Tải bản đầy đủ - 71 (trang)
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 71trang

13



100 cm, rộng 3 - 8 cm, mép lá nguyên, lượn sóng, đầu nhọn hoặc tù. Gân lá song

song, mặt trên lá lõm thành rãnh, mặt dưới có một gân nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát

đất có màu đỏ tím.

Hoa mọc thành tán gồm 6 - 18 hoa, trên một cán hoa dài 30 - 60 cm. Lá bắc rộng,

hình thìa dài 7 cm, màu lục, đầu nhọn. Cánh hoa màu trắng có điểm màu tím đỏ dọc

theo cánh, bao gồm 6 phiến bằng nhau, hàn liền 1/3 thành ống hẹp, khi nở đầu

phiến quăn lại. Nhị 6, bầu hạ. Quả gần hình cầu (ít gặp). Từ thân hành mọc rất

nhiều củ con có thể tách ra để trồng riêng dễ dàng [1], [3], [4], [6], [7].

Mùa hoa quả: tháng 8-9.



1.1.2. Bộ phận dùng

Lá và thân hành [1].



1.1.3. Thành phần hóa học

2.1.3.1. Alcaloid

Từ những năm 1984- 1994 đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thành

phần hóa học của TNHC, trong đó alcaloid được nghiên cứu nhiều nhất [19].

Nhà khoa học Ấn Độ Ghosal năm 1984 đã lập và xác định từ hoa một glucoalcaloid

có tên latisolin, cùng với Shibnath còn phân lập được từ thân hành lúc cây đang ra

hoa 2 alcaloid pyrrolophenanthrindon là pratorimin và pratosin cùng với các chất đã

biết như pratorimin, ambellin và lycorin [30], [31].

Ghosal (1986) công bố 2 alcaloid có tác dụng chống ung thư là crinafolin và

crinafolidin [21].

Năm 1989, Ghosal tiếp tục chiết được từ hoa 2 alcaloid mới có nhân pyrrolo

phenanthrindin là 2-epilycorin và 2-epipancrassidin [32].

Nguyễn Thị Ngọc Trâm (2002) đã xác định được 15 alcaloid bằng GC - MS. Hầu

hết các alcaloid thuộc nhóm Crinin (Bảng 2.1) [34].

Trần Văn Sung và cộng sự, năm 1997 đã phân lập được từ thân hành TNHC 5

alcaloid, trong đó L-lycorin và pratorin được nhận dạng bằng phổ khối lượng và

phổ cộng hưởng từ hạt nhân [4].



14



Trong luận án tiến sĩ năm 2000, NCS. Võ Thị Bạch Huệ lần đầu tiên phân lập và

định danh được hợp chất 6-hydroxycrinamidin và cũng là lần đầu tiên chất này

được tìm thấy trong tự nhiên [4].

Năm 2003, Nguyễn Hữu Lạc Thủy (khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí

Minh) đã phân lập được 2 alcaloid là undulatin và 6-hydroxyundulatin. Trong đó, 6hydroxyundulatin lần đầu tiên được phân lập từ Crinum latifolium L. [12].

Bảng 1.1.1.1.1 Các alcaloid được phân lập từ cây TNHC

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12



Tên khoa học

Buphanidrin

Powellin

Ambellin

6-hydroxybuphanidrin

6-hydroxypowellin

Undulatin

Crinamidin

6-hydroxyundulatin

1β,2β-epoxyambellin

Epoxy-3,7-dimethoxycrinan11-one

6-hydroxycrinamidin

Dihydro-oxodemethoxyhaemanthamin



13



Crinan-3α-ol



14



Augustamin



15



Oxoassoanin



Công thức cấu tạo



Jonh Refaat, Mohamed S. Kamel năm 2012 đã tổng hợp lại những alcaloid nhóm

crinin đã phân lập được từ trước đến nay từ các bộ phận khác nhau, bao gồm: 11-O-



acetylambellin (C20H23NO6), 11-O-acetyl-1,2-β-epoxyambellin(C20H23NO7), 3-



15



O-acetylhamayn (C18H19NO5), crinafolidin (C19H23NO6), crinafolin

(C18H21NO6), crinamin (C17H19NO4), crinin (C16H17NO3), hamayn (C16H17NO4)

[24].



UV 254



UV 365



TT Dragendorff



Hình 2.1.1.1.1.1.2 Sắc ký đồ định danh một số vết có trong cao toàn phần từ lá

TNHC.

Dung môi khai triển cloroform – methanol – ammoniac (6,5 : 1 : 0,05).

Các vết chấm:



vết TP: cao toàn phần



vết 1: hippadin



vết 2: 1,2-epoxy-6-ethoxy3,7-dimethoxycrinin



vết 3: 6-ethoxybuphanidrin



vết 4:augustamin



vết 5: undulatin



vết 6: 6-hydroxyundulatin



vết 7: 6-hydroxybuphanidrin



vết 8: crinamidin



vết 9: 6-hydroxycrinamidin



vết 10: 6-hydroxypowellin



vết 11: 1,2,3-trihydroxy-7methoxycrinin



Từ cao lá TNHC, Bộ môn HPTKN, khoa Dược, Đại học Y Dược tp Hồ Chí Minh đã

phân lập một số alcaloid tiêu biểu được trình bày trên sắc kí đồ (Hình 2.2).



16



2.1.3.2. Flavonoid

Nguyễn Hải Nam, Nguyễn Tiến Vững, Yong Kim, Young Jae You, Dong Ho

Hong, Hwan Mook Kim, Byung Zun Ahn đã phân lập và xác định cấu trúc của các

flavonoid: 4’,7-dihydroxy-3-vinyloxyflavan, 4’,7-dihydroxyflavan, 2',4',7trihydroxydihydrochalcon, 3',5,6-trihydroxy-4',7,8-trimethoxyflavon [27].

Mai Đình Trị, Nguyễn Công Hào đã chiết tách và phân lập được kaempferol-3-O-β-Dglucopyranosid và kaempferol-3,4’-di-O-β-D-glucopyranosid từ lá tươi TNHC [4].



2.1.3.3. Các thành phần khác

Thân rễ chứa 2 glucan: glucan A và glucan B có khoảng 110 gốc của glucose.

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Hoàng và cs (1997) TNHC có 11 alcaloid, 11 acid amin,

acid hữu cơ. Các acid amin là phenylalanin, 1-leucin, dl-valin và 1-arginin

monohydroclorid [4], [24].



2.1.4.Tác dụng dược lí [19], [20], [23], [25], [29], [33]

Cao methanol của rễ, thân và cao chiết alcaloid toàn phần của TNHC đều có tác

dụng ức chế sự phân bào, kìm hãm sự tăng trưởng của rễ hành ta; hoạt tính của cao

TNHC bằng hoặc hơn 50% so với hoạt tính của colchicin ở cùng nồng độ.

Trên mô hình gây u báng thực nghiệm bằng cách cấy truyền vào khoang bụng chuột

nhắt trắng tế bào u báng sarcoma TG – 180 với lượng 10 6 tế bào/ l chuột. Chế phẩm

panacrin (chế phẩm thuốc bào chế từ hỗn hợp 3 dược liệu : lá TNHC, củ tam thất và

lá đu đủ) có tác dụng làm giảm sinh khối của u hay giảm tổng số tế bào ung thư

đồng thời làm giảm chỉ số gián phân của tế bào ung thư. Ngoài ra thuốc còn hạn chế

sự di căn của tế bào ung thư từ u đùi lên gan, phổi, lách (trong thử nghiệm gây ung

thư ở đùi chuột nhắt). Thuốc có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột mang ung

thư được điều trị gần gấp đôi so với chuột đối chứng mang ung thư.

Cao chiết bằng nước nóng từ TNHC (1-8 mg/ml) có tác dụng kích thích sự sinh sản

của tế bào lympho T, và đặc biệt có tác dụng kích thích trực tiếp các tế bào CD 4+T



17



trong thử nghiệm in vitro trên bạch cầu đơn nhân to ngoại vi lấy từ máu ngoại vi

người.

Một số alcaloid trong cây TNHC có hoạt tính sinh học. Lycorin ức chế sự tổng hợp

protein và DNA của tế bào chuột, và ức chế sự phát triển của u báng cấy ở chuột.

trong thử nghiệm in vitro lycorin làm giảm khả năng sống của các tế bào u. Lycorin

ức chế sinh tổng hợp vitamin C trong cây cỏ, làm ngừng sự phát triển virus gây

bệnh bại liệt, ức chế sự tổng hợp các tiền chất cần cho sự sinh trưởng của virus gây

bệnh bại liệt, và enzym poliopeptidase. Lycorin có độc tính cấp tính thấp.

Lycorin–O–glycosid ở mức liều microgam gây kích thích tế bào lympho chuột nhắt

trắng, điều hòa miễn dịch. Pseudolycorin có tác dụng làm ngừng sự phát triển của tế

bào Hela, ngăn cản sự tổng hợp protein trong tế bào u báng và làm chậm lại quá

trình tổng hợp DNA. Hippadin làm ức chế một cách hồi phục sự thụ tinh của chuột

cống đực; 1,2 - β – epoxyambellin có tác dụng hoạt hóa tế bào lympho lách chuột

nhắt. Hỗn hợp ambellin và 1,2-β–epoxyambellin gây hoạt hóa tế bào lympho giống

như chất concanavalin A.

23 alcaloidđược phân lập từ các loài thuộc họ Amaryllidaceae thuộc loại: lycorin,

homolycorin, haemanthamin, galanthamin, tazettin…và các khung đã được thử

nghiệm khả năng ức chế AChE. Những kết quả này cho thấy rằng tác dụng ức chế

AChE liên quan đến đặc điểm cấu trúc trong các loại khung khác nhau, các alcaloid

thuộc galanthamin và nhóm lycorin có tác dụng ức chế AChE cao nhất



2.1.5.Công dụng [19]

TNHC được dùng trong dân gian để chữa ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư

tuyến tiền liệt. Lá thái nhỏ, với liều dùng mỗi ngày 3-5 lá, sao vàng sắc uống. Cũng

có người dùng điều trị ung thư dạ dày, phổi, gan và chữa đau dạ dày. Ở các tỉnh phía

nam TNHC được dùng phổ biến chữa bệnh đường tiết niệu.

Dùng ngoài, lá và thân hành giã nát, hơ nóng dùng xoa bóp làm xung huyết da chữa

tê thấp, đau nhức.



18



Ở Ấn Độ, nhân dân dùng thân hành cây TNHC xào nóng, giã đắp trị thấp khớp,

mụn nhọt và áp xe để gây mưng mủ. Dịch ép lá làm thuốc nhỏ tai trị đau tai. Ở

Campuchia người dân dùng cây TNHC để trị bệnh phụ khoa.



2.1.6. Một vài chế phẩm chứa TNHC

- Trà túi lọc Trinh nữ hoàng cung - Công ty cổ phần Dược liệu Trung ương 2.

-Viên bao phim Tadimax (TNHC, Tri mẫu, Ích mẫu, Hoàng bá, Đào nhân, Trạch tả,

Xích thược, Quế nhục) - Công ty cổ phần Dược phẩm Đà Nẵng.

- Viên nang Nga phụ khang (TNHC, Hoàng cầm, Khương hoàng) - Công ty TNHH

tư vấn Y dược quốc tế.

- Viên bao đường TNHC (TNHC, Tam thất) - Công ty cổ phần dược phẩm Hoa Sen.

- Viên nang Crila - Công ty cổ phần Dược liệu Trung ương 2.

- Viên bao phim OPCrilati - Công ty cổ phần Dược phẩm OPC.

- Viên nang Cyroma - Công ty cổ phần Dược vật tư Y tế Hải Dương.



1.2. TỔNG QUAN VỀ ALCALOID

1.2.1. Định nghĩa : Max Polonovski (1910)

Alcaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có chứa nhân dị vòng, có

phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi gặp trong động vật, thường có

tính dược lực mạnh và cho phản ứng với một số thuốc thử chung của alcaloid [6].



1.2.2. Tính chất [6]

2.2.1.1. Tính chất vật lý

- Thể chất: alcaloid thường ở thể rắn ở nhiệt độ thường, dễ kết tinh và có điểm chảy

xác định. Một số alcaloid không đo được điểm chảy do bị phân hủy ở nhiệt độ thấp

hơn điểm chảy.

- Mùi vị: đa số alcaloid không có mùi, có vị đắng và môt số ít có vị cay như

capsaisin, piperin, chavicin…

- Màu sắc: hầu hết các alcaloid đều không màu trừ một số ít alcaloid có màu vàng

như berberin, palmatin, chelidonin.

- Độ tan: alcaloid base tan tốt trong dung môi hữu cơ như: cồn, benzen, methanol,

cloroform, ether…Trái lại, các muối alcaloid thì dễ tan trong nước, hầu như không

tan trong các dung môi hữu cơ ít phân cực.



19



Dựa vào độ tan khác nhau của alcaloid base và muối alcaloid người ta sử dụng dung

môi hữu cơ thích hợp để chiết xuất và tinh chế alcaloid.

- Năng suất quay cực: phần lớn alcaloid có khả năng quay, thường tả truyền.

2.2.1.2. Tính chất hóa học

Hầu như alcaloid đều có tính base yếu, có thể giải phóng alcaloid ra khỏi muối của

nó bằng kiềm trung bình và mạnh như NH4OH, MgO, carbonat kiềm, NaOH…

Tác dụng với các acid, alcaloid cho các muối tương ứng.

Alcaloid kết hợp với kim loại nặng (Hg, Bi, Pt…) tạo ra muối phức.

Alcaloid cho phản ứng với thuốc thử chung:

- Thuốc thử Mayer (K2HgI4 – Kalitetraiodomercurat): cho tủa trắng hay vàng nhạt.

- Thuốc thử Bouchardat (iodo- iodide): cho tủa nâu.

- Thuốc thử Dragendorff (KBiI4 – Kalitetraiodobismutat III): tủa vàng cam đến đỏ.



1.2.3. Các phương pháp chiết xuất alcaloid [16]

Bột dược liệu được xay nhỏ vừa phải để quá trình chiết nhanh nhưng bảo đảm tính

chọn lọc nhằm thu được cao chiết có chất lượng tốt nhất: nhiều hoạt chất, ít tạp

chất, đặc biệt là những tạp chất có ảnh hưởng đến quá trình tách các chất.

Alcaloid trong cây thường tồn tại dưới dạng muối hòa tan với acid hữu cơ hoặc vô

cơ hay dạng kết hợp với tanin. Alcaloid thường được chiết xuất dựa trên nguyên tắc

chung là alcaloid dạng base tan trong dung môi hữu cơ kém phân cực còn alcaloid

dạng muối tan trong dung môi phân cực. Do đó, dựa vào tính tan khác nhau của

dạng base và dạng muối alcaloid trong dung môi, người ta lựa chọn phương pháp

chiết xuất phù hợp cũng như chuyển dạng nhiều lần để loại phần nào tạp chất ra

khỏi dịch chiết trước khi phân lập các alcaloid.Các phương pháp chiết xuất được sử

dụng thường là chiết ngấm kiệt, chiết bằng dụng cụ Sohxlet, đun hồi lưu hay ngâm

lạnh, chiết lỏng siêu tới hạn…Sau đây là vài sơ đồ chiết xuất alcaloid toàn phần:



1.2.3.1. Chiết xuất alcaloid bằng dung môi hữu cơ ở môi trường kiềm

Bột dược liệu được làm ẩm bằng NH4OH, Na2CO3, NaOH …, sau đó được chiết

bằng các dung môi hữu cơ, thu được dịch chiết chứa các alcaloid dạng base. Dịch

chiết thu được lắc với dung dịch acid loãng thu được dịch chiết acid chứa các



20



alcaloid dạng muối. Tiếp tục kiềm hóa dịch chiết thu được đến pH 9-10, sau đó

chiết bằng dung môi hữu cơ và cô thu hồi dung môi thu được alcaloid toàn phần.

1.2.3.2. Chiết xuất bằng nước acid

Bột dược liệu được ngâm vào trong dung dịch acid loãng thu được dịch chiết acid

chứa các alcaloid dạng muối. Dịch chiết acid được kiềm hóa đến pH 9-10, sau đó

chiết bằng dung môi hữu cơ và cô thu hồi dung môi thu được alcaloid toàn phần.

1.2.3.3. Chiết xuất bằng cồn acid

Bột dược liệu được ngấm kiệt bằng cồn acid thu được dịch chiết cồn, sau đó trung

hòa bằng kiềm nhẹ, cô nhẹ còn 1/3 thể tích thu được dịch chiết acid. Kiềm hóa dịch

chiết acid đến pH 9-10, sau đó chiết bằng dung môi hữu cơ và cô thu hồi dung môi

thu được alcaloid toàn phần.



1.2.4. Định tính alcaloid

Thông thường, các alcaloid được định tính bằng phản ứng hóa học với thuốc thử

chung hoặc thuốc thử đặc hiệu hayKiềm

bằnghóa

các đến

phương

pháp sắc ký.

pH=9-10



1.2.5. Định lượng alcaloid



Chiết bằng dung môi hữu cơ



Các phương pháp định lượng alcaloid trong dược liệu như phương pháp cân,

phương pháp thể tích, phương pháp quang phổ định lượng alcaloid toàn phần có

trong dược liệu hay kết hợp các phương pháp phân tách (thường là phương pháp sắc

ký) với phương pháp định lượng (thường là các phương pháp quang phổ) để định

lượng riêng một hay một vài alcaloid nào đó trong hỗn hợp alcaloid toàn phần.



1.3. SILICA GEL−GHÉP [16]

1.3.1. Khái niệm, phân loại

Là silica gel mà nhiều nhóm Si–OH silanol được biến đổi thành nhóm Si–R, thành

nhóm Si–O–R hoặc thành nhóm Si–O–Si–R (R được ghép vào silica gel).



21



Khi –R là mạch hydrocarbon kém phân cực (gồm 2C hay 6C hay 8C hay 18C) ta có

silica gel-ghép pha đảo (= silica gel pha đảo, RP). Đây là các chất phân bố không

phân cực.

Khi –R là mạch phân cực (cyanopropyl −C3H6CN; aminopropyl −C3H6NH2 hoặc

propandiol) ta có silica gel-ghép pha thuận. Đây là các chất hấp phụ yếu nếu so với

silicagel-không ghép.

Trong các silica gel-ghép thì loại silica gel RP (RP-8 và nhất là RP-18) được sử

dụng nhiều trong kỹ thuật HPLC.Một số trường hợp cũng sử dụng đến các loại

silica gel-ghép NP (amino, diol, cyano), 3 loại này là các chất hấp phụ yếu.



1.3.2. Cơ chế hoạt động của silicagel RP-8 và RP-18

Khi được ghép vào silica gel, mạch nhánh (C-8 hoặc C-18) sẽ đóng vai trò như một

giá của pha tĩnh. Bình thường khi chưa được tẩm pha tĩnh (chưa được hoạt hóa) các

mạch nhánh này nằm hỗn độn và sát vào cấu trúc silica gel. Khi được tẩm pha tĩnh

(được hoạt hóa) thì các mạch nhánh này sẽ duỗi ra tạo thành một hệ thống các bó

sợi (như các sợi trên bề mặt bàn chải) che phủ bên ngoài cấu trúc silica gel.



lớp dung môi được “tẩm” vào bó sợi



Hình 1.1.1.1.1.1.1 Bề mặt của silicagel RP-18 trước và sau khi được hoạt hóa

Hệ thống “bó sợi” này sẽ lưu giữ (tẩm) một lớp dung môi hữu cơ có trong thành

phần của pha động (ví dụ sẽ được tẩm với methanol khi pha động là hệ nước –

methanol, tẩm với acetonitril khi pha động là nước – acetonitril).

Lớp dung môi hữu cơ này sẽ giữ vai trò một pha tĩnh lỏng. Khi một pha động lỏng

chứa mẫu đi qua hệ thống pha tĩnh lỏng này, một sự phân bố mẫu vào 2 pha sẽ được

hình thành.



22



Ngoài ra, bản thân các mạch sợi (lúc này đã được duỗi ra) của hệ thống silica gelghép này cũng có tương tác với các mẫu kém phân cực, làm cho các mẫu kém phân

cực này bị lưu giữ trong pha tĩnh lâu hơn. Như vậy, các silica gel-ghép pha đảo đều

là những chất hoạt động chủ yếu theo cơ chế phân bố.

Silica gel pha đảo được điều chế bằng các phản ứng silan-hóa từ silica gel pha thuận

nhờ phản ứng với các dẫn chất silan có mạch hydrocarbon thẳng (R = –CH 3; hoặc

octyl −C8H17; hoặc octyldecyl −C18H37); mạch vòng như gốc phenyl (−C6H5).

Ghi chú : Thực ra sự phân chia cơ chế ở đây cũng mang ý nghĩa tương đối, vì ngay

cả ở silica gel-ghép vẫn có các cơ chế cạnh tranh khác. Ví dụ : còn cơ chế hấp phụ

do các nhóm –OH silanol tự do còn sót lại. Hoặc ở trường hợp silica gel-ghép kiểu

diol đôi khi lại được dùng như là một chất rây phân tử, trong khi silica gel-ghép

kiểu diethylamino lại thường được sử dụng như là một chất trao đổi ion, silica gelghép kiểu cyano và kiểu amino khi sử dụng dung môi kém phân cực lại có vai trò

như một chất hấp phụ pha thuận.

Bảng 1.1.1.1.2 Các cơ chế áp dụng của silicagel ghép

Silica gel-ghép

-diol

-cyano



Cơ chế áp dụng

rây phân tử

hấp phụ, phân bố



-amino

-diamino

-diethylamino



hấp phụ,

hấp phụ,



phân bố, trao đổi ion

trao đổi ion

trao đổi ion



Trong pha đảo, trình tự dung môi sử dụng sẽ có độ phân cực giảm dần, và trình tự

các chất tách ra khỏi hệ thống cũng sẽ có độ phân cực giảm dần (đảo hoàn toàn so

với pha thuận).

Trên thị trường hiện nay còn có rất nhiều loại silica gel-ghép khác nữa, chúng chủ

yếu được sử dụng trong kỹ thuật HPLC.



1.4. CÁC KĨ THUẬT SẮC KÍ [16]



23



Sắc ký là một phương pháp vật lý, nhằm mục đích tác riêng các cấu tử của một hỗn

hợp nhờ vào sự phân chia của các cấu tử này giữa 2 pha (pha tĩnh và pha động).

Trong đó, pha động di chuyển xuyên qua pha tĩnh theo một hướng nhất định.



1.4.1. Sắc kí lớp mỏng

1.4.1.1. Nguyên lý

Một dung dịch mẫu thử được chấm trên một lớp mỏng chất hấp phụ (thường là

silicagel, nhôm oxid) tráng trên nền phẳng đóng vai trò là một pha tĩnh.

Một dung môi khai triển (pha động) di chuyển dọc theo bản mỏng sẽ làm di chuyển

các cấu tử của mẫu thử theo một vận tốc khác nhau tạo thành một sắc ký đồ gồm

nhiều vết có Rf khác nhau.

Cơ chế chính trong SKLM là cơ chế hấp phụ.

1.4.1.2. Ứng dụng

Kỹ thuật SKLM hiện nay có nhiều ứng dụng, đặc biệt trong ngành nghiên cứu về

các hợp chất tự nhiên.

- Định tính: so sánh một chất với chất chuẩn.

- Cho biết đặc điểm của hợp chất vừa được phân lập.

- Sơ bộ xác định: trong hỗn hợp cần phân tách ban đầu có bao nhiêu hợp chất và

tính phân cực của mỗi hợp chất trong mỗi hỗn hợp mẫu ban đầu.

- Thăm dò hệ dung môi cho sắc ký cột.

- Theo dõi quá trình sắc ký cột: để nhận định các phân đoạn thu được từ sắc ký cột.

- Xác định độ tinh khiết của một chất.

- Kiểm nghiệm dược liệu: so sánh dịch chiết của dược liệu thử và dịch chiết dược

liệu chuẩn.

- Xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm dược liệu: bằng một quy trình chiết xuất nhất

định, trong điều kiện sắc ký nhất định, sắc ký đồ của dịch chiết dược liệu phải

không đổi về số vết, Rf, hình dạng, màu sắc các vết, tỷ lệ tương đối giữa các vết.

Sắc ký đồ được coi như là tài liệu không thể thiếu trong công tác xây dựng tiêu

chuẩn dược liệu.

- Theo dõi phản ứng, tối ưu hóa phản ứng.



1.4.2. Sắc kí cột



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(71 tr)

×