Tải bản đầy đủ - 95 (trang)
b) Phương thức bán hàng

b) Phương thức bán hàng

Tải bản đầy đủ - 95trang

thường áp dụng đối với trường hợp bán hàng với khối lượng lớn và được

thực hiện bởi 2 hình thức: bán buôn qua kho và bán buôn vận chuyển

thẳng.

+ Hình thức bán buôn qua kho: hàng hóa được xuất bán cho khách

hàng từ kho dự trữ của doanh nghiệp và thực hiện theo 2 cách: xuất bán

trực tiếp và xuất gửi đi bán.

+ Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng: là hình thức bán hàng mà bên

bán mua hàng của nhà cung cấp để bán cho khách hàng; hàng hóa không

qua kho của bên bán. Hình thức này cũng gồm nhiều hình thức nhỏ như

giao hàng tay ba, hình thức vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán và

không tham gia thanh toán...

- Bán lẻ hàng hóa: là khâu vận động cuối cùng của bán hàng từ lĩnh

vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng. Tại khâu này, hàng hóa kết thúc lưu

thông, thực hiện được toàn bộ giá trị và giá trị sử dụng. Bán lẻ thường bán

với khối lượng ít, giá bán ổn định và thường áp dụng các phương thức sau:

+ Bán hàng thu tiền trực tiếp

+ Bán hàng thu tiền tập trung

+ Bán hàng theo hình thức khách hàng tự chọn

+ Bán hàng theo phương thức đại lý

+ Bán hàng theo phương thức trả góp, trả chậm

1.1.2 Vai trò và yêu cầu của công tác quản lý bán hàng và xác định kết

quả kinh doanh

Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nói chung

và doanh nghiệp thương mại nói riêng trước hết phải giải đáp các vấn đề:

Kinh doanh hàng hoá gì? Hướng tới đối tượng khách hàng nào? Và kinh

doanh như thế nào? Do đó việc tổ chức tốt khâu bán hàng có ý nghĩa hết

sức quan trọng không chỉ đối với chiến lược kinh doanh của một doanh

nghiệp, mà còn đối với cả chiến lược phát triển của toàn xã hội.

- Vai trò của bán hàng được thể hiện qua:

+ Đối với doanh nghiệp thương mại: Thông qua bán hàng thì giá trị của

hàng hóa mới được thực hiện, DN mới thu được tiền để bù đắp các khoản

CP đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm và thực hiện các nghĩa vụ

4



đối với Ngân sách nhà nước. Bán được hàng giúp DN thu hồi vốn nhanh và

mau tái sản xuất giúp tăng DT.

+ Đối với người tiêu dùng: Việc tiêu dùng hàng hóa của người tiêu

dùng không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho họ mà việc tiêu

dùng hàng hóa còn góp phần giúp quá trình lưu thông hàng hóa được nhanh

hơn.

+ Đối với kinh tế xã hội: Thực hiện tốt khâu bán hàng là điều kiện tốt

để kết hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ, ổn định

và củng cố giá trị đồng tiền, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội, là điều

kiện để ổn định và nâng cao đời sống của người lao động nói riêng và của

toàn xã hội nói chung.

- Vai trò của việc tổ chức công tác KT bán hàng và xác định kết quả

kinh doanh:

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người nói chung và của kinh

tế nói riêng thì KT là một tất yếu, khách quan và là một công cụ quản lý

đắc lực các hoạt động kinh tế tài chính của DN.

Trong các DN thương mại thì việc tổ chức KT bán hàng và xác định

kết quả kinh doanh có ý nghĩa to lớn. Thông qua kết quả của việc xác định

kết quả kinh doanh, DN biết được tình trạng SXKD của mình.

Thông qua việc xác định kết quả kinh doanh sẽ giúp cho nhà quản

lý DN có thể phân tích, đánh giá và đưa ra các phương án kinh doanh phù

hợp.

Thông qua việc tở chức công tác bán hàng và xác định kết quả kinh

doanh giúp cho các đơn vị liên quan đến DN có quyết định đúng đắn đầu tư

vào DN.

Xuất phất từ vai trò to lớn của bán hàng vì vậy DN cần quản lý công tác

bán hàng như sau:

+ Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng với từng

sản phẩm, từng thời kỳ.



5



+ Quản lý chất lượng sản phẩm, mẫu mã, tiến hành thăm dò thị trường,

mở rộng quan hệ bán hàng, quản lý phương thức bán hàng, quản lý tình

hình thanh toán để đảm bảo vốn không bị mất mát, chiếm dụng quá lâu.

+ Quản lý chặt chẽ các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp

và các chi phí hoạt động khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Trong doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để quản lý sản xuất

kinh doanh, thông qua số liệu kế toán nói chung và kế toán bán hàng và xác

định kết quả kinh doanh nói riêng đã giúp cho các nhà quản lý công ty đánh

giá được mức độ hoàn thành các kế hoạch đã đặt ra, ở đây đặc biệt là kế

hoạch về số lượng sản phẩm hàng hóa bán ra từng kỳ và kế hoạch lợi

nhuận.

Từ vai trò quan trọng trên mà nhiệm vụ đặt ra đối với kế toán bán hàng

và xác định kết quả kinh doanh đó là:

+ Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và

sự biến động của từng lại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất

lượng, chủng loại và giá trị.

+ Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh

thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong

doanh nghiệp, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách

hàng.

+ Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát

tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả

các hoạt động.

+ Cung cấp thông tin kế toán phục vụ việc lập Báo cáo tài chính và

định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác

định và phân phối kết quả kinh doanh.



6



1.2.



Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp



1.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng

a)Nội dung

• Khái niệm:

DT bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc

thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh DT như bán sản phẩm,

hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu

thêm ngoài giá bán (nếu có).

• Các điều kiện ghi nhận DT:

DT bán hàng được ghi nhận chỉ khi giao dịch bán hàng đồng thời thoả

mãn 5 điều kiện sau:

(a)



Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền



với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như

người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao

dịch bán hàng.

(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Việc quy định rõ ràng thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng giúp cho

doanh nghiệp xác định được chính xác các khoản doanh thu bán hàng phát

sinh trong kỳ hạch toán để từ đó thực hiện đúng các quyền lợi và nghĩa vụ

với Nhà nước.

b)Nguyên tắc ghi nhận DT:

+ Đối với DN thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

DT bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.

+ Đối với DN không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế

GTGT theo phương pháp trực tiếp: DT bán hàng và cung cấp dịch vụ là

tổng giá thanh toán.



7



+ Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế

TTĐB, thuế xuất khẩu thì doanh thu là tổng giá thanh toán (bao gồm cả

thuế TTĐB, thuế xuất khẩu).

+ Đối với những DN nhận gia công vật tư, hàng hóa thì chỉ phản ánh

vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được

hưởng không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công.

+ Đối với hàng hóa nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng

giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ phần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng.

+ Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh

nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào

doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả

chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định.

+ Những hàng hóa được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất

lượng, quy cách kỹ thuật… người mua từ chối thanh toán hay yêu cầu giảm

giá và được doanh nghiệp chấp thuận, hoặc người mua mua khối lượng lớn

được chiết khấu thương mại thì không hạch toán vào TK này mà sẽ hạch

toán vào các TK giảm trừ doanh thu.

+ Cuối kỳ, doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán

hàng nhưng chưa giao hàng cho khách thì không được ghi vào TK511“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” mà chỉ hạch toán bên Có TK

131-“ Phải thu của khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng. Khi

thực hiện giao hàng cho người mua sẽ hạch toán và TK 511-“Doanh thu

bán hàng và cung cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao, đã thu trước tiền bán

hàng, phù hợp với các điều kiện ghi nhận DT.

+ Đối với trường hợp cho thuê tài sản, có nhận trước tiền cho thuê của

nhiều năm trước thì DT cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số

tiền cho thuê được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng số tiền thu được

chia cho số năm cho thuê tài sản.

+ Không hạch toán một số khoản như: Số tiền bán thanh lý tài sản, trị

giá bán hàng hóa, vật tư giao cho bên gia công, trị giá hàng hóa, dịch vụ

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Phương thức bán hàng

Tải bản đầy đủ ngay(95 tr)

×