Tải bản đầy đủ - 17 (trang)
Chướng II: Biến động tỷ giá ở Việt Nam và những tác động của tỷ giá đến sự tăng trưởng kinh tế

Chướng II: Biến động tỷ giá ở Việt Nam và những tác động của tỷ giá đến sự tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ - 17trang

[Type the document title]



CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI



1.



I.

Khái niệm chung:

Khái niệm:

Tỷ giá hối đoái Trong tài chính, tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại

đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là

giá trị đồng tiền của một quốc gia đối với một tiền tệ khác.Ví dụ, một tỷ giá hối

đoái liên ngân hàng của yên Nhậtvới đô la Hoa Kỳ là 91 có nghĩa là 91 Yên sẽ

được trao đổi cho mỗi 1 USD hoặc 1 USD sẽ được trao đổi cho mỗi 91 Yên. Tỷ giá

hối đoái được xác định trong thị trường ngoại hối,rộng mở cho một loạt loại người

mua và người bán khác nhau nơi việc trao đổi tiền tệ là liên tục, 24 giờ một ngày,

ngoại trừ những ngày cuối tuần, tức là giao dịch từ 20:15 GMT Chủ nhật cho đến

22:00 GMT thứ Sáu.

Tỷ giá giao ngay đề cập đến tỷ giá hối đoái hiện hành.

Tỷ giá kỳ hạn đề cập đến một tỷ giá được báo giá và trao đổi hôm nay nhưng

cho giao hàng và thanh toán vào một ngày trong tương lai cụ thể.

Để ổn định nền kinh tế trong nước thì phải điều chỉnh giá đồng nội tệ sao cho

hợp lý. Nếu đồng nội tệ lên giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, do đó người

dân có xu hướng tiêu dùng hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất

khẩu, thu hẹp sản xuất trong nước, mặc dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp gia

tăng. Nếu đồng nội tệ mất giá, thì lạm phát lên cao.

Trong thị trường ngoại hối bán lẻ, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra khác nhau sẽ

được báo giá bởi các đại lý đổi tiền. Hầu hết các trao đổi đều liên quan đến đồng



Page 2

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

nội tệ. Tỷ giá mua vào là tỉ giá mà các đại lý đổi tiền sẽ mua ngoại tệ và tỷ giá bán

ra là tỉ giá mà họ sẽ bán ngoại tệ. Tỷ giá được báo giá sẽ kết hợp dự phòng cho biên

của đại lý (hoặc lợi nhuận) trong trao đổi, hoặc biên có thể được phục hồi trong

hình thức của một "hoa hồng" hoặc trong một số cách khác. Tỉ giá khác nhau cũng

có thể được báo giá cho tiền mặt (thường chỉ ghi chú), một hình thức tài liệu (chẳng

hạn như các séc du lịch) hoặc điện tử (ví dụ như mua bằng thẻ tín dụng). Tỷ giá cao

hơn về các giao dịch tài liệu là do thời gian và chi phí thanh toán bù trừ tài liệu bổ

sung, trong khi tiền mặt có sẵn để bán lại ngay lập tức. Một số đại lý, mặt khác, lại

thích các giao dịch tài liệu bởi vì những mối quan tâm an ninh với tiền mặt.

2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái:



Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay,

có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn cũng như dài hạn đến tỷ giá, bao gồm các

yếu tố sau đây:

a/ Cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ

của một nước so với các nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế lẫn nhau, cán

cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia bội chi hoặc bội thu:

- Nếu cán cân thanh toán quốc tế bội chi: (chi >thu), thì quốc gia đó phải xuất

ngoại tệ trả nợ, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng

tăng lên.

- Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế bội thu (thu > chi), nước ngoài trả

nợ bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm.



Page 3

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

- Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong

trường hợp điều kiện môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh

tế - chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh

chóng đến sự thay đổi của tỷ giá.

b/ Lãi suất

Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các

công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền

khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền này có chiều hướng thay đổi. Vấn

đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu thập đầu tư từ các đồng

tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất.

Thông thường các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao,

được thể hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển

đổi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều

hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Điều này

sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường,từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá.

Tuy nhiên trong suốt thời gian đầu tư hay cho vay,… tỷ giá biến động tăng

hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia

tăng tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Thực tế,

thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều

nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn

c/ Ngang giá sức mua:



Page 4

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

Ngang giá sức mua chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai

đồng tiền, được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai

nước khác nhau được tính theo đồng tiền của hai nước.

Nếu cùng một số tiền ngang nhau người ta mua được một lượng hàng ngang

nhau ở mọi nước thì như vậy mậu dịch quốc tế sẽ không có lãi và không kích thích

ngoại thương phát triển, điều đó có nghĩa là, các đồng tiền đều ở trong tình trạng

ngang nhau về sức mua.

Vì vậy cần phải hiểu nền tảng của ngang giá sức mua được thể hiện: nếu như

một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ hơn thì xuất khẩu mặt hàng đó sang một

nước khác giá đắt hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu một mặt hàng trong quốc

gia sản xuất đắt hơn so với giá thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khẩu

mặt hàng đó sẽ có lợi hơn. Vấn đề này lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một

mặt hàng ở các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ

có điều kiện thuận lợi sản xuất ra hàng hóa với chi phí thấp, sẽ là cơ hội để các

nước này đẩy mạnh xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó

sản xuất trong nước giá cao hơn. Sự gia tăng thương mại mậu dịch thế giới dẫn đến

thực hiện các khoản thu chi ngoại tệ, từ đó làm ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ

trên thị trường và tác động đến tỷ giá hối đoái.

d/ Các điều kiện kinh tế:

Về ngắn hạn, các hoạt động kinh doanh và đầu tư hàng ngày đều tác động

trực tiếp đến cung và cầu vốn đặc biệt là các khoản giao dịch với quy mô lớn trên

thị trường. Những yếu tố kinh tế chính trị tác động tức thời đã làm thay đổi đáng kể

các khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua,… Mức cung, cầu ngoại



Page 5

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

tệ biến động trên thị trường thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các luồng thu chi ngoại tệ,

từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái.

Về dài hạn, tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi tình hình và xu hướng phát triển

kinh tế quốc gia cũng như các biến động trên thị trường thế giới, được thể hiện qua

những yếu tố cơ bản như sau: cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm

phát, thất nghiệp, thuế suất, cung và cầu vốn,… Tất cả những nhân tố trên tạo nên

áp lực cung và cầu vốn trên thị trường, vốn ngoại tệ sẽ chảy vào một nước khi các

nhà đầu tư thấy có cơ hội kinh doanh và một số nước cần vốn và đưa ra các mức lãi

suất hấp dẫn, còn các nước khác thừa tiền thì có khả năng đầu tư sang các nước

khác, dẫn đến làm dịch chuyển luồng vốn đầu tư giữa các nước. Tuy nhiên, các nhà

đầu tư không phải luôn luôn lúc nào cũng đầu tư chỉ vì lãi suất cao mà còn phải

tính đến các yếu tố chiến lược khác như: môi trường kinh tế - chính trị ổn định,

chính sách thuế quan,…

e/ Những yếu tố chính trị:

Sự biến động của tỷ giá trong ngắn hạn cũng như dài hạn đều bị ảnh hưởng

bởi các yếu tố chính trị, mức độ bất ổn trong tình hình chính trị và các chính sách

điều tiết của nhà nước. Có thể nói sự ổn định về chính trị được xem như là điều

kiện hấp dẫn thu hút vốn đầu tư, và làm dịch chuyển vốn đầu tư nhanh chóng. Tình

hình chính trị bất ổn sẽ dẫn đến hiện tượng tháo chạy vốn, đảo ngược dòng vốn,…

là nguyên nhân nguy cơ khủng hoảng tài chính.

f/ Các yếu tố khác:

Tỷ giá còn chịu tác động của các yếu tố khác như: tâm lý, chính sách kinh tế,

môi trường đầu tư,…



Page 6

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

Tóm lại, những biến động các nhân tố nêu trên đã tác động làm thay đổi cung

cầu ngoại tệ, giá trị đồng tiền sẽ tăng hoặc giảm trên thị trường.



CHƯƠNG II: BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM

Page 7

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]



Nhìn lại cơ chế điều hành tỷgiá Việt Nam, trước năm 1989, trong quan hệ với

các nước thuộc khối XHCN trước đây, tỷ giá của Việt Nam được tính theo đồng

Rúp clearing (sau này đổi là rúp chuyển khoản- transferable ruble) đồng tiền ghi sổ

dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định với

nhau để làm sao cho tài khoản các bên, sau khi trao đổi ngoại thương theo khối

lượng đã được quy định trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không

còn số dư. Đặc trưng của chế độ tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã

bộc lộ nhiều mặt bất hợp lý, nó không những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá

hối đoái trong việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm

hãm các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta là nguyên nhân dẫn đến tình trạng

trì trệ kinh tế trong một thời gian dài.

Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và

giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá

bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất

nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh

xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ

tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản

thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với

bối cảnh thực tế. Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời

với thị trường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của

các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của nhà

nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận động theo quy luật

cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà

nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước



Page 8

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng năm có khác nhau, ta có thể chia ra

3 giai đoạn:

1.Giai đoạn thả nổi tỷgiá: 1989-1992:

Trong giai đoạn này, tỷ giá VND/USD có khuynh hướng tăng và được nhà

nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này chứng tỏ nhà nước bắt đầu

thả nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm đầy đủ hơn. Đỉnh cao

của mức tăng tỷ giá USD là cuối năm 1991, giá đô la Mỹ trên thị trường Hà Nội là

14.450 VVND/USD, giá đô la trong tháng 12/1990 đã tăng từ 60% đến 80% so

mức giá đầu năm.

Diễn biến tỷ giá hối đoái từ năm 1989 đến năm 1992 phản ánh khoảnh cách tỷ

giá của nhà nước với tỷ giá hình thành trên thị trường từ do, ngoài ra nó còn phản

ánh xu hướng tăng nhanh của giá trị đồng đô la ở cả khu vức nhà nước lẫn thị

trường. Năm 1990, giá trị đồng đô la vào thời điểm cuối năm đã tăng tới 50% so

với đầu năm, mức tăng giá USD trong năm 1991 còn cao hơn. Việc làm này đã

kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ, nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá. Tình trạng

tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn sốc USD làm

mất ổn định nền kinh tế. Quản lý ngoại tệ của chính phủ không đạt được kết quả

như mong muốn.Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ. Tình trạng leo

thang của giá đồng Đôla đã kích thích tâm lý dự trữ Đôla. Ngoại tệ vốn đã khan

hiếm lại không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng

vèo giữa các tổ chức trong nước. Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít

đem lại kết quả, thậm chí có những quyết định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã

bị mất hiệu lực ngay khi vừa mới công bố.

Đến đầu năm 1992, Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều chỉnh tỷ

giá như buộc các doanh nghiệp có đô la phải gửi vào ngân hàng, bãi bỏ hình thức

quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa ngân sách với các tổ



Page 9

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu.Thay vào đó, trên cơ sở tỷ giá hình thành tại

các phiên giao dịch ngoại tệ, ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức. Cơ chế

hình thành và quản lý tỷ giá hối đoái mềm dẻo như vậy cộng với sự can thiệp điều

tiết của ngân hàng nhá nước đối với lượng ngoại tệ mua bán tại các phiên giao dịch

đã giải toả được tâm lý đầu cơ ngoại tệ, ngăn được xu hướng tăng quá mức giá

Đôla Mỹ trên thị trường…, làm cho giá đô la bắt đầu giảm, cụ thể là cuối năm 1991

tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14.500 đồng/ USD chỉ còn 11.550 VND/USD vào

tiếp tục giảm dến cuối năm 1992.

2 .Quá trình đi tới một chính sách tỷgiá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị trường

(1992 - 1999)

a.



Từ năm 1992 đến năm 1997:



Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của ngân hang nhà nước vào

thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ của

các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ, hướng mạnh vào kinh doanh

xuất nhập khẩu. Đồng thời ngoại tệ từ bên ngoài vàonhiều nên kinh doanh cung cầu

ngoại tệ đảo ngược so với cùng kỳ mội năm, giá Dola giảm mạnh, mức giá phổ

biến trên thị trường tư nhân Hà nội năm 1993 là 10.300 đến 10.400. Tình trạng giá

USD giảm mạnh đã ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và kích thích nhập khẩu quá

mức, nên ngân hàng nhà nước lại phải can thiệp nhằm tăng giá đồng USD.

Trong hầu hết các phiên giao dịch của quý I năm 1993, hệ thống ngân hang phải

mua Dola vào nhằm ngăn chặn xu hướng giảm giá của đồng tiền này. Từ tháng

3/1993 USD đã lên giá dần và duy trì xu hướng lên giá một cách ổn định (ở đây nói

về tỷ giá danh nghĩa VND/USD). Tháng 10/1994 khi thị trường ngoại tệ đã phát

triển đến một giai đoạn nhất định, xét trên khía cạnh phạm vi cũng như cơ cấu tổ

chức, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ không còn phù hợp. Số lượng ngân hàng



Page 10

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

tham gia vào giao dịch tăng nhanh. Phạm vi và cường độ giao dịch cũng ngày càng

phát triển và mở rộng.

Trước tình hình mới Ngân hàng Nhà nước đã cho phép thị trường ngoại tệ liên

Ngân hàng ra đời, thay thế hoạt động của hai trung tâm giao dịch. Bởi thị trường

liên Ngân hang có qui mô lớn hơn và mang tính thị trường khách quan, linh hoạt

hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước cũng càng sát

với thực tế hơn. Đồng thời qua thị trường, Ngân hàng Nhà nước có thể bắt nắm

được nhu cầu tổng thể của nền kinh tế về ngoại tệ trong từng thời kỳ, điều tiết kịp

thời tỷ giá hối đoái. Ngân hàng Nhà nước đã thông qua thị trường lien Ngân hang

để nắm bắt tín hiệu của tỷ giá hối đoái, sử dụng tỷ giá chính thức công bố hang

ngày và biên độ qui định tỷ giá giao dịch cho các Ngân hàng thương mại làm công

cụ hỗ trợ, can thiệp và điều hoà hướng tỷ giá thị trường theo mục tiêu của chính

sách tỷ giá và chính sách tiền tệ. Thực lực của Ngân hàng Nhà nước về ngoại tệ

cũng đã tăng lên, tỷ giá đã phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng tiền

Việt Nam và quan hệ cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đủ điều kiện cho phép

Ngân hàng Nhà nước dần dần nới hơn đối với cơ chế điều hành tỷ giá. Thực tế tỷ

giá chính thức đã được điều chỉnh ngày một linh hoạt, theo sát với thực tế và biên

độ giao dịch cho các Ngân hàng thương mại đã được mở rộng liên tục ( tử # 0,5% ,

+_ 0,1% đến #5% so với tỷ giá chính thức )

b.



Từ năm 1997 đến năm 1999:

Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh của cuộc khủng



hoảng tài chính châu Á, đây là giai đoạn với những điều chỉnh nhỏ, liên tục trong

chính sách tỷ giá hối đoán, từ tháng 7 năm 1997 đến đầu năm 1999 có nhiều lần

thay đổi biên độ giao dịch với các mốc chính như sau:

Ngày 13/10/1007, ngân hàng quyết định mở rộng biên độ giao dịch lên mức

10%. Ngày 16/12/1998, ngân hàng Nhà nước quyết định nâng tỷ giá chính thức từ

1 USD=11175 VND lên mức 1USD= 118000 VND, tăng 5,6%, ngày 7/8/1998,

Page 11

Mônhọc: Kinh tế học



[Type the document title]

Ngân hàng nhà nước quyết định thu hẹp biên độ giao dịch xuống còn 7% đồng thời

nâng tỷ giá chính thức lên 1 USD=12998 VND, ngày 26/1/1998 là 1USD=12987

VND… cho đến ngày 15/1/1999 thì tỷ giá chính thức chỉ còn ở mức 1USD=

12980VND

3 .Từ năm 1999 đến nay:

Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2007 được đánh dấu bằng việc đồng EUR

được lưu hành thống nhất trên tất cả các quốc gia EU và trở thành đối thủ nặng ký

của USD, trong bối cảnh này, Việt Nam đã áp dụng chế độ neo tỷ giá có điều chỉnh.

Trong giai đoạn này, biên độ tỷ giá được nới rộng từ +/-0.1% đến */+0.25% đối với

nghiệp vụ giao ngày và +/-0.4% lên +/-0.5% đối với nghiệp vụ kỳ hạn ngày

1/7/2002. Tỷ giá nội tệ bị ép cao hơn giá trị thực khiến đồng Việt Nam được định

giá cao hơn USD từ 10-20%

Năm 2007, Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỷ

giá từ 0.25% lên 0.5% vào đầu năm và tới 12/12/2007 tiếp tục nới rộng biên độ lên

0.75%.

Năm 2008, được giới phân tích tài chính coi là “năm bất ổn của tỷ giá” với

những biến động tỷ giá phức tạp. Trước tình hình suy thoái kinh tế ảnh hưởng mạnh

đến Việt Nam, các dòng vốn vào Việt Nam bị hạn chế , ngân hàng nhà nước đã chủ

động điều chỉnh giá liên ngân hàng để tăng tính thanh khoản trên thị trường ngoại

tệ. Tính đến ngày 26/12/2008, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh biên độ

tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng từ 2% lên 3%.

Năm 2009, Ngân hàng nhà nước thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5%

khiến cho tỷ giá ngoại tê liên ngân hàng đã có đợt tăng đột biến. Tỷ giá giữa USD/

VND trong năm 2009 đã trải qua 2 lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 tăng biên độ

giao dịch từ 3% lên 5% và vào tháng 11 là +3.4%. Ngày 26/11/2009, tỷ giá bình

quân liên ngân hàng được điều chỉnh tăng thêm 5.44% so với hôm trước. Đồng thời

biên độ tỷ giá giảm từ 5% xuống còn 3%. Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá

Page 12

Mônhọc: Kinh tế học



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chướng II: Biến động tỷ giá ở Việt Nam và những tác động của tỷ giá đến sự tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(17 tr)

×