Tải bản đầy đủ - 15 (trang)
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THÀNH VIÊN HĐQT VÀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THÀNH VIÊN HĐQT VÀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP

Tải bản đầy đủ - 15trang

BÀI TẬP LỚN - MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CÔNG TY



Chủ tịch Hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức Giám đốc hoặc Tổng

giám đốc điều hành trừ khi việc kiêm nhiệm này được phê chuẩn tại Đại hội đồng cổ

đông thường niên.

1.1.3. Trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của thành viên HĐQT

Thành viên Hội đồng quản trị có đầy đủ các quyền theo quy định của Luật

Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan và Điều lệ công ty, đặc biệt là quyền

được cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của

công ty và của các đơn vị trong công ty.

Thành viên Hội đồng quản trị phải tuân thủ đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ

theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan.

Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ của mình

một cách trung thực, cẩn trọng vì quyền lợi tối cao của cổ đông và của

Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của

Hội đồng quản trị và có ý kiến rõ ràng về các vấn đề được đưa ra thảo luận.

Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm công bố cho công ty các khoản

thù lao mà họ nhận được từ các công ty con, công ty liên kết và các tổ chức khác mà

họ là người đại diện phần vốn góp của công ty.

Các thành viên Hội đồng quản trị và những người có liên quan khi thực hiện

giao dịch cổ phần của công ty phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thực

hiện công bố thông tin về việc giao dịch này theo quy định của pháp luật.

Công ty đại chúng có thể mua bảo hiểm trách nhiệm cho các thành viên Hội

đồng quản trị sau khi có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Bảo hiểm này không

bao gồm bảo hiểm cho những trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị liên quan

đến việc vi phạm pháp luật và Điều lệ công ty.

1.2. Tổng quan về thành viên HĐQT độc lập

Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một

bên là cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều

hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý

thường không phải là cổ đông nắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều

hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân,

quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về quản trị doanh

Học viên: Trần Thị Thương – Lớp: QLKT 3



Trang 4



BÀI TẬP LỚN - MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CÔNG TY



nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường niêm yết thường

yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có sự tham gia của các thành viên HĐQT

độc lập (Independent directors – ID). Các thành viên này có vai trò rất quan trọng

trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý

công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong quy định về ID,

nhưng tựu chung có thể thấy ID bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tính độc lập

như sau:

1.2.1. Độc lập trong quan hệ nhân thân

- Không từng là nhân viên, người quản lý điều hành của công ty, người đại diện

vốn của công ty mẹ tại công ty trong vòng 3-5 năm trước đó.

- Không có mối quan hệ, liên kết với người quản lý điều hành, nhân sự cấp cao

của công ty, cổ đông lớn (sở hữu một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của công ty trở lên).

- Không là người làm tư vấn, kiểm toán cho công ty, công ty liên quan trong

một khoảng thời gian nhất định trước đó với tư cách cá nhân hoặc là người quản lý

điều hành, nhân viên, đối tác, chủ sở hữu,… của hãng cung cấp các dịch vụ này.

- Thời gian tham gia làm thành viên HĐQT của công ty không quá một số năm

nhất định kể từ ngày được bổ nhiệm lần đầu tiên. Chẳng hạn, 9 năm theo luật Anh,

HongKong,…

1.2.2. Độc lập trong quan hệ về sở hữu và kinh tế

- Không phải là người sáng lập, là cổ đông lớn của công ty hay là người đại

diện của cổ đông lớn. Một số nơi còn quy định tỷ lệ tối đa cổ phiếu của công ty niêm

yết mà ID được phép nắm giữ, chẳng hạn 1% theo quy định niêm yết (Listing Rules –

LR) tại HongKong.

- Ngoại trừ thù lao từ việc làm thành viên HĐQT, không hưởng bất kỳ lợi ích

vật chất nào khác (như quyền mua cổ phiếu, các khoản trợ cấp,…) từ công ty.

- Trong vòng 3 năm trước đó không nhận các khoản bồi thường, đền bù,… từ

công ty (trừ lương hưu, thù lao do tham gia các ủy ban,…) trên mức quy định, chẳng

hạn 100.000 USD theo LR của Sở Giao dịch chứng khoán NewYork (NewYork Stock

Exchange – NYSE).



Học viên: Trần Thị Thương – Lớp: QLKT 3



Trang 5



BÀI TẬP LỚN - MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CÔNG TY



- Không có quan hệ kinh tế (với danh nghĩa cá nhân hay với tư cách là người

quản lý điều hành, chủ sở hữu,… ) dưới dạng hợp đồng, thỏa thuận, cam kết với công

ty và công ty liên quan trong vòng 2 (HongKong, Malaysia,…) hoặc 3 (Mỹ, Úc,…)

năm trước có giá trị cao hơn mức quy định. Ví dụ: 120.000 USD hoặc 2% tổng doanh

thu gộp hợp nhất theo quy định ở Mỹ, 1 triệu Ringgit hoặc 5% doanh thu theo quy

định của Malaysia,…

1.2.3. Yêu cầu của một số quốc gia, thị trường niêm yết

Theo quy định của NYSE hoặc SGD Chứng khoán Úc (Australian Stock

Exchange – ASX), công ty niêm yết phải có đa số thành viên HĐQT là độc lập. Các ID

phải họp thường kỳ (ít nhất mỗi năm 1 lần) không có sự tham gia của những người

quản lý hoặc các thành viên HĐQT điều hành/không độc lập để tăng cường sự trao đổi

và thông tin giữa các ID. Công ty phải thiết lập và công khai cơ chế để mọi tổ chức, cá

nhân quan tâm có thể liên hệ với ID. Công ty phải thành lập Ủy ban bổ nhiệm có

nhiệm vụ giới thiệu các ứng viên tiềm năng tham gia HĐQT và đánh giá hoạt động của

HĐQT, Ban điều hành; phải thành lập Ủy ban thù lao, Ủy ban kiểm toán. Thành viên

của cả 3 Ủy ban trên phải bao gồm toàn bộ (NYSE) hay đa số (ASX) là ID.

Ở Anh, Luật hỗn hợp về quản trị công ty (Combined Code on Corporate

Governance – CCCG) quy định, các công ty khác phải có ít nhất 2 hoặc ½a số thành

viên HĐQT là ID tùy số nào lớn hơn. HĐQT phải chỉ định một ID cao cấp để các cổ

đông có thể trực tiếp trao đổi về những quan tâm của họ; phải thành lập Ủy ban bổ

nhiệm gồm đa số các ID , Ủy ban thù lao bao gồm ít nhất 2-3 ID, Ủy ban kiểm toán

bao gồm tất cả các ID. Các ID định kỳ có trách nhiệm đánh giá việc thực thi nhiệm vụ

của Chủ tịch HĐQT.

Tại HongKong, Malaysia theo các quy định về niêm yết (LR) HĐQT công ty

niêm yết phải có ít nhất 1/3 hoặc 3 (HongKong) hay 2 (Malaysia) ID tùy số nào lớn

hơn, phải thành lập Ủy ban kiểm toán do một ID làm chủ tịch với tất cả các thành viên

không điều hành và phần lớn trong số đó là ID. Các công ty niêm yết phải thành lập

Ủy ban nhân sự và Ủy ban thù lao bao gồm phần lớn là các ID.



Học viên: Trần Thị Thương – Lớp: QLKT 3



Trang 6



BÀI TẬP LỚN - MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CÔNG TY



CHƯƠNG 2: THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP BÊN NGOÀI

CÓ THỰC SỰ ĐỘC LẬP KHÔNG

Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một

bên là cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều

hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý

thường không phải là cổ đông nắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều

hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân,

quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về quản trị doanh

nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường niêm yết thường

yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có sự tham gia của các thành viên HĐQT

độc lập (Independent directors – ID). Các thành viên này có vai trò rất quan trọng

trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý

công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.

Vai trò của ID, như đã nói, xét trên phương diện lý thuyết là rất quan trọng. Tuy

nhiên, trên thực tế người ta có nhiều lý do để quan ngại về tính độc lập cũng như khả

năng độc lập của các ID.

2.1. Mối quan hệ

Luôn tồn tại các mối quan hệ có nguy cơ làm ảnh hưởng đến tính độc lập.

Chẳng hạn, một số ID của Enron’s đã từng có sự liên kết với các tổ chức từ thiện được

nhận một khoản đóng góp đáng kể từ công ty này. Theo thời gian, với sự tham gia

ngày càng sâu vào hoạt động của công ty cùng với sự nảy sinh và phát triển của các

mối quan hệ, tính độc lập ban đầu của các ID có xu hướng ngày càng giảm đi. Mặt

khác, thù lao lớn một cách quá mức cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến tính độc lập

do các ID sẽ chú tâm đến việc củng cố vị trí hơn là thực thi chức phận của mình.

Để nâng cao tính độc lập của các ID cần thắt chặt quy định về "khái niệm" độc

lập; quy định thời hạn cho việc tham gia HĐQT với tư cách là ID; thuê tư vấn, kiểm

toán bên ngoài hàng năm đánh giá tính độc lập của thành viên HĐQT trên những khía

cạnh chủ yếu. Mặt khác, bản thân mỗi ID cần xác định rõ, lợi ích mà họ có được là do

cổ đông chia sẻ và vì vậy trên hết họ phải có nghĩa vụ đại diện và bảo vệ cổ đông.



Học viên: Trần Thị Thương – Lớp: QLKT 3



Trang 7



BÀI TẬP LỚN - MÔN HỌC: QUẢN TRỊ CÔNG TY



2.2. Khả năng kiểm soát kỹ lưỡng và tính quyết đoán

ID có thể không phải là những người có am hiểu sâu sắc về công ty và lĩnh vực

hoạt động của công ty. Chính vì thiếu kiến thức chuyên sâu và sự am hiểu về công ty

nên họ khó có thể đưa ra những chất vấn thích đáng. Thêm vào đó, để được bổ nhiệm

làm thành viên HĐQT họ có thể phải trải qua quá trình tham vấn tín nhiệm từ các

thành viên điều hành, những người có thể nắm đa số cổ phần và có lá phiếu quyết

định. Cảm giác hàm ơn do được bổ nhiệm vào HĐQT sẽ khiến họ cảm thấy miễn

cưỡng mỗi khi định đưa ra những ý kiến phản biện đối với các đề xuất từ phía người

điều hành. Mặt khác, các thành viên HĐQT không là người trực tiếp điều hành hoạt

động của công ty, lại không có trong tay bộ máy điều hành nên đôi khi tiếng nói của họ

thường trở thành "không chính thống" và trở nên không mấy hiệu lực.

Để khắc phục những vấn đề trên, các ID nên nhóm họp thường xuyên, không có

sự tham gia của thành viên điều hành để chia sẻ ý kiến và những mối lo ngại. Cần chỉ

định một thành viên ID cao cấp để lãnh đạo nhóm ID nhằm tăng cường việc chất vấn

và kiểm soát kỹ lưỡng công tác quản lý. Mặt khác, cũng cần quy định rõ những quyết

định cần có sự phê duyệt đồng thuận của tất cả các thành viên HĐQT độc lập, chẳng

hạn các giao dịch vượt quá một ngưỡng giá trị nào đó,… Việc tham vấn các ý kiến tư

vấn chuyên nghiệp về những vấn đề phức tạp, quan trọng cũng là điều cần tính đến.

Bên cạnh đó, một điều quan trọng là các ID phải gia tăng nỗ lực cá nhân để có thể trở

thành những chuyên gia giỏi trong một số lĩnh vực trọng yếu, đủ sức phản biện, chất

vấn,… nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và hoạt động của công ty, tránh để Ban quản

lý lạm dụng chức quyền, ảnh hưởng đến lợi ích cổ đông.

2.3. Khả năng tiếp cận các thông tin một cách độc lập

Ở các công ty, thường có tình trạng các thành viên HĐQT trông chờ một cách

quá mức vào các thông tin do người quản lý cung cấp (kênh chính thống). Đáng tiếc là

trong nhiều trường hợp, thông tin từ kênh này, trước khi đến được HĐQT thường đã

được "chế biến", được "lọc" để mang tính thuyết phục hơn là cung cấp thông tin. Trở

lại với vụ Enron cách đây đã gần 1 thập niên, phần lớn những thông tin chuẩn xác về

tình hình của tập đoàn đã không đến được các thành viên HĐQT, phần đông trong số

họ vốn đã thỏa mãn với mức thù lao trên trời và mối quan hệ hữu hảo với Ban quản lý,

… Sự thỏa hiệp là tất yếu dẫn đến sự sụp đổ cũng là tất yếu.

Học viên: Trần Thị Thương – Lớp: QLKT 3



Trang 8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THÀNH VIÊN HĐQT VÀ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP

Tải bản đầy đủ ngay(15 tr)

×