Tải bản đầy đủ - 98 (trang)
2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập

2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập

Tải bản đầy đủ - 98trang

32



Về tình trạng hôn nhân: Hôn nhân và gia đình liên quan đến mỗi gia đình và

từng cá nhân, có ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và tình cảm của mỗi

ngƣời và mỗi gia đình.

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra biến động dân số năm 2010 thì độ tuổi kết

hôn trung bình lần đầu năm 2010 của nữ là 22,7, nam là 26,2. Ở thành thị cả nam và

nữ kết hôn muộn hơn 2 tuổi so với nông thôn, cụ thể nữ là 24,3 và nam là 27,8; tuổi

tƣơng ứng ở nông thôn là 21,9 và 25,6. Ngƣời Kinh kết hôn lần đầu muộn hơn so

với các dân tộc khác, chẳng hạn ở nữ là 23, nam là 26,7, trong khi tuổi tƣơng ứng ở

các dân tộc khác là 21,1 và 23,9 .

Bảng 2.5 Tuổi ết h n trung bình lần đầu SAMA , tỷ trọng đã từng ết h n

của các nhóm tuổi, giới tính và chênh lệch SAMA, 1

Nữ



Nam

Năm



Phần trăm đã từng kết



điều



SMAM



tra



(Năm)



-2010



Phần trăm đã từng kết



lệch



hôn



SMAM



SMAM



hôn

15-19



20-24



45-49



(Nữ)



Chênh



(Nam 15-19



20-24



45-49



Nữ)



1999



24,5



2,5



30,4



98,5



22,8



9,3



54,3



94,2



2,6



2000



25,7



1,8



28,0



98,5



22,9



7,2



51,9



93,4



2,8



2001



25,7



1,9



28,5



98,6



22,8



8,0



52,6



93,4



2,9



2002



26,0



1,6



24,9



98,2



22,8



7,0



48,3



91,7



3,1



2003



26,2



1,6



23,4



98,5



23,1



6,6



46,2



93,1



3,1



2004



26,7



1,4



20,1



98,0



23,4



6,4



42,7



93,4



3,3



2005



26,8



1,5



19,4



98,2



23,5



6,2



42,1



93,4



3,3



2006



26,6



1,6



21,1



98,0



23,3



6,1



45,4



93,7



3,4



2007



26,6



1,7



21,4



98,0



23,2



6,0



44,9



93,7



3,3



2008



26,6



1,5



22,0



97,9



23,1



6,2



47,2



93,8



3,4



2009



26,2



2,2



24,4



97,9



22,8



8,5



49,2



94,4



3,4



2010



26,2



2,2



24,6



97,7



22,7



8,7



49,6



93,9



3,5



Nguồn: Báo cáo điều tra biến động dân số năm 2010 T ng cục thống k



33



Bảng 2.6 cho thấy, phần trăm đã từng kết hôn ở nhóm tuổi 45-49 thể hiện mức

chƣa kết hôn liên quan đến tái sản xuất dân số và mức độ phổ biến của hôn

nhân.Trong thời gian qua, t trọng này của nam khá ổn định, ở mức 98%.T trọng

đã từng kết hôn của nữ ở nhóm tuổi 45-49 ổn định ở mức 92% - 94%.Nhìn chung

tuổi kết hôn trung bình lần đầu có xu hƣớng tăng đối với nam. So với năm 1999,

SMAM của nam đã tăng 0,8 năm năm 2010, trong khi SMAM của nữ năm 2010

gần nhƣ không đổi. Chênh lệch SMAM giữa nam và nữ ngày càng lớn, đạt 3,5 năm

vào năm 2010. Điều này cho thấy t trọng nữ giới kết hôn sớm hơn so với nam giới.

Nếu nhƣ năm 2008 có 22% nam giới ở độ tuổi 20-24 đã từng kết hôn thì con số này

ở nữ giới là 47,2% hơn



so với nam giới. Năm 2010 t trọng kết hôn của hai giới



đều tăng nhƣng t trọng kết hôn của nữ vẫn cao hơn nam giới. Trong khi việc có

gia đình làm giảm cơ hội tham gia lao động tạo ra thu nhập thì sự chênh lệch quá

cao trong t lệ kết hôn thể hiện sự bất lợi hơn cho nữ giới trong việc san bằng

khoảng cách thu nhập.

2.2.2.



Nhóm yếu tố về giáo dục, trình độ đào tạo



Giáo dục đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển năng lực và

khẳng định bản thân của mỗi cá nhân, nam cũng nhƣ nữ. Giáo dục và đào tạo có tác

động dƣơng đối với thu nhập. Thực tế cho thấy, ngƣời lao động có trình độ chuyên

môn cao, kỹ năng phức tạp sẽ có mức lƣơng cao hơn nhiều so với ngƣời có trình độ

chuyên môn thấp, kỹ năng giản đơn (điều này đúng cho cả hai giới). Mặc dù bình

đẳng giới trong giáo dục đào tạo đã đƣợc Nhà nƣớc và xã hội quan tâm thực hiện

thông qua nhiều chƣơng trình và hoạt động cụ thể tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng

cách trong trình độ học vấn của nam và nữ.

T lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên ở nƣớc ta khá cao, năm 2010 đạt

93,7%. Tuy nhiên, t lệ nữ biết chữ vẫn thấp hơn so với nam, tƣơng ứng là 91,6%

và 95,9%. Khác biệt giữa nam và nữ về t lệ biết chữ thể hiện rõ hơn ở nông thôn,

tƣơng ứng là 95% và 89,6%. T lệ biết chữ của nam và nữ ở thành thị là 98,1% và

96,1%.



34



Theo báo cáo lao động việc làm năm 2010, t lệ lao động đã qua đào tạo của

nam cao hơn nữ. T lệ nam đã qua đào tạo trong cả nƣớc chiếm 16,3% trong khi đó

t lệ này ở nữ là 12,9%. Ở thành thị t lệ này cao hơn nông thôn nhƣng nhìn chung

ở khu vực nào t lệ của nam cũng vƣợt trội hơn so với nữ. Cụ thể t lệ nam đã qua

đào tạo ở thành thị là 32,4% cao hơn so với lao động nữ 4,3% ( nữ chỉ chiếm

28,1%), tại nông thôn là 9,9% ở nam giới trong khi đó nữ chỉ có 7,2%. Qua số liệu

KSMS cũng cho thấy, lao động nữ có bằng cấp chuyên môn luôn thấp hơn ở nam

giới trong mọi bậc đào tạo.

Bảng2.6 Lao động phân theo giới tính và bằng cấp chuyên môn

Phân theo bằng cấp,

chuyên môn



Giới tính



Tổng số



Nữ



Nam



Không có bằng cấp



973



948



1.921



Cấp 1



1.204



1.429



2.633



Cấp 2



1.266



1.550



2.816



Cấp 3



468



485



953



Dạy nghề ngắn hạn



103



343



446



Dạy nghề dài hạn



49



215



264



Trung học chuyên nghiệp



235



174



409



Cao đẳng



92



94



186



Đại học



180



244



424



Thạc sĩ, Tiến sĩ



7



11



18



Tổng cộng



4.577



5.493



10.070



Nguồn: tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS 2010

Ở nƣớc ta, lao động nữ chiếm đa số ở nông thôn, nhƣng trình độ tay nghề vẫn

cách xa nam giới. Điều này càng cho thấy vẫn còn tồn tại bất bình đẳng trong đào

tạo khi xem phụ nữ chỉ thích hợp cho các công việc lao động giản đơn mà chƣa chú

trọng đến các ngành nghề bậc cao để tiến hành đào tạo nâng cao tay nghề. Vì vậy,

nhà nƣớc nên chú trọng vào phát triển và đào tạo nghề ở nông thôn để góp phần làm

giảm khoảng cách của nam và nữ.



35



2.2.3.



Nhóm yếu tố lao động-việc làm



Kinh tế và lao động việc làm là lĩnh vực thể hiện cơ hội bình đẳng của nam và

nữ trong việc tham gia lao động sản xuất và thụ hƣởng các thành quả về kinh tế.

Qua đây có thể thấy phụ nữ và nam giới đƣợc trao quyền và tiếp cận các cơ hội nhƣ

thế nào về việc làm, thu nhập, tham gia các ngành nghề có triển vọng, qua đó khẳng

định vị thế trên thị trƣờng lao động.

Đơn vị tính: nghìn đồng/giờ



Hình 2.3 Thu nhập bình quân/giờ theo giới tính và khu vực kinh tế

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS 2010

Xét về khu vực kinh tế tham gia, dữ liệu VHLSS 2010 chỉ ra không có sự

chênh lệch đáng kể về thu nhập bình quân theo giờ ở các thành phần kinh tế hộ kinh

doanh cá thể. Khu vực kinh tế nhà nƣớc đƣợc k vọng mức lƣơng bình đẳng hơn

cho cả nam và nữ, tuy nhiên hình 3.5 cho thấy vẫn còn tồn tại chênh lệch trong thu

nhập theo giới. Ở khu vực kinh tế tƣ nhân và kinh tế tập thể, lao động nữ có mức

thu nhập cao hơn so với nam giới.Điều này là do lao động trong khu vực kinh tế tƣ

nhân, kinh tế tập thể chủ yếu là làm các công việc nhƣ: buôn bán nhỏ, giúp việc gia

đình... mà những công việc này phụ nữ thƣờng chịu khó và thích hợp hơn nam giới

nên mức tiền lƣơng giờ của nữ giới cao hơn nam giới. Tuy nhiên, điều này hoàn



36



toàn ngƣợc lại ở khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Thu nhập bình quân

theo giờ ở khu vực này cho các lao động nữ khoảng 15 nghìn đồng/ giờ và lao động

nam 20 nghìn đồng/ giờ mức chênh lệch lên tới 20%.

Việc tách biệt phân bổ lao động nam, nữ vào các khu vực kinh tế và ngành

nghề có tác động không tốt đến nữ giới. Theo đó, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với

công nghệ, tín dụng và giáo dục đào tạo, thƣờng gặp nhiều khó khăn do gánh nặng

công việc gia đình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới. Có vài lý do

giải thích cho sự hình thành của các nhóm việc làm mà trong đó sự khác biệt trong

tiếp cận đào tạo kỹ thuật làm hạn chế khả năng thích ứng với một số nghề nghiệp

của phụ nữ.

Kết quả KSMS 2010 về trình độ chuyên môn kỹ thuật cho thấy, yếu tố này có

tác động lớn đến mức lƣơng của ngƣời lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật càng

cao thì mức lƣơng đƣợc hƣởng càng cao với cả hai giới. Lao động có chuyên môn

kỹ thuật bậc trung, cao ở cả nam và nữ đều cao đáng kể so với lao động có kỹ thuật

bậc thấp và lao động giản đơn. Thu nhập bình quân theo giờ của lao động có tay

nghề bậc trung, cao khoảng trên 22 nghìn đồng/ giờ, trong khi đó đối với lao động

giản đơn khoảng 10 nghìn đồng/giờ. Đồng thời, phân theo kỹ năng lao động chuyên

môn không có sự khác biệt giữa thu nhập trung bình của nam và nữ. Điều này thể

hiện ở hình2.4.

Đơn vị tính: Nghìn đồng/ giờ



Hình 2.4 Thu nhập bình quân theo chuyên môn kỹ thuật của nam và nữ

Nguồn: Tính toán của tác giả từ bộ số liệu KSMS năm 2010



37



2.2.4.



Yếu tố khu vực địa lý



Mức sống và thu nhập của ngƣời lao động còn phụ thuộc vào khu vực sinh

sống là thành thị hoặc nông thôn hay vùng miền. Theo báo cáo điều tra lao động và

việc làm năm 2010 thì t lệ tham gia lực lƣợng lao động của nữ năm 2010 không

thấp hơn nhiều so với nam, cụ thể nữ là 72,4%, nam là 81,3%. Xu hƣớng này đã

đƣợc duy trì từ những năm 90, thể hiện sự tích cực của nữ và cơ hội tham gia ít

khác biệt giữa nam và nữ trong lực lƣợng lao động.

Qua khảo sát, ở khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng có thu nhập

bình quân theo giờ cao nhất cả nƣớc (trên 15 nghìn đồng/giờ). Trong khi đó, mức

thu nhập bình quân theo giờ ở khu vực Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc

chỉ ở mức dƣới 10 nghìn đồng/ giờ thấp hơn mức trung bình của cả nƣớc.

Đơn vị tính: Nghìn đồng/giờ



Hình 2.5 Thu nhập bình quân theo vùng địa lý của nam và nữ

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu KSMS năm 2010

Tính theo từng giới, mức chênh lệch này cũng khác nhau ở từng vùng miền.

Nếu nhƣ tại khu vực Đông Nam Bộ, thu nhập bình quân theo giờ của một lao động

nữ vào khoảng 16.000 đồng, thì mức này đối với nam giới là cao hơn 1000 đồng so

với nữ. Ngƣợc lại tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì thu nhập bình quân



38



của nam và nữ không có sự khác biệt lớn. Điều này chứng tỏ, sự chênh lệch trong

thu nhập của nam và nữ ngoài ảnh hƣởng của yếu tố vùng, còn bị chi phối bỡi đô thị

lớn, nơi mà sự khác biệt diễn ra mạnh hơn.

Để kiểm chứng mức độ chênh lệch này ở mức ý nghĩa 1%, các kiểm định t-test

về các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập đều cho thấy có sự

chênh lệch giữa thu nhập thành thị và nông thôn, giữa lĩnh vực nông nghiệp và phi

nông nghiệp, giữa lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trình độ trên đại học với

lao động không có trình độ…Các kết quả đƣợc mô tả trong phần phụ lục 3.

2.2.5.



i trường và chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới



Cho đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã thừa nhận việc thúc đẩy

bình đẳng giới sẽ đem lại cuộc sống với chất lƣợng tốt hơn cho tất cả mọi ngƣời.

Các quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế đã đạt đƣợc sự đồng thuận

cao cho rằng, nếu những phân biệt đối xử trên cơ sở giới bị xóa bỏ sẽ đem lại lợi ích

không chỉ cho các cá nhân mà còn mang lại lợi ích cho toàn thể cộng đồng, thúc đẩy

tăng trƣởng kinh tế, góp phần ổn định chính trị và công bằng xã hội.

So với các nƣớc trên thế giới, Việt nam có hệ thống luật pháp, chính sách về

bình đẳng giới tƣơng đối đầy đủ và tiến bộ. Việt nam đã phê chuẩn hầu hết các

Công ƣớc quốc tế liên quan đến bình đẳng giới và quyền của phụ nữ, trong đó quan

trọng nhất là Công ƣớc CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với

phụ nữ,…. Trong hệ thống luật pháp, từ Hiến pháp tới các bộ Luật, đều đề cập trực

tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện cho cả phụ nữ và nam

giới cùng phát triển tiến bộ và bình đẳng. Ngoài Hiến pháp, chúng ta còn có Luật

Hôn nhân và Gia đình (1986).Mới đây nhất, Luật Bình đẳng giới (2007) và Luật

Phòng, chống bạo lực gia đình (2008) là những luật chuyên môn về giới.Chính sách

bình đẳng giới còn đƣợc đề cập trong các luật khác và nhiều nghị quyết, chính sách

riêng cho công tác phụ nữ đánh dấu bƣớc phát triển quan trọng trong nỗ lực phấn

đấu vì bình đẳng giới ở Việt Nam.



39



Trong lao động và việc làm, bình đẳng giới thể hiện ở các mặt: cơ hội có việc

làm và tự do lựa chọn, thăng tiến, bảo hộ lao động, thụ hƣởng phúc lợi, phƣơng tiện

làm việc, đào tạo nâng cao trình độ, bình đẳng về tiền lƣơng, thu nhập và đánh giá

đối với mỗi ngƣời không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Tuy nhiên, vẫn còn

một số vấn đề đang thu hút sự quan tâm và tranh luận của toàn xã hội nhƣng vẫn

chƣa đạt đƣợc sự đồng thuận trong phƣơng hƣớng giải quyết, ví dụ nhƣ việc điều

chỉnh tuổi nghỉ hƣu của lao động nữ. Các cơ quan, tổ chức nhƣ Hội Liên hiệp phụ

nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt nam, các tổ chức phi chính phủ,... đã

có nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy sửa đổi chính sách nhƣ tổ chức các diễn đàn, hội

thảo, trƣng cầu ý kiến…việc quy định tuổi hƣu của phụ nữ sớm hơn nam giới 5 năm

cũng giảm cơ hội và thu nhập của nữ giới.

Hoặc một số quy định trong Bộ Luật lao động hƣớng tới bình đẳng giới trong

lao động, việc làm, tạo điều kiện và cơ hội cho nữ giới nhƣng vô hình chung lại là

yếu tố cản trở đối với họ. Ví dụ về đảm bảo bình đẳng giới trong quy định về

tuyển dụng lao động của Bộ luật Lao động điều 110, trong đó nêu rõ ngƣời sử dụng

lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng lao

động. Tuy nhiên, trong thực tiễn cho thấy, vẫn có hiện tƣợng doanh nghiệp vi phạm

pháp luật lao động khi thông báo tuyển dụng có ghi rõ ƣu tiên tuyển dụng cho một

giới (chỉ nam giới hoặc phụ nữ). Điều này sẽ cản trở hoặc hạn chế khả năng tiếp cận

cơ hội việc làm của giới kia. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp vi phạm khi đƣa ra

những điều khoản ràng buộc hoặc hạn chế lao động nữ sinh con trong một khoảng

thời gian nhất định (trong 1 đến 3 năm đầu tiên làm việc tại doanh nghiệp không

đƣợc sinh con). Hay về ƣu tiên tuyển dụng lao động nữ trong tuyển dụng lao

động đƣợc quy định rõ trong Bộ luật Lao động. Ngƣời sử dụng lao động phải ƣu

tiên nhận lao động nữ vào làm việc khi họ có đủ tiêu chuẩn tuyển chọn vào công

việc phù hợp với cả nam và nữtại khoản 2 điều 111. Quy định này phù hợp với nội

dung bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động của Luật Bình đẳng giới. Tuy nhiên,

chỉ nên coi đây đây là biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm tăng cơ hội việc làm tốt cho

lao động nữ, giảm khoảng cách giới trong việc tiếp cận việc làm tốt. Nếu ƣu tiên



40



trong tuyển dụng đối với lao động nữ đƣợc quy định cứng trong Bộ luật Lao động

có thể sẽ tạo thành rào cản cho chính họ khi tham gia thị trƣờng lao động. Bên cạnh

đó, ƣu tiên trong tuyển dụng đối với lao động nữ không nên và không thể áp dụng

cho mọi ngành, nghề và lĩnh vực. Đối với những ngành, nghề và lĩnh vực mà lao

động nam đang chiếm đa số, áp dụng các quy định ƣu tiên tuyển dụng lao động nữ

là phù hợp. Trái lại, trong các ngành, nghề và lĩnh vực mà lao động nữ đang chiếm

đa số nhƣ giáo dục, y tế, công nghiệp chế biến, có thể lại cần áp dụng chính sách ƣu

tiên tuyển dụng nam giới để thu hút họ vào làm việc. Vì vậy những quy định ƣu tiên

đối với lao động nữ trong tuyển dụng lao động nên đƣợc quy định cho cả hai giới

nhƣ biện pháp đặc biệt tạm thời.



TÓM TẮT Ý CHÍNH CHƢƠNG 2

Qua phân tích một số kết quả thống kê cho thấy, bất bình đẳng giới trong thu

nhập vẫn còn tồn tại, tuy nhiên mức độ chênh lệch không đáng kể. Các khu vực có

biểu hiện sự khác biệt tiền lƣơng theo giới nhƣ khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc

ngoài, khu vực kinh tế tƣ nhân. Hoặc sự chênh lệch diễn ra ở lao động có trình độ

chuyên môn kỹ thuật thấp, trình độ giáo dục phổ thông không cao…Ngoài ra,

khoảng cách thu nhập theo giới còn phụ thuộc vào từng nhóm tuổi, ngành nghề mà

lao động đó tham gia.

Nội dung chƣơng còn đề cập đến một số kiểm định t-test cho các yếu tố ảnh

hƣởng đến bất bình đẳng giới.



41



CHƢƠNG 3

KIỂM CHỨNG ĐỊNH LƢ NG VỀ MỨC ĐỘ BẤT BÌNH

ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP TẠI VIỆT NAM NĂM 2010.

Chƣơng này trình bày các kết quả ƣớc lƣợng, kiểm định, phân tích và tính toán

các hệ số hồi quy theo hàm thu nhập Mincer, kết hợp phƣơng pháp phân tích

Oaxaca nhằm xác định khoảng cách thu nhập và mức độ bất bình đẳng giới trong

thu nhập.

3.1 Dữ liệu nghiên cứu và m hình thực nghiệm

3.1.1



Dữ liệu nghiên cứu



Dữ liệu đƣợc sử dụng trong đề tài sau khi loại bỏ các quan sát bị khuyết, các

quan sát dị biệt còn lại 10.070 quan sát. (Nhƣ đã trình bày ở mục 1.6 chƣơng 1)

3.1.2



hình h i quy hàm thu nhập



incer



Mô hình hồi qui đƣợc dựa trên hàm thu nhập Mincer trình bày ở mục 1.2.1.

Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy hàm thu nhập mở rộng thêm các biến nhƣ sau :

lhincome = α0 + α1 yearsch + α2 yearexp+ α3 yearexp 2+ α4 uppuni + α5 coluni + α6

highsch + α7 certificate + α8 urban + α9 agrieco + α10 pubsec + α11 forsec + α12 highski +

α13 lowskil + α14 married + α15 bigcity + e



(4.1)



Trong đó mô tả biến cũng nhƣ kì vọng dấu thể hiện các mối quan hệ của các

biến số thể hiện nhƣ sau:

Biến phụ thuộc: Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là logarithm của thu nhập.

Để xác định giá trị của biến phụ thuộc này ta tính bình quân tiền lƣơng, tiền công

(gồm cả hai khoản: khoản tiền công tiền lƣơng chính thức và các khoản khác ngoài

lƣơng) có đƣợc trong 12 tháng qua, sau đó lấy logarithm thu nhập bình quân giờ

lao động theo từng cá nhân ta đƣợc giá trị biến phụ thuộc (lhincome).

Biến độc lập và ì vọng dấu:



42



Bảng 3.1: Biến độc lập và kì vọng dấu

Tên biến

yearsch



Ý nghĩa



Dấu kì vọng



Số năm đi học của một cá nhân đƣợc xác định bằng tổng số năm



(+)



đi học ở cả 3 bậc học theo hệ thống giáo dục Việt Nam: giáo dục

phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục dạy nghề.

yearexp



Số năm kinh nghiệm, là thời gian kể từ sau khi không còn đi học



(+)



cho đến năm khảo sát.

yearxep2



Số năm kinh nghiệm bình phƣơng



(-)



uppuni



Trình độ trên đại học mô tả cho lao động có trình độ thạc sỹ,



(+)



tiến sỹ

coluni



Trình độ đại học, cao đẳng



(+)



highsch



Trình độ dƣới THPT



(+)



certificate



Có bằng dạy nghề



(+)



urban



Thành thị



(+)



agrieco



Khu vực nông nghiệp



(-)



pubsec



Khu vực kinh tế nhà nƣớc



(+)



forsec



Khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài



(+)



highski



Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trung, cao



(+)



lowskil



Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp



(+)



married



Tình trạng hôn nhân (đang có gia đình)



(+)



bigcity



Thành phố lớn ( Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh)



(+)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập

Tải bản đầy đủ ngay(98 tr)

×