Tải bản đầy đủ - 51 (trang)
Lập bảng phân tích

Lập bảng phân tích

Tải bản đầy đủ - 51trang

ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ



TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THEO TỪNG MẶT H



Kì gốc

STT



Kì nghiên cứu



So sánh

(%)



Chê



Mặt hàng

Tỷ

trọng

(%)



Giá trị

(103đ)



Giá trị

(103đ)



Tỷ trọng

(%)



1



Ba lô du lịch



97.438.426



20,47



103.455.658



19,47



106,18



6.



2



Túi học sinh



126.712.794



26,62



146.761.441



27,62



115,82



20.



3



Túi thể thao



72.162.508



15,16



85.867.664



16,16



118,99



13.



4



Túi xách



53.217.470



11,18



54.092.378



10,18



101,64



8



5



Thắt lưng



34.320.032



7,21



41.499.162



7,81



120,92



7.



6







19.325.843



4,06



23.167.266



4,36



119,88



3.



7



Hàng khác



72.828.916



15,30



76.515.741



14,40



105,06



3.



Tổng giá trị sản xuất (Gs)



476.005.989



100



531.359.309



111,63



55.



28



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



100



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

2.Phân tích

2.1. Đánh giá chung

Kết quả sản xuất theo mặt hàng của doanh nghiệp kỳ nghiên cứu so với kỳ

gốc tăng một lượng tuyệt đối là 55.353.321 nghìn đồng, và một lượng tương đối là

111,63 %. Trong doanh nghiệp cơ cấu mặt hàng được chia ra thành tám nhóm: Ba

lô du lịch, túi học sinh, túi thể thao, túi xách, thắt lưng, ví và các loại mặt hàng

khác.

Nhìn chung các mặt hàng đều có biến động tăng so với kỳ gốc trong đó

biến động lớn nhất là mặt hàng túi học sinh, tăng một lượng tuyệt đối là

20.048.647 nghìn đồng và đạt 115,82% so với kỳ gốc túi thể thao và các mặt hàng

khác thì biến động tăng sự biến động của mặt hàng túi học sinh đã ảnh hưởng đến

giá trị sản xuất của toàn doanh nghiệp là 4,21%. Để tìm hiểu sự biến động của

từng nhóm mặt hàng cũng như ảnh hưởng của nó tới toàn bộ giá trị sản xuất của

doanh nghiệp ta sẽ lần lượt phân tích cụ thể từng mặt hàng sau.

2.2. Phân tích chi tiết

2.2.2.Đối với mặt hàng ba lô du lịch

Dễ dàng nhận thấy sự biến động của mặt hàng dầu thô qua bảng phân tích

như sau:

Ở kỳ nghiên cứu mặt hàng này đạt 103.455.658(103đ) , tăng đến 106,18%

so với kỳ gốc, tương ứng tăng 6.017.232(10 3đ) . Sự tăng lên này đã làm tăng giá

trị sản xuất lên 1,26 %. Sự biến động này có thể do tác động của một số nguyên

nhân sau:

Sự biến động giá trị của mặt hàng này có thể là do 5 nguyên nhân cơ bản sau:

- Thêm một số hợp đồng sản xuát bán cho các tỉnh thành lân cận được thực hiện.

- Doanh nghiệp đưa mặt hàng này vào mặt hàng sản xuất chính trong kỳ.

29



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

- Công nghệ khai thác đã được đổi mới hơn.

- Trong quá trình vận chuyển thất thoát xảy ra không đáng kể

- Khả năng bảo quản tốt nên mất mát khối lương không nhiều.

2.2.1.1. Về nguyên nhân chủ quan

a. Chủ quan tích cực

1.Nguyên nhân thứ nhất đó là: “Trong quá trình vận chuyển thất thoát xảy ra

không đáng kể”. Do chú ý tốt trong công tác vận chuyển việc kiểm tra chất lượng

của các ba lô có đảm bảo chất lượng và số lượng. Việc này đã hạn chế thất thoát

một số sản phẩm bị thất thoát một lượng đáng kể do đó doanh nghiệp không phải

chịu thêm những chi phí phụ để giải quyết những vấn đề không giao hàng đúng

hợp đồng

Đây là một nguyên nhân chủ quan và tích cực,nhưng doanh nghiệp cùng cần phải

nâng cao một số biện pháp để phòng

2.Nguyên nhân thứ 2 đó là: “Công nghệ sản xuất đã được đổi mới hơn”. Doanh

nghiệp đã chú trọng hơn đến việc đầu tư nâng cấp công nghệ sản xuất do tiềm lực

tài chính tăng cao nhờ vào những năm trước, nhờ đó doanh nghiệp đã có những

dây chuyền máy móc có công suất làm việc hiệu quả hơn. Chính những thuận lợi

đó đã làm cho năng suất sản xuất tăng, giá trị của mặt hàng ba lô du lịch cũng tăng

theo. Đây lại là một nguyên nhân chủ quan và ảnh hưởng tích cực.

b. Chủ quan tiêu cực

3.Nguyên nhân thứ ba đó là: “Khả năng bảo quản tốt nên mất mát khối lương

không nhiều”. Quá trình bảo quản, cất trữ của doanh nghiệp được thắt chặt, lực

lượng bảo vệ kho hàng tốt nên không để xảy ra tình trạng mất trộm , mất cắp

không rõ nguyên nhân.



30



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Đây là một nguyên nhân chủ quan và tích của bản thân doanh nghiệp. Nhưng

doanh nghiệp cùng cần thêm một số biện pháp đề phòng

- Thắt chặt công tác quản lý nơi cất trữ

- Quy trách nhiệm cho người quản lý nếu không tìm ra nguyên nhân và đối tượng

gây thất thoát để nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc.

2.2.1.2. Về nguyên nhân khách quan

a. Khách quan tích cực

4.Nguyên nhân thứ tư đó là: “Thêm một số hợp đồng xuất bán hàng hóa bán cho

các tỉnh lân cận được thực hiện”. Trong năm vừa qua có thêm một số hợp đồng

xuất bán hàng hóa bán cho các tỉnh lân cận của doanh nghiệp đã được thưc hiện

được vì vào mùa du lịch khách hàng mua nhiều do đó các sản phẩm được bán ra

một cách thuận lợi. Giá trị ba lo du lịch tăng lên, dẫn đến hợp đồng làm ăn giữa

các bên được suôn sẻ.

Đây được xem là một nguyên nhân khách quan tác động tích cức tới tình hình sản

xuất của doanh nghiệp.

5.Nguyên nhân thứ năm đó là: “Doanh nghiệp đưa mặt hàng này vào mặt hàng sản

xuất chính trong kỳ”. Ngay từ đầu kỳ, doanh nghiệp đã đưa mặt hàng này vào mặt

hàng sản xuất chính do doanh nghiệp đã tiến hành thăm dò thị trường và thấy rằng

thị trường về mặt hàng này có nhiều biến động có thể kiểm soát được lượng hàng

hơn thế việc sản xuất ba lô du lịch lại đang rất thuận lợi như đã nêu trên khiến cho

doanh nghiệp đẩy mạnh được quá trình sản xuất.

Đây cũng là một nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tích cực đến tình hình khai

thác và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp làm cho doanh thu của nó tăng so với

kỳ gốc một lượng đáng kể.

2.2.2. Đối với mặt hàng túi học sinh

31



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Dựa vào bảng phân tích ta thấy:

Mặt hàng túi học sinh chiếm 27,62% tổng giá trị sản xuất ở kỳ nghiên cứu, tương

ứng với 146.761.441 (103đ) về quy mô. Đây là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất

của giá trị sản xuất. Mặt hàng này tăng 115,82% so với kỳ gốc,tương ứng tăng

20.048.647 (103đ) Giả sử có sự biến động trên là do một số nguyên nhân chủ yếu

sau :

- Doanh nghiệp đã tập trung chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sảm phẩm.

- Công tác thăm dò thị trường của đơn vị đã chưa tốt lắm.

- Do các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng của doanh nghiệp đã có hiệu quả.

- Nhu cầu của thị trường về mặt hàng này tăng lên.

2.2.2.1. Về nguyên nhân chủ quan

a. Chủ quan tích cực

1.Nguyên nhân thứ nhất làm tăng giá trị mặt hàng đó là: “Doanh nghiệp đã tập

trung chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sảm phẩm.”. Đây được xem là một

mặt hàng khá nhậy cảm theo thời gian bởi lẽ trong điều kiện khoa học kỹ thuật

phát triển như vũ bão thì các máy móc thiết bị ngày càng hiện đại bởi công nghệ

sản xuất chúng ngày càng cao. Không bao lâu lại có một sản phẩm mới ra đời với

những tính năng vượt trội nên chẳng mấy chốc các sản phẩm sản xuất theo công

nghệ cũ bị lỗi thời. Mặt khác các sản phẩm máy móc thiết bị doanh nghiệp sản

xuất lại phục vụ chủ yếu cho quá trình sản xuất nên những đòi hỏi của nó lại càng

khắt khe. Vì vậy,doanh nghiệp đã tập trung chú trọng vào chất lương cũng như

mẫu mã của sản phẩm. Đây rõ ràng là một nguyên nhân chủ quan và tích cực từ

phía doanh nghiệp.

2.Nguyên nhân thứ 2 đó là: “Do các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng của doanh

nghiệp đã có hiệu quả”. Các loại mặt hàng do doanh nghiệp sản xuất có giá trị lớn

32



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

và thời gian sử dụng lâu nên công tác tiếp thị lôi kéo khách hàng và chăm sóc

khách hàng sau bán hàng là một trong những nhân tố quyết định đến doanh số bán

ra. Do vậy công tác này ở doanh nghiệp cũng được chú trọng. Các khách hàng của

doanh nghiệp chủ yếu là các khách hàng quen thuộc nhưng doanh nghiệp cũng

chú trọng đến việc quảng bá hình ảnh của mình ở các mặt hàng này nên đã lôi kéo

được tập khách hàng mới. Các dịch vụ bảo hành và sửa chữa sản phẩm đã tốt

hơn,thời gian bảo hành tăng lên ,nhân viên bảo hành cũng nhiệt tình hơn. Điều đó

đã tạo được uy tín của doanh nghiệp với khách hàng làm doanh số tiêu thụ của

mặt hàng này tăng lên. Đây cũng là một nguyên nhân chủ quan và tích cực.

b. Chủ quan tiêu cực

3.Nguyên nhân thứ 3 đó là : “Công tác thăm dò thị trường của đơn vị đã chưa

tốt”. Đầu kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã khẩn trương tiến hành viêc thăm dò thị

trường về nhu cầu mua máy móc thiết bị,công tác này được làm một cách sơ sài.

Một mặt là do đội ngũ cán bộ nghiên cứu thị trường chưa có kinh nghiệm thêm

vào đó các phương tiện nghiên cứu được đáp ứng đầy đủ làm cho việc nghiên cứu

gặp bất kỳ khó khăn nào. Mặt khác thị trường có nhiều biến động đã được doanh

nghiệp dự báo trước do đó các nhận xét đánh giá được đưa ra chưa chính xác.

Điều này đã ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả sản xuất của doanh nghiệp các sản phẩm

doanh nghiệp sản xuất cho việc đáp ứng được nhu cầu của thị trường, sản phẩm

không bị ứ động do luôn được tiêu thụ hết trong kỳ,do đó có vốn quay vòng, làm

cho sản xuất bị bị đình trệ. Đây cũng là một nguyên nhân chủ quan và tiêu cực.

2.2.2.2. Về nguyên nhân khách quan

a. Khách quan tích cực

4.Nguyên nhân thứ tư đó là: “Nhu cầu của thị trường về mặt hàng này tăng lên”.

Trong kỳ nghiên cứu giá trị của mặt hàng này đã tăng mạnh do nó đang ngày càng

33



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

cần thiết cho thị trường. Nhu cầu của mọi người cho những sản phẩm này tăng lên

đáng kể do những lợi ích mà nó đem lại. Đây là một nguyên nhân khách quan ảnh

hưởng tốt đến doanh thu của mặt hàng này

b. Khách quan tiêu cực

5.Nguyên nhân cuối cùng: Các đối thủ cạnh tranh của công ty đang o ép về giá và

mẫu mã làm cho kinh doanh về mặt hàng này của công ty không thực sự vượt trội

2.2.3.Đối với mặt hàng túi thể thao

Dựa vào bảng phân tích cho ta thấy, mặt hàng túi thể thao có tốc độ tăng 118,99%

ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc, tương ứng với tăng lên 13.705.156(10 3đ). Điều

này làm tăng tổng giá trị sản xuất lên 2,88%. Sự biến động trên có thể do một số

nguyên nhân chính sau :

Đời sống nhân dân được nâng cao nên nhu cầu đi tập thể dục thể thao tăng cao.

Doanh nghiệp cải tiến chất lượng, mẫu mã đa dạng hơn.

Doanh nghiệp đã có thể sản xuất đa dạng nhiều mẫu mã theo yêu cầu của khách

hàng

Doanh nghiệp làm tốt công tác quảng cáo, bảo hành sản phẩm, và các dịch vụ đi

kèm làm hài lòng khách hàng.

2.2.3.1. Về nguyên nhân chủ quan

a. Chủ quan tích cực

1.Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp đã cải tiến được chất lượng cũng như

mẫu mã sản phẩm của mình. Ngay từ đầu kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã chủ

động chuẩn bị cho công tác thiết kế mẫu mã túi thể thao mới cho năm nay. Doanh

nghiệp đã giao cho phòng kỹ thuật thiết kế mẫu và phòng Makerting công tác thiết

kế mẫu sản phẩm mới. Doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi thiết kế, sáng tạo mẫu

từ đó chọn ra những mẫu thiết kế đẹp nhất. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cung cấp

34



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

nhiều dịch vụ khuyến mãi hậu bán hàng. Vì thế, một lượng túi thể thao với mẫu

mã kiểu dáng, độc đáo, hợp thời trang được tung ra thị trường, một kết quả đạt

được là những sản phẩm mới đó đã có được sự yêu thích của khách hàng, đáp ứng

thị hiếu cuả người tiêu dùng và đã tiêu thụ nhanh chóng. Việc tung những mẫu mã

mới ra thị trường nhanh chóng chiếm được cảm tình của khách hàng và tiêu thụ

sản phẩm dễ dàng hơn đã làm cho doanh thu đối với túi thể thao tăng lên, do đó

lợi nhuận cũng tăng lên so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính

tích cực. Để duy trì và phất huy được điều này trong các kỳ tới, doanh nghiệp

cần:

- Duy trì việc thiết kế, thay đổi mẫu mã thường xuyên theo từng mùa để đáp ứng

tốt nhu cầu, thị hiếu khách hàng.

- Tiến hành thêm các công tác quảng cáo, giới thiệu về sản phẩm của mình trên

các phương tiện thông tin, internet....

b. Chủ quan tiêu cực

2.Xét nguyên nhân thứ 2: “Doanh nghiệp đã có thể sản xuất đa dạng nhiều loại túi

thể thao theo yêu cầu của khách hàng”.Doanh nghiệp tự sản xuất túi thể thao sẽ

làm hạn chế một số chi phí nhất đinh.Điều đó sẽ giúp cho việc tiêu thụ dễ dàng

hơn làm tăng doanh thu của doanh nghiệp.

2.2.3.2. Về nguyên nhân khách quan

a. Khách quan tích cực

3.Xét nguyên nhân thứ 3: Đời sống nhân dân được nâng cao nên nhu cầu đi tập

thể dục thể thao tăng cao. Kinh tế phát triển, nhu cầu sinh hoạt của người dân

ngày càng trở nên cần thiết. Mặt khác, cuối kỳ nghiên cứu là khoảng thời gian gần

hè, đây là khoảng thời gian mà nhu cầu thể dục thể thao của người dân tăng đáng

kể, trong đó có cả nhu cầu về mua sắm túi thể thao để đi tập, người chưa có thì

35



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

muốn mua, người có rồi thì muốn đổi cái mới. Hơn nữa, các hãng sản xuất túi thể

thao không ngừng đưa ra thị trường những dòng túi mới mẫu mã đẹp hơn, tính

năng ưu việt hơn để tăng khả năng cạnh tranh cho hãng mình. Do đó đã thu hút

được rất nhiều khách hàng muốn mua túi, thay túi mới làm cho nhu cầu mua luôn

tăng dẫn đến số lượng túi thể thao bán ra trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên, góp

phần đáng kể làm cho doanh thu của mặt hàng này tăng, đem lại nhiều lợi nhuận

cho doanh nghiệp so với lỳ gốc. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực ảnh

hưởng đến doanh nghiệp.

4.Xét nguyên nhân thứ 4: “Doanh nghiệp làm tốt công tác quảng cáo, bảo hành

sản phẩm, và các dịch vụ đi kèm làm hài lòng khách hàng.”.Biết cảnh tạo hình ảnh

thương hiệu của mình sẽ giúp doanh nghiệp được người tiêu dùng biết đến.Và

thông qua việc sử dụng mặt hàng của doanh nghiệp kèm theo sự hại lòng sẽ làm

cho sô người mua hàng tăng lên,từ đó cũng đẩy mạnh doanh thu

b. Khách quan tiêu cực

5. Thị trường giá cả mặt hàng còn cạnh tranh khá khôc liệt làm cho giá cả mặt

hàng tại công ty khá thấp đem lại hiệu quả kinh tế không cao

2.2.4.Đối với mặt hàng Túi xách

Qua bảng phân tích ta thấy giá trị sản xuất ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc tăng lên

874.908(103đ), đạt mức 101,64%, ảnh hưởng đến tổng giá trị sản xuất là 0,18 %.

Việc tăng giá trị sản xuất của mặt hàng túi xách có thể là do các nguyên nhân sau:

2.2.4.1. Về nguyên nhân chủ quan

a. Chủ quan tích cực

1.Nguyên nhân thứ nhất đó là: “Doanh nghiệp tích cực tìm kiếm các đối tác và

nhận được đơn đặt hàng” Mặt hàng túi xách doanh nghiệp có rất nhiều đối thủ

cạnh tranh do vậy doanh nghiệp đã tích cực tìm kiếm các đối tác để tiêu thụ hàng

36



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

và cũng gửi báo giá cho các công ty thời trang để họ chú ý tới mình,lựa chọn mình

khi cần. Với mức sản xuất hiện tại doanh nghiệp không đáp ứng được đủ lượng

hàng đặt nên đã tăng cường sản xuất thêm mặt hàng này. Những đơn hàng có giá

trị lớn này mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần cố gắng

hoàn thành tốt để mang lại uy tín cho công ty,tạo mối làm ăn lâu dài. Đây là một

nguyên nhân chủ quan,tích cực.

b. Chủ quan tiêu cực

2.Nguyên nhân thứ 2 là: Do nguyên vật liệu sản xuất của túi xách khá đắt và cầu

kỳ làm cho giá thành sản xuất khá lớn hiệu quả mang lại còn thấp. Đây được đánh

giá là nguyên nhân chủ quan tiêu cực

2.2.4.2 Về nguyên nhân khách quan

a. Khách quan tích cực

3. Nguyên nhân thứ 3 đó là:” Nhu cầu tiêu dùng tăng lên”. Có rất nhiều dự án sản

xuất túi xách theo đơn đặt hàng trong năm. Để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng

ngày càng gia tăng doanh nghiệp đã đẩy mạnh sản xuất túi xách nhằm đáp ứng

nhanh, đủ cho các đối tác khi họ cần,vượt qua các đối thủ cạnh tranh khác. Đây là

một nguyên nhân khách quan, tích cực nên doanh nghiệp cần nắm bắt được cơ hội

và triển khai nhanh để chiếm ưu thế. Đây là một nguyên nhân khách quan,tích

cực.

4. Nguyên nhân thứ 4 đó là “Nhà cung ứng cung cấp nguyên liệu khối lượng

lớn,giá rẻ” Nhà cung ứng có đợt nguyên vật liệu để sản xuất túi xách lớn, sẽ chiết

khấu giá cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp mua với khối lượng lớn nên doanh

nghiệp quyết định mua hết để sản xuất thêm túi sách thời trang. Phí bảo quản tuy

nhiên mức giá nhập vào thấp hơn nhiều sẽ góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và



37



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



ĐỒ ÁN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

hơn nữa lợi thế của công ty là có hệ thống dự trữ tốt nên đây đúng là một nguyên

nhân khách quan mang tính tích cực.

b. Khách quan tiêu cực.

5.Một lượng hàng nhái nhãn hiệu kiểu dáng túi xách của công ty làm giảm lượng

tiêu thụ tại công ty. Điều này đánh giá là nhân tố khách quan tiêu cực

2.2.5.Đối với mặt hàng Thắt lưng

Nhìn vào bảng phân tích tình hình thực hiện doanh thu theo mặt hàng ta có

thể thấy :Mặt hàng thắt lưng chiếm 7,81% giá trị sản xuất ở kỳ nghiên cứu , tương

ứng với 41.499.162(103đ) về quy mô. Trong khi đó ở kỳ gốc đạt 34.320.032

(103đ) về quy mô. Tăng 120,92% ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc, ứng với

7.179.130(103đ). Điều này đã làm tăng 1,51% tổng giá trị sản xuất của toàn doanh

nghiệp. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trên có thể là :

1-Nhu cầu tiêu dùng của mặt hàng này tăng.

2-Mở rộng hệ thống các đại lý kinh doanh thắt lưng nam.

3-Do còn tập trung vào việc tiêu thụ các mặt hàng chủ đạo nên lơ là nhóm mặt

hàng này

4-Kho dự trữ đủ tiêu chuẩn dự trữ về khối lượng và độ an toàn.

2.2.5.1. Về nguyên nhân chủ quan

a. Chủ quan tích cực

1.Nguyên nhân thứ nhất đó là: “Nhu cầu tiêu dùng của mặt hàng này tăng”. Nền

kinh tế ngày càng phát triển nên thu nhập của người dân ngày càng cao, chất

lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Nhu cầu về thời trang làm đẹp của

người dân tăng cao, số lượng thắt lưng nam tăng vọt trong khi đó đây lại là phụ

kiện không thể thiếu của nam giới này hoạt động. Điều đó đã khiến cho cầu về

mặt hàng này tăng.

38



Tên: Manivanh Phoutthavong

Mã SV: 55178



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lập bảng phân tích

Tải bản đầy đủ ngay(51 tr)

×