

Tải bản đầy đủ ngay(65 tr)

×
x