Tải bản đầy đủ - 66 (trang)
2 Những nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới về tác động của nợnước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

2 Những nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới về tác động của nợnước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ - 66trang

6



X : Xuất khẩu (%GDP

P : Tỉ lệ lạm phát

U : Phần dư

Nghiên cứu kết luận rằng nợ nước ngoài và lạm phát có tác động tiêu cực

đến tăng trưởng kinh tế, trong khi kim ngạch xuất khẩu có tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài , xuất khẩu và lạm phát

thay đổi 87% tốc độ tăng trưởng GDP thực trong giai đoạn 1978 – 2001. Trong số

các biến này, biến lạm phát là biến quan trọng nhất. Các kết quả của nghiên cứu cho

thấy nợ nước ngoài vượt quá khả năng trả nợ ở Sudan

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nên đầu tư vào các dự án khả thi, phát triển

kinh tế nhanh để duy trì nghĩa vụ nợ và duy trì đầu tư trong nước để thúc đẩy xuất

khẩu, thông qua chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu cùng với sự cải thiện cơ sở hạ

tầng trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, giao thông vận tải và kỹ năng quản lý.

-Tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế

Nigeria và Nam Phi của tác giả Folorunso S. Ayadi, Felix O. Ayadi (2008) 2

Tác giả ứng dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất và phương pháp bình

phương nhỏ nhất tổng quát để đo lường tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng

kinh tế của hai nền kinh tế Nigeria và Nam Phi, thu thập dữ liệu từ năm 1994 đến

2007. Nghiên cứu sử dụng biến tỷ lệ tăng trưởng GDP thực, nợ nước ngoài trên

GDP, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu,1tỷ lệ tăng trưởng vốn, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực,

tỷ lệ thanh toán nợ trên GDP thực.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nợ nước ngoài trên GDP, tỷ lệ tăng

trưởng xuất khẩu,2tỷ lệ tăng trưởng vốn, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực và tỷ lệ thanh



1



.Abdelmawla and Mohamed (2005) “The Impact of External Debts on Economic Growth: An Empirical

Assessment of the Sudan: 1978-2001” Eastern Africa Social Science Research Review - Volume 21, Number

2, June 2005, pp. 53-66

2.

Folorunso S. Ayadi University of Lagos, Felix O. Ayadi Texas Southern University (2008) “The impact of

external debt on economic growth: a comparative study of Nigeria and South Africa”



7



toán nợ trên GDP thực thay đổi 42% tăng trưởng kinh tế ở Nigeria và 99% tăng

trưởng kinh tế ở Nam Phi . Trong đó, xuất khẩu ít ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP

ở Nigeria nhưng xuất khẩu có mối quan hệ không chỉ tích cực mà đóng một vai trò

quan trọng trong quá trình tăng trưởng ở Nam Phi bằng cách tăng nhân tố năng suất.

Nghiên cứu đưa ra kết quả tác động tiêu cực của nợ đến tăng trưởng kinh tế ở

Nigeria và Nam Phi. Tuy nhiên, Nam Phi thực hiện tốt hơn so với Nigeria trong

việc áp dụng các khoản vay bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng vì ở Nigeria nợ nước

ngoài đóng góp tích cực vào tăng trưởng lên đến một điểm sau đó trở nên tiêu cực.

Đầu tư và dịch vụ nợ đóng góp đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria và Nam

Phi. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng Nigeria, Nam Phi và tất cả các quốc gia mắc nợ của

thế giới khi vay nợ nước ngoài chỉ ưu tiên các dự án có tác động trực tiếp đến phát

triển kinh tế và quản lý nợ minh bạch đồng thời chính phủ cần phải cắt giảm chi tiêu

để giảm thâm hụt ngân sách

-Nghiên cứu vai trò của nợ trong nước trên thị trường mới nổi Indonesia của

tác giả Muhammad Cholifihani3 (2009)

Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, giữa năm 1997, nợ nước ngoài tăng

đáng kể từ hơn 136 tỷ USD năm 1997 lên hơn 151 tỷ USD vào năm 1998, chủ yếu

là do sự mất giá của đồng Rupiah. Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP trong cuộc khủng

hoảng châu Á (1998 - 1999) đạt được mức cao nhất, trung bình hơn 130% GDP. Kể

từ giữa những năm 1990 nợ trong nước trong nền kinh tế thị trường mới nổi đã tăng

khá mạnh

Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để nghiên cứu tác động của nợ

trong nước đến tăng trưởng kinh tế, dữ liệu thu thập từ 13 quốc gia có nền kinh tế

mới nổi (7 quốc gia Châu Á và 6 quốc gia Châu Mỹ La tinh) từ năm 1990-2005

Mô hình hồi quy cho kết quả nợ trong nước tăng 1% thì tăng trưởng kinh tế

tăng trung bình 0,07% cho các nước mới nổi. Tại Indonesia, mô hình hồi quy cho



8



kết quả nợ trong nước tăng 1% thì tăng trưởng kinh tế tăng 0,47%, nợ nước ngoài

trên GDP tăng 1% sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế 0,16% cho thấy tác động tích

cực của nợ trong nước/GDP đối với tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được

cải thiện do sự đóng góp đáng kể của đầu tư và nợ trong nước.

Tuy nhiên, trong dài hạn kết quả1này cũng cho thấy rằng vai trò của nợ trong nước

có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển và chưa

trưởng thành. Nợ nước ngoài xuất hiện rẻ hơn so với nợ trong nước (Phát hành trái

phiếu chính phủ). Về rủi ro tỷ giá hối đoái, kể từ khi nợ nước ngoài chủ yếu được

tính bằng ngoại tệ mạnh: Yên, USD và Euro, chính phủ có thể xem xét sâu sắc để

đánh giá tài chính thông qua nợ nước ngoài là rẻ hơn so với phát hành trái phiếu

Chính phủ Indonnesia đã cố gắng để cân bằng việc sử dụng nợ công giữa các

khoản nợ trong và ngoài nước, sự lựa chọn của chi phí vay vốn thấp nhất (lãi suất

thấp và thời gian trả nợ dài) cần được chính phủ xem xét khi áp dụng vay từ các

chủ nợ để giảm thiểu việc trả nợ trong thời gian dài

-Nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria

của tác giả Sulaiman, L.A và Azeez, B.A4 (2012)

Bài nghiên cứu tác động nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria.

Mô hình hồi quy tuyến tính được áp dụng trong nghiên cứu này, đại diện là tổng sản

phẩm quốc nội (tăng trưởng GDP) là biến phụ thuộc để tính toán tăng trưởng kinh

tế và các biến nợ nước ngoài (EXD), tỉ lệ nợ nước ngoài so với xuất khẩu (EXD/X),

lạm phát (INF), và tỉ giá (EXR) là biến độc lập. Dữ liệu hàng năm thu thập từ Ngân

hàng trung ương của Nigeria và Văn Phòng quản lý nợ từ năm 1970 đến 2010.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), phương pháp Kiểm

định đơn vị (ADF), Kiểm định đồng liên kết Johansen , phương pháp hiệu chỉnh sai

số (ECM).



3



Muhammad Cholifihani “The Role of Public Domestic Debt in Economic Development: Study for Indonesia

and Emerging Market Economies”

4

Sulaiman, L.A và Azeez, B.A, of Nigeria State University, Ado Ekiti, Nigeria 12.8.2012 “Effect of External

Debt on Economic Growth”



9



Mô hình cụ thể như sau:

GDP = B0 + B1EXD + B2EXD/X + B3INF + B4EXR + e



(1)



Nghiên cứu đưa ra kết quả, nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến tăng trưởng

kinh tế. Tỉ lệ của nợ nước ngoài so với xuất khẩu lạm phát và tỉ giá hối đoái tác

động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria

Phương pháp Kiểm định đồng liên kết (Johansen) cho thấy có sự cân bằng

giữa các biến nói trên trong dài hạn. Phương pháp hiệu chỉnh sai số (ECM) cho thấy

trong ngắn hạn nợ nước ngoài có mối quan hệ tích cực nhưng không đáng kể đến

tăng trưởng kinh tế của Nigeria.

Những gợi ý được đưa ra của tác giả dựa trên những số liệu trong bài nghiên cứu:

Đầu tiên, chính phủ nên bảo đảm sự ổn định của kinh tế và chính trị để

hưởng lợi từ nợ nước ngoài và hạn chế gánh nặng nợ. Thứ hai là chính phủ nên

dùng nợ nước ngoài cho kinh tế để tăng năng suất hơn là chính trị hay xã hội. Thứ 3

là chính phủ nên đa dạng hóa những mặt hàng xuất khẩu để gia tăng lợi nhuận và

phát triển công nghiệp hóa để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Chính phủ thông qua

các cơ quan quản lý tiền tệ để hạn chế xu hướng lạm phát trong nền kinh tế. Hơn thế

nữa, sự ổn định về tỉ giá hối đoái cũng cần được chú trọng và chính phủ không nên

đánh giá thấp ở Nigeria. Cuối cùng,1chính phủ nên siết chặt nợ vay để giảm gánh

nặng nợ. Bài nghiên cứu khuyến cáo chính phủ nên bảo đảm sự ổn định kinh tế và

chính trị cũng như nợ nước ngoài nên được sử dụng cho kinh tế hơn là cho những

vấn đề xã hội hoặc chính trị.

-Nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Pakistan

5.



Shahnawaz Malik, Muhammad Khizar Hayat và Muhammad Umer Hayat (2010) External Debt and



economic Growth: Empirical Evidence from Pakistan, international Research Journal of Finance and

Economics ISSN 1450-2887 Issue 44 (2010)



10



của đồng tác giả Shahnawaz Malik, Muhammad Khizar Hayat và Muhammad

Umer Hayat 5(2010)

Cuối thập niên 1980, Pakistan đã dựa nhiều vào nợ nước ngoài để bù đắp cho

thâm hụt cán cân thanh toán và chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm. Do quá phụ

thuộc vào nguồn lực bên ngoài nên không thể kiểm soát được nền kinh tế. Ngân

hàng Thế giới phân loại Pakistan là quốc gia mắc nợ nghiêm trọng của Nam Á vào

năm 2001. Nợ nước ngoài của Pakistan bình quân trên 50% GDP.

Mục tiêu nghiên cứu của đồng tác giả là khám phá tác động của nợ nước

ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở Pakistan giai đoạn 1972-2005. Nghiên cứu sử

dụng mô hình nghiên cứu như sau:

GDP = α0 + α1 (ED) + α2 (DS) + εi

Trong đó:

GDP là biến phụ thuộc đại diện cho Tổng sản phẩm quốc nội , ED là biến

tông nợ nước ngoài và DS là biến dịch vụ nợ

Nghiên cứu sử dụng phương pháp Kiểm định đơn vị (ADF) để kiểm tra tính

dừng, không dừng của chuổi thời gian sử dụng trong mô hình thực nghiệm và

phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm tra tác động của nợ nước ngoài

và dịch vụ nợ đối với tăng trưởng kinh tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến tăng

trưởng kinh tế, khi tăng nợ nước ngoài dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm. Dịch vụ

nợ cũng có tác động đáng kể và tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vay nợ nước ngoài là cần thiết cho các nước

đang phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, nợ nước

ngoài tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Pakistan. Điều này là do Chính

phủ quản lý nợ nước ngoài yếu kém trong khi chi tiêu công quá lớn không kiểm

soát được. Pakistan đã đồng ý theo điều kiện không thuận lợi từ IMF và Ngân hàng

Thế giới, là phải thu hẹp hoạt động thương mại để tiết kiệm cán cân thanh toán đáp

ứng nghĩa vụ nợ của đất nước.



11



Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trước đây :

Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây về tác động của nợ nước

ngoài đến tăng trưởng kinh tế



Năm



2005



2008



2009



2010



2012



Tác giả



Abdelmawla

and Mohamed



Thời gian và

quốc gia

nghiên cứu



Kết quả



1978 - 2001

Sudan



Nợ nước ngoài và lạm phát có tác động

tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Trong

khi xuất khẩu có tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế



Folorunso S.

Ayadi, Felix O.

Ayadi



1994-2007

Nigeria và

Nam Phi



Muhammad

Cholifihani



1990-2005

Indonesia.



Shahnawaz

Malik,

Muhammad

Khizar Hayat

và Muhammad

Umer Hayat



Sulaiman, L.A

và Azeez, B.A



Nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến

tăng trưởng kinh tế. Tại Nigeria, nợ

nước ngoài đóng góp tích cực vào tăng

trưởng lên đến một điểm sau đó trở nên

tiêu cực. Xuất khẩu ít ảnh hưởng đến

tăng trưởng kinh tế ở Nigeria nhưng

xuất khẩu có ảnh hưởng tích cực ở Nam

Phi

Nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến

tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, về lâu

dài, nợ nước ngoài có thể tác động tích

cực đến tăng trưởng kinh tế



1972-2005

Pakistan



Nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến

tăng trưởng kinh tế. Khi nợ nước ngoài

tăng dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm.

Dịch vụ nợ cũng tác động tiêu cực đến

tăng trưởng kinh tế



1970- 2010

Nigeria.



Nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến

tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, tỉ lệ

của nợ nước ngoài so với xuất khẩu,

lạm phát và tỉ giá hối đoái tác động tích

cực đến tăng trưởng kinh tế. Trong

ngắn hạn nợ nước ngoài có mối quan hệ

tích cực nhưng không đáng kể đến tăng

trưởng kinh tế



12



Tóm tắt phần 1



Lý thuyết “Debt Overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng

trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ (dịch vụ nợ) sẽ

kìm hãm đầu tư trong nước từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng

Mô hình Debt Overhang không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của nợ nước

ngoài đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm tăng

trưởng do góp phần giảm đầu tư. Do đó, ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ có tác

động tích cực đến tăng trưởng nhưng tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng

trưởng. Từ đó, có thể kết luận rằng nợ và tăng trưởng có mối liên hệ phi tuyến

Theo phân tích của các nhà kinh tế học trên thế giới: vay nợ nước ngoài là cần thiết,

nợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Việc

quản lý nợ nước ngoài là chìa khóa chiến lược của mỗi quốc gia trong việc thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Do đó, hướng đến một mức độ nợ cao

hơn để hỗ trợ tăng trưởng không phải là một lựa chọn chính sách



13



PHẦN 2

PHƯƠNG PHÁP, MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU



2.1 Phương pháp và mô hình nghiên cứu

Theo lý thuyết Debt Overhang cho rằng: nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả

năng trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm

hãm đầu tư trong nước từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng

Có nhiều bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng

trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển như nghiên cứu của tác giả Sulaiman,

L.A và Azeez, B.A (2012) “Nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng

kinh tế Nigeria”. Theo tác giả, mô hình này là phù hợp với nghiên cứu về nợ nước

ngoài của Việt Nam hiện nay vì Nigeria cũng có nền kinh tế đang phát triển và tình

trạng sử dụng vốn vay từ nước ngoài như Việt Nam.

Dựa vào bài nghiên cứu của tác giả Sulaiman, L.A và Azeez, B.A (2012),

nghiên cứu sử dụng:

- Phương pháp kiểm định đơn vị (Unit root test- ADF)

Để kiểm tra tính dừng của các chuỗi số liệu theo thời gian

Giả thuyết của kiểm định:

H0: δ = 0 (kiểm định nghiệm đơn vị / không dừng)

H1: δ ≠ 0 (không kiểm định nghiệm đơn vị / dừng)

+ Nếu giá trị t > giá trị phản biện → giả thuyết H0 không bị bác bỏ

+ Nếu giá trị t < giá trị phản biện → giả thuyết H0 bị bác bỏ, chấp nhận H1

- Phương pháp đồng liên kết ENGLE – GRANGER

Kiểm định Engle – Granger dựa trên kết quả kiểm định tính dừng của phần dư et sau

khi tiến hành mô hình hồi quy, gồm hai bước. Bước 1, nghiên cứu thiết lập mối

tương quan trong cân bằng dài hạn trong số các biến. Bước 2, nghiên cứu kiểm định



14



tính liên kết của phần dư et bằng cách sử dụng tiêu chuẩn ADF để kiểm tra tính

dừng. Nếu kết quả kiểm định cho thấy phần dư là chuổi dừng thì khẳng định tồn tại

mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình đã thực hiện ở bước 1. Đặt

tên phần dư là “r”. Nếu phần dư r dừng thì mô hình đồng liên kết; ngược lại nếu r

không dừng thì mô hình không đồng liên kết. Kết quả kiểm định phần dư r được thể

hiện trong bảng kết quả kiểm định phần dư r, sau khi đã tiến hành hồi quy mô hình

- Phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)

Giả thuyết : B1, B2 > 0; B3, B4 < 0

Mô hình có dạng như sau: GDP = f(EXD, EXD/X, INF, EXR)

GDP = B0 + B1EXD + B2EXD/X + B3INF + B4EXR + e (1)

Trong đó:

B0



: hằng số



B1 – B4 : hệ số các biến độc lập

e



: phần dư



- Mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM)

Mô hình hiệu chỉnh sai số ECM từ công thức (1) có dạng như sau:

Log GDPt-I = BI∑Log EXDt-I + B2∑Log EXD/X t-I + B3∑Log INFt-I + B4∑Log

EXRt-I + ∑ECMt-I + ∑t (2)

Trong đó:

∑ECM



: sai số hiệu chỉnh



t–I



: bước trễ biến I thời kỳ



∑t



: nhiễu trắng



Mô hình giả định biến Tăng trưởng kinh tế (GDP) là biến phụ thuộc trong khi

các biến Nợ nước ngoài/GDP (EXD), Tỷ lệ Nợ nước ngoài/Xuất khẩu (EXD/X) và

Lạm phát (INF) và Tỷ giá hối đoái (EXR) đại diện cho các biến độc lập để đo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Những nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới về tác động của nợnước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(66 tr)

×