Tải bản đầy đủ - 48 (trang)
1 Tổng quan về vốn lưu động.

1 Tổng quan về vốn lưu động.

Tải bản đầy đủ - 48trang

lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần

sau một chu kỳ kinh doanh.

1.1.2 Ý nghĩa của vốn lưu động

Vốn lưu động có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp.

Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh

nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ

phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh

nghiệp.

Vốn lưu đong còn có khả năng quyết định quy mô hoạt động của doanh

nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp có thể tự làm chủ trong việc

sử dung vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động

lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn lưu đông

còn giúp được doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh

tranh cho doanh nghiệp

Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu lên giá thành sản phẩm do đăc

điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm, giá trị hàng hóa bán ra

được tính toán trên cơ sở bù đắp giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi

nhuận.

1.1.2 Nội dung và thành phần vốn lưu động

• Nội dung

Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động còn phải có đối

tượng lao động.Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trinh sản xuất không

dữ nguyên hình thái ban đầu bộ phận của đối tượng lao động sẽ thông qua quá

trình chế biến hợp thành thực tế của sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí trong

quá trình sản xuất đến chu kỳ sản xuất sau phải dùng đối tượng khác. Cũng do

đặc điểm trên làm toàn bộ giá trị của đối tượng lao động được chuyển vào sản

phẩm.

Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ phận:

7



Một bộ phận là vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục

(nguyên nhiên vật liệu...); Một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá

trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm).Hai bộ phận này biểu

hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động.

-Mặt khác quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình

lưu thông. Trong quá trình lưu thông, còn phải tiến hành một số công việc như

chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh toán ...do đó trong khâu lưu

thông hình thành khoản hàng hóa và tiền tệ, vốn trong thanh toán...

Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm

trong quá trình lưu thông thay chổ nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo

cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi

Như vậy, doanh nghiệp nào củng cần phải có một số vốn thích đáng để đầu tư

vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản đó được gọi là vốn luân

chuyển của doanh nghiệp.

Vốn lưu động luôn được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu

từ hình thái tiền tệ đang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và cuối cùng lại trở về

trạng thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp diễn ra liên tục không ngừng có tính chất chu kỳ thành chu chuyển của

tiền vốn.

Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ

phận tồn tại cùng một lúc dưới cá hình thái khác nhau trong các lĩnh vực sản

xuất và lưu thông.

Tóm lại vốn lưu động của doanh ngiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động

và taì sản lưu thông nhằm dảm bảo chô quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp

thực hiện được liên tục, thường xuyên.Vốn luân chuyển là luân chuyển toàn bộ

giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục là hoàn thành một vòng tuần hoàn

sau một chu kỳ sản xuất.Vốn luân chuyển là vật chất không thể thiếu được của

quá trình tái sản xuất.

Qua phần trình bày trên có thể thấy cùng một lúc, vốn luân chuyển của doanh

nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới những

8



hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh nghiệp

phải co đủ vốn luân chuyển đàu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho

các hình tháicó được mức tồn tại hợp lý và đòng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến

cho việc chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận

lợi. Nếu như doanh nghiệp nào đó, không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp

khó khăn, và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hoặc gián đoạn

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật

tư cũng là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của

doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn là phản ánh sự vận

động của vật tư. Nhìn chung vốn luân chuyển nhiều ít là phản ánh số lượng vật

tư sử dung nhiều hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản

phẩm có hợp lý hay không hợp lý. Bởi vậy thông qua tình hình luân chuyển vốn

lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm dự trữ,

sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.

• Thành phần

Thành phần vốn lưu động bao gồm:

-Tiền và khoản đầu tư ngắn hạn

+ Tiền của doanh nghiệp được hình thành từ sự cấp phát của ngân sách Nhà

nước, tự có hay được bổ xung từ lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó tồn tại dưới

nhiều hình thức khác nhau như: Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển, tiền gửi

ngân hàng

+ Đầu tư tài chính ngắn hạn được hình thành từ góp vốn liên doanh hay đầu tư

chứng khoán ngăn hạn mà có thể thu lại lượng vốn ban đầu trong vòng một năm

hoặc một chu kỳ kinh doanh.

-Các khoản phải thu

+ Phải thu khách hàng: Là một trong những bộ phận quan trọng nhất của vốn

luân chuyển. Khi bán hàng doanh nghiệp thường không thu được tiền ngay đây

là biểu hiện tín dụng thương mại và chúng tạo ra các khoản phải thu.



9



+ Trả trước người bán: Đây là khoản ứng trước cho người bán do yêu cầu của

nhà cung cấp và tạo niềm tin hay là đặc tính quan trọng của hàng hóa.

+ Phải thu nội bộ: Là khoản thu nội bộ đối với các chi nhánh, thành viên trực

thuộc

+ Các khoản phải thu khác: Là những khoản phải thu của doanh nghiệp ngoài

vốn hàng tồn kho những khoản phải thu như: tạm ứng, thế chấp, ký cược, ký quỹ

ngắn hạn

Hàng tồn kho: thuộc loại này bao gồm:nguyên vật liệu chính,vật liệu

phụ...sản phẩm đang chế tạo, phí tổn chờ phân bổ, thành phẩm, hàng đang trên

đường, hàmg gửi đi bán,...Tùy theo đặc điểm kinh doanh của từng ngành,của

từng mặt hàng,tùy quy mô hoạt động, điều kiện hoạt động mà doanh nghiệp có

chính sách dự trữ hàng tồn kho một cách có hiệu quả và hợp lý.Bên cạnh đó cần

ước lượng, dự báo và có biện ơháp duy trì mổi loại hàng tồn kho để có tỉ trọnh

cuả từng loại đạt ở mức hợp lý trong suốt quá trìng hoạt động.

Cách phân loại này giúp các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm

tra kết cấu tối ưu của vốn luân chuyển để dựu thảo những quyết định tối ưu về

mức vận dung vốn lưu động đã bỏ ra.Mặt khác, thông qua cách phân loại này có

thể tìm biện pháp phát huy chức năng của các thành phần của vốn luân chuyển

bằng cách xác định ức dự trử hợp lý để từ đó mà xác định nhu cầu vốn lưu động.

Ví dụ, vốn nguyên liệu vật liệu nhằm bảo đảm quá trình sản xuất liên tục vơí

một số chi phí nhỏ nhất về mua sắm và bảo quản; vốn sản phẩm đang chế tạo

làm chức năng bảo đảm quá trình sản xuất được liên tục với năng suất lao động

được nâng cao

- Vốn lưu động khác

Vốn lưu động bổ xung là số vốn doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận, các khoản



tiền phải trả nhưng chưa đến hạn như tiền lương, tiền nhà...

Vốn lưu động do ngân sách cấp: là loại vốn mà doanh nghiệp nhà nước được nhà



nước giao quyền sử dụng.

10



Vốn liên doanh liên kết: là vốn do doanh nghiệp nhận liên doanh, liên kết với các



đơn vị khác.

Vốn tín dụng: là vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng và các đối tượng khác để



kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một cơ cấu vốn lưu

động hợp lý hiệu quả. Đặc biệt quan hệ giữa các bộ phận trong vốn lưu động

luôn thay đổi nên người quản lý cần phải nghiên cứu để đưa ra một cơ cấu phù

hợp với đơn vị mình trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.

1.1.3 Phương pháp phân tích tình hình sử dụng VLĐ.

• Phương pháp so sánh:

Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân

tích tài chính. Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm

đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh của chỉ tiêu phân tích cũng như kĩ

thuật so sánh.

• Phương pháp loại trừ :

Trong một số trường hợp, phương pháp này được sử dụng trong phân tích

tài chính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu tài

chính xác định các nhân tố còn lại không thay đổi. Phương pháp này còn là công

cụ hỗ trợ quá trình ra quyết định.





Phương pháp cân đối liên hệ :



Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối giữa

tài sản và nguồn vốn ; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả, cân đối, cân

đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm. Dựa vào

những cân đối cơ bản đó người ta vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem

xét những tác động ảnh hưởng của nhân tố này đến nhân tố kia như thế nào và

ảnh hưởng đến biến động của chỉ tiêu phân tích.

• Phương pháp chi tiết :

Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương

quan với nhau. Chẳng hạn mối tương quan giữa doanh thu của đơn vị càng tăng

11



thì số dư của các khoản nợ phải thu cũng tăng, hoặc doanh thu dẫn đến yêu cầu

về dự trữ hàng cho kinh doanh tăng. Một trường hợp khác là tương quan giữa

chỉ tiêu "chi phí đầu tư xây dựng cơ bản" với chỉ tiêu "nguyên giá tài sản cố

định" ở doanh nghiệp. Cả hai số liệu này đều trình lên Bảng cân đối kế toán.

Một khi trị giá các khoản xây dụng cơ bản gia tăng thường phản ánh doanh

nghiệp có tiềm lực về cơ sở hạ tầng trong thời gian đến. Phân tích tương quan sẽ

đánh giá tính hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỷ số

tài chính được phù hợp hơn và phục vụ công tác dự báo tài chính ở doanh

nghiệp

1.1.4 Nội dung phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động.

• Phân tích cơ cấu vốn kinh doanh

Bảng 1.1 Mẫu bảng phân tích cơ cấu VKD

Chỉ tiêu



Kỳ gốc

Số tiền %



Kỳ phân tích

Số tiền %



Chênh lệch

( + -) Tỷ lệ

%



1. Vốn cố định

2. Vốn lưu động

3.Tổng vốn kinh doanh



- Mục đích phân tích: nhằm nhận thức đánh giá khái quat tình hình tăng giảm

vốn kinh doanh và cơ cấu vốn kinh doanh qua các năm

- Nguồn phân tích các chỉ tiêu là “tài sản ngắn hạn”, “tài sản dài hạn”, “doanh

thu thuần và cung cấp dịch vụ bán hàng”, “lợi nhuận sau thuế”

Qua nguồn phân tích dữ liệu ta thấy được cơ cấu của doanh nghiệp có hợp lý

hay không từ đó điều chỉnh cho phù hợp. Đồng thời đánh giá sự tác động ảnh

hưởng của việc quản lý sử dụng vốn với việc thưc hiên chỉ tiêu kết quả kinh

doanh





Phân tích cơ cấu vốn lưu động



Mục đích phân tích: Nhằm thấy được tình hình tăng giảm, cơ cấu vốn lưu động

qua các năm



12



Nguồn phân tích các chỉ tiêu là: “tiền và cá khoản tiền tương đương”, “các

khoản đầu tư ngắn hạn”, “các khoản phải thu ngắn hạn”, “hàng tồn kho”, “tài

sản ngắn hạn khác”, “ doanh thu thuần và cung cấp dịch vu bán hàng ”

Qua nguồn phân tích dữ liệu ta thấy được sự ảnh hưởng đến tình hình thực hiện

chỉ tiêu kế hoạch bán hàng thấy được cơ cấu phân bổ vốn lưu động có đáp uwng

được nhu cầu hoạt đong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không?

• Phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động

Để khái quát về tình hình sử dụng vốn lưu động, ta tiến hành phân tích việc thực hiện

phân bổ vốn lưu động, muốn phân tích như vậy thì ta cần phải lập bảng phân tích như

sau:

Chỉ tiêu



Kỳ gốc

Số tiền %



Kỳ phân tích

Số tiền

%



Chênh lệch

( + -) Tỷ lệ

%



1. Tiền

2. Đầu tư ngắn hạn

3.Các khoản phải thu

4. Hàng tồn kho

5.TSLĐ khác

6. Tổng VLĐ



- Phân tích khái quát tình hình sử dụng sử dụng vốn lưu động nhằm mục đích

đánh giá tình hình tăng giảm và nguyên nhân tăng giảm qua đó thấy được sự tác

động ảnh hưởng đến tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch doanh thu bán

hàng .Với việc lập bảng phân tích như trên giúp ta biết được tình hình phân bổ

vốn lưu động ở doanh nghiệp như thế nào, tỉ trọng từng loại TSLĐ trong tổng tài

sản lưu động và việc phân bổ như thế đã hợp lý hay chưa. Xem xét xu hướng

biến động của các loại tài sản này qua các năm để thấy dược sự biến động đó có

tốt không. Từ đó có cơ sở để đi sâu phân tích sự biến động của từng bộ phận

VLĐ.

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động



13



Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh

tốc độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc

độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược lại.

-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốn

lưu động cần cho một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về chiều

hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng luân chuyển

thì càng tốt. Nhưng nếu hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì hiệu quả sử

dụng đồng vốn cũng không cao.

- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là thời gian ngắn nhất để vốn lưu động

quay được một vòng. Quan niệm này có thể nói là hệ quả của quan niệm trên.

-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh tổng TSLĐ so với

tổng nợ lưu động là cao nhất.

-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu được

khi bỏ ra một đồng vốn lưu động.

-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốn

lưu động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu

thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn lưu

động.

Tóm lại hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một pham trù kinh tế phản ánh

trình độ khai thác sử dụng và quản lý vốn lưu động làm cho đồng vốn sử dụng

lời tối đa nhằm mục đích cuối cùng của doanh nghiệp tối đa hóa hàng tồn kho

hoặc vốn chủ sử hữu.

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

* Phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động

- Phân tích tốc độ lưu chuyển của vốn bằng tiền



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về vốn lưu động.

Tải bản đầy đủ ngay(48 tr)

×