Tải bản đầy đủ - 53 (trang)
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 53trang

đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. Còn TSLĐ lưu thông

bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,

các khoản vốn trong thanh toán, các loại chi phí chờ kết chuyển..., TSLĐ

nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông

thay chỗ nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quă trình tái

sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.

Như vậy, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một số vốn thích đáng

để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản đó được

gọi là VLĐ của doanh nghiệp. VLĐ luôn được chuyển hoá qua nhiều

hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật

tư hàng hoá và cuối cùng lại trở thành hình thái tiền tệ bạn đầu của nó.

Quá trình SXKD của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, cho nên

VLĐ cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành chu chuyển

của tiền vốn.

Khởi đầu vòng tuần hoàn, VLĐ được dùng để mua sắm các đối tượng

lao động (ĐTLĐ) trong khâu dự trữ sản xuất, ở giai đoạn này vốn nằm

trong giai đoạn lưu thông và nằm dưới hình thái vốn tiền tệ, công thức

vận động của vốn trong giai đoạn này như sau:

1 T-H

Tiếp theo là giai đoạn sản xuất, các vật tư dự trữ (tư liệu sản xuất)

được kết hợp với sức lao động để chế tạo ra bán thành phẩm và thành

phẩm. Vốn nằm trong giai đoạn sản xuất và được gọi là vốn sản xuất,

công thức vận động của vốn trong giai đoạn này như sau:

SLĐ

H

...H'

TLSX



6



Kết thúc vòng tuần hoàn, sản phẩm được tiêu thụ hay được thực hiện

giá trị trên thị trường, vốn nằm trong giai đoạn lưu thông và chuyển sang

hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu.

H’....T’

(Trong đó T’ = T + ∆T;

∆T: giá trị tăng thêm)

Do sự chu chuyển không ngừng nên VLĐ thường xuyên có các bộ

phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản

xuất và lưu thông.

Tóm lại, VLĐ của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về TSLĐ trong

sản xuất và TSLĐ trong lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản

xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. VLĐ luân

chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào giá trị của sản phẩm, nó thực

hiện một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất và tuần hoàn liên tục

trong quá trình tái sản xuất tiếp theo, VLĐ là điều kiện không thể thiếu

được của quá trình tái sản xuất.

1.1.2 Phân loại

* Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:

Theo cách phân loại này VLĐ của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại.

- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: Giá trị các khoản nguyên

vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ

lao động nhỏ...

- VLĐ trong khâu sản suất bao gồm: Các khoản giá trị thành phẩm,

vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý...) các khoản vốn đầu tư ngắn hạn

(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, các khoản vốn trọng thanh

toán ( các khoản phải thu, các khoản tạm ứng...)



7



Qua cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của VLĐ trong

từng khâu của quá trình kinh doanh, từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu

VLĐ sao cho có hiệu quả.

* Phân loại theo hình thái biểu hiện: Theo phân loại này VLĐ có thể chia

thành 2 loại.

-Vốn vật tư hàng hoá là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng

hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,

thành phẩm.

-Vốn bằng tiền bao gồm: các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ,

tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn

hạn.

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức

tồn kho dự trữ và khả năng tt của doanh nghiệp. Cách phân loại này cũng

giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm tra kết cấu tối ưu

của VLĐ để có quyết định về tận dụng số VLĐ đã bỏ ra.

* Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn: Theo cách phân loại này người ta

chia VLĐ thành 2 loại.

- Vốn chủ sở hữu: Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,

doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, định đoạt. Tuỳ theo từng loại

hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở

hữu có nội dụng cụ thể riêng như vốn đầu tư từ NSNN; vốn do chủ doanh

nghiệp bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần, vốn góp từ các thành

viên trong doanh nghiệp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh

nghiệp...

- Các khoản nợ: Là khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay các ngân

hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát

8



hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán, doanh nghiệp

chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.

Cách phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của DN được hình thành

băng vốn của bản thân DN hay từ các khoản nợ, từ đó có các quyết định

trong huy động và quản lý, sử dụng VLĐ hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài

chính trong sản xuất vốn của DN.

* Phân loại theo nguồn hình thành: VLĐ của doanh nghiệp được chia thành

các nguồn sau.

- Nguồn vốn điều lệ: Là số VLĐ được hình thành từ nguồn vốn điều lệ

ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ xung trong quá trình SXKD

của DN. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh

nghiệp thuộc các loại hình kinh tế khác nhau.

- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do DN tự bổ sung trong quá

trình SXKD từ lợi nhuận của DN được tái đầu tư.

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số VLĐ được hình thành từ vốn

góp liên doanh của các bên tham gia DN liên doanh. Vốn góp liên doanh có

thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật như vật tư hàng hoá... theo thoả thuận

các bên liên doanh.

- Nguồn vốn đi vay: Là vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc

các tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong DN, vay các DN

khác, vốn huy động từ thị trường vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái

phiếu.

Việc phân loại VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho DN tháy được cơ

cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ góc độ

quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó, do đó DN

cần xem xét cơ cấu nguần tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn.

9



Từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết

cấu VLĐ theo những tiêu thức khác nhau. Kết cấu VLĐ phản ánh các thành

phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn VLĐ của

doanh nghiệp, ở các DN khác nhau thì các số kết cấu VLĐ cũng không

giống nhau. Việc phân tích các kết cấu VLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu

thức phân loại khác nhau sẽ giúp DN hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về

VLĐ mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và

biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của

DN. Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu VLĐ trong các thời kỳ khác

nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực và hạn chế về mặt chất lượng

trong công tác quản lý VLĐ của từng DN.

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.2.1 khái niệm

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp có thể hiểu qua một số

khái niệm sau :

+Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc

độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc

độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược

lại.

+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốn

lưu động cần cho một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về

chiều hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng luân

chuyển thì càng tốt. Nhưng nếu hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì

hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng không cao.



10



+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là thời gian ngắn nhất để vốn lưu động

quay được một vòng. Quan niệm này có thể nói là hệ quả của quan niệm

trên.

+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh tổng TSLĐ so với

tổng nợ lưu động là cao nhất.

+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu

được khi bỏ ra một đồng vốn lưu động.

+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốn

lưu động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số

tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng

vốn lưu động.

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh

nghiệp

Tình hình tổ chức quản lí, sử dụng và hiệu quả sử dụng VLĐ cao hay

thấp đều có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kỳm

hãm với việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ; để có những đánh giá sâu

hơn về hiệu quả VLĐ của doanh nghiệp người ta xem xét trên một số chỉ

tiêu.

Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Đây là những chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư,

người cho vay, các nhà cung cấp... Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp

có đủ khả năng trả các món nợ đến hạn không.

- Hệ số nợ: Là một chỉ tiêu tài chính phản ánh trong một đồng vốn hiện

nay doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng vốn nợ.

11



Tổng nợ phải trả

Hệ số nợ =

Tổng nguồn vốn

Hệ số nợ cao không tốt cho doanh nghiệp, hệ số nợ hợp lý là tốt nhất,

còn hệ số nợ thấp thể hiện tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp.

- Hệ số vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của

chủ sở hữu trong tổng vốn hiện có của doanh nghiệp.

Nguồn vốn chủ sở hữu

Hệ số vốn chủ sở hữu =

Tổng nguồn vốn

Hệ số vốn chủ sở hữu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự

có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức

ép của các khoản nợ vay.

- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Là mối quan hệ giữa tài sản ngắn

hạn với các khoản nợ ngắn hạn, nó thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với

nợ ngắn hạn

TSLĐ và ĐTNH

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =

Tổng nợ ngắn hạn

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Là thước đo về khả năng trả nợ ngay,

không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hoá và được xác định theo công

thức:

TSLĐ - Vốn vật tư hàng hoá

Hệ số khả năng thanh toán nhanh =

Tổng nợ ngắn hạn

* Các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh

- Số vòng quay hàng tồn kho: Là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân

chuyển trong kỳ, số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh

được đánh giá tốt.

12



Doanh thu thuần

Số vòng quay hàng tồn kho =

Số dư hàng tồn kho bình quân trong

kỳ

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của

một vòng quay hàng tồn kho. Số vòng quay hàng tồn kho nhưnh chứng tỏ

hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao và ngược lại.

360

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =

Số vòng quay hàng tồn kho

- Vòng quay các khoản phải thu: Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản

phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp.

Doanh thu thuần

Vòng quay các khoản phải thu =

Số dư bình quân các khoản phải

thu

Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản nợ càng nhanh.

Đó là biểu hiện tốt đối với tình hình quản lí và sử dụng vốn của doanh

nghiệp.

- Kì thu tiền trung bình (số ngày của một vòng quay khoản phải thu):

Phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các

khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.

360

Kỳ thu tiền trung bình =

Vòng quay các khoản phải thu

* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bất cứ một doanh nghiệp nào khi

sử dụng vốn vào sản xuất nói chung và VLĐ nói riêng đều phải quan tâm



13



đến hiệu quả mang lại. Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong các doanh

nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:

a. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Việc sử dụng hợp lí, tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc độ

luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp nhanh hay chậm. VLĐ luân chuyển

càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược

lại.

Tốc độ luân chuyển VLĐ được đo bằng hai chỉ tiêu, đó là: Số lần luân

chuyển (số vòng quay VLĐ) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng

quay VLĐ).

Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện

trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm dương lịch)

Công thức tính như sau:

M

L=

VLĐbq

Trong đó:

L

M



: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.

: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.



VLĐbq : Vốn lưu động bình quân trong kỳ.

- Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.

Công thức được xác định như sau:

360

K=



VLĐbq*360

Hay K =



L

Trong đó:

K



M



: Kỳ luân chuyển VLĐ



Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển VLĐ càng được rút

ngắn và chứng tỏ VLĐ được sử dụng có hiệu quả.

14



b. Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển

- Mức tiết kiệm vốn lưu động là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên

doanh nghiệp có thể tăng thêm tổgn mức luân chuyển vốn, song không cần

tăng thêm hoặc tăng thêm không đáng kể quy mô VLĐ. Theo quan điểm đó

thì điều kiện để có mức tiết kiệm tương đối cho một doanh nghiệp là

Công thức xác định:

M1 > M0

VLĐ1 > VLĐ0

M1 * (K1 - K0)

Vtk =

360

Trong đó:

Vtk



: VLĐ tiết kiệm



M1



: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch



K0, K1 : Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo, năm kế hoạch

c. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu

đồng doanh thu thuần.

Doanh thu thuần

Hiệu suất sử dụng VLĐ =

Vốn lưu động bình quân

Số doanh thu được tạo ra trên một đồng VLĐ càng lớn thì hiệu quả sử

dụng VLĐ càng cao.

d. Hàm lượng vốn lưu động (hay mức đảm nhận vốn lưu động)

Là số VLĐ cần có để đạt được một đồng doanh thu. Đây là chỉ tiêu

nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VLĐ và được tính bằng cách lấy số

VLĐ bình quân trong kỳ chia cho tổng doanh thu thuần thực hiện trong kỳ.

15



Vốn lưu động bình quân

Mức dùng VLĐ =

Doanh thu thuần

e. Tỉ suất lợi nhuận vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập).

Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu

nhập)

Tỉ suất lợi nhuận VLĐ =

Vốn lưu động bình quân

Tỉ suất lợi nhuận VLĐ càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng

cao.

Như vậy, thông qua các chỉ tiêu trên cho phép ta có thể đánh giá được

hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp, từ đó có biện pháp thích hợp để

nâng cao hiệu quả và sử dụng VLĐ tiết kiệm hơn. Việc nâng cao hiệu quả sử

dụng VLĐ cho phép doanh nghiệp có thể giảm bớt số VLĐ cần thiết, từ đó

góp phần giảm chi phí SXKD, hạ giá thành sản phẩm, làm tăng lợi nhuận

của doanh nghiệp

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong

doanh nghiệp

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Ngoài những nhân tố khách quan còn có rất nhiều nhân tố chủ quan của

chính bản thân doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ

cũng như toàn bộ quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp như:

+ Xác định nhu cầu VLĐ: Do xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác dẫn

đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong SXKD, ảnh hưởng không tốt tới



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(53 tr)

×