Tải bản đầy đủ - 98 (trang)
Cấu trúc đề tài

Cấu trúc đề tài

Tải bản đầy đủ - 98trang

5



Nam năm 2010. Phần cuối của chƣơng có đề cập một số nghiên cứu trƣớc có liên

quan đến vấn đề nghiên cứu.

Chƣơng 2: Thực trạng và các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới

trong thu nhập. Bằng phƣơng pháp thống kê mô tả, chƣơng 2 sẽ đƣa ra những

đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam

thông qua phân tích các số liệu về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm

trong bộ số liệu VHLSS 2010. Qua đó, nghiên cứu chỉ ra các tác động khác nhau

của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến bất bình đẳng giới trong thu nhập.

Chƣơng 3: Kiểm chứng định lƣợng về mức độ bất bình đẳng giới trong

thu nhập của ngƣời lao động tại Việt Nam năm 2010. Nội dung trình bày kết quả

ƣớc lƣợng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng cách thu nhập và các hệ số từ mô

hình phân tích Oaxaca. Nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích sự khác biệt tiền lƣơng

theo từng nhóm tuổi. Cuối chƣơng, tác giả một lần nữa đánh giá lại tác động của các

yếu tố bằng kết quả hồi quy tƣơng tác giữa các biến trong mô hình hồi quy thu nhập

Mincer .

Chƣơng 4: Kết luận và gợi ý chính sách. Chƣơng này sẽ tóm lƣợc lại những

kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu.Đồng thời, vận

dụng những kết quả này vào các tình huống thực tế. Từ đó, có những kiến nghị

chính sách nhằm thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách bất bình đẳng giới trong

thu nhập. Ngoài ra, chƣơng này còn đánh giá lại những điểm mới cũng nhƣ những

hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hƣớng nghiên cứu tiếp theo.

Sau cùng, luận văn cũng đính kèm phần phụ lục để chứng minh chi tiết hơn

cho những kết quả phân tích đã đƣợc trình bày trong các chƣơng.



6



CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ

PHƢƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

Chƣơng này trình bày tổng quan về khung lý thuyết, các yếu tố ảnh hƣởng đến

bất bình đẳng giới trong thu nhập của ngƣời lao động cùng với mô hình hàm hồi

quy thu nhập Mincer, phƣơng pháp phân tích Oaxaca làm cơ sở nền tảng lý thuyết

cho nghiên cứu, phƣơng pháp và các bƣớc tiền hành để thực hiện nghiên cứu. Phần

cuối của chƣơng có đề cập một số nghiên cứu trƣớc có liên quan đến vấn đề nghiên

cứu.

1.1 Các khái niệm

Giới: Theo Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2005) định nghĩa thì giới là phạm

trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội

tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm

giới khác nhau.Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi đƣợc.

Bình đẳng giới: Theo tài liệu” Hƣớng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và

thực thi chính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xuất

bản năm 2004 thì “ Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng nhƣ nhau các đặc

điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới”. Nam giới và phụ nữ có điều

kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện mong muốn của mình ; có cơ

hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hƣởng từ các nguồn lực của xã hội và

quá trình phát triển; đƣợc hƣởng tự do và chất lƣợng cuộc sống bình đẳng; đƣợc

hƣởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội.

Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của

nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa

bằng con số hoặc t lệ 50/50. Bình đẳng giới là sự khác biệt về giới tính trong các

vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ

công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho



7



nam và nữ phát triển toàn diện về mọi mặt. Đồng thời, bình đẳng giới còn tạo điều

kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con

và gánh vác phần lớn lao động gia đình mang lại.

Bất bình đẳng giới: Theo ILO thì bất kì sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở

chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hƣớng chính trị, nguồn gốc xã

hội…mà có ảnh hƣởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử

trong công việc và nghề nghiệp thì đƣợc coi là bất bình đẳng. Nhƣ vậy bất bình

đẳng giới là sự phân biệt trên cơ sở giới tính, làm ảnh hƣởng đến sự tham gia, đóng

góp và thụ hƣởng thành quả cũng nhƣ các nguồn lực của xã hội và sự phát triển của

con ngƣời. Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở

việc phân biệt đối xử trong công việc, không công bằng trong việc tiếp cận các cơ

hội cũng nhƣ phân biệt đối xử trong việc thừa hƣởng các thành quả lao động giữa

lao động nam và lao động nữ.

Bất bình đẳng giới trong thu nhập: Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu

vào vấn đề bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể là bất

bình đẳng giới đối với thu nhập. Theo Rio, C.D và các cộng sự, 2006 thì sự bất bình

đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập đƣợc hƣởng của lao động nam

và lao động nữ mặc dù các đặc tính năng động và năng suất lao động nhƣ nhau.

Nhƣ vậy, vấn đề nghiên cứu đƣợc xác định là bất bình đẳng giới trong thu

nhập. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá, tính toán và đo lƣờng để xác

định các yếu tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập. Trong nhóm các

yếu tố ảnh hƣởng, nghiên cứu chia làm hai nhóm, nhóm yếu tố kinh tế và nhóm yếu

tố phi kinh tế.Nhóm yếu tố phi kinh tế đó là các quan niệm, định kiến về giới.Đối

với các yếu tố này, tác giả dùng phƣơng pháp phân tích đánh giá. Nhóm yếu tố phi

kinh tế nhƣ: nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm, số năm đi học… tác giả

sử dụng phƣơng pháp tính toán, đo lƣờng, hồi quy, kiểm định… để đánh giá. Từ

các kết quả có đƣợc, tác giả đề xuất và gợi ý chính sách nhằm cải thiện mức độ bình

đẳng giới trong thu nhập cho ngƣời lao động Việt Nam.



8



1.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời lao động

1.2.1. Yếu tố phi kinh tế - Các quan niệm và tư tưởng truyền thống

Bất bình đẳng giới trong giai đoạn hiện nay có tác động xấu đối với sự phát

triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tình trạng

nghèo đói, mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Bất bình

đẳng giới tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt lĩnh vực lao động

– việc làm. Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ phụ thuộc vào mức độ ảnh

hƣởng từ những tƣ tƣởng định kiến giới, quan điểm văn hóa truyền thống mà còn

phụ thuộc vào nỗ lực của nhà nƣớc trong việc cải thiện sự bất bình đẳng giới.

Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam hiện nay

cũng không nằm ngoài những nguyên nhân nhƣ vừa nêu. Tuy nhiên, vấn đề này ở

nƣớc ta khá đặc thù, chủ yếu xuất phát từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong

xã hội và các quan điểm truyền thống.Đó là những quan niệm và định kiến xã hội

phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trƣớc về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia

đình cũng nhƣ xã hội mà không dễ dàng thay đổi.Theo đó, nam giới có quyền tham

gia công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và

quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà, con cái.Nam giới có toàn quyền chỉ

huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng

con.Ngƣời phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất k quyền định

đoạt gì kể cả đối với bản thân.Điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam

giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị nữ giới.Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn

đến sự hạn chế trong các cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục và đào tạo, việc lựa

chọn ngành nghề, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn. Sự phân bổ nam nữ lao động

trong các ngành nghề khác nhau và sự sắp xếp lao động và vị trí công việc trong cùng

một ngành nghề lĩnh vực cũng có những khác biệt rõ rệt. Chính vì những bất lợi đó

đã ảnh hƣởng rất lớn đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế cho nữ giới.



9



1.2.2. Yếu tố kinh tế

1.2.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động.

Nhóm yếu tố đặc điểm của ngƣời lao động gồm những yếu tố lien quan mặt

thể chất và giới tính gồm: độ tuổi,tình trạng hôn nhân.

Bojas (2005) qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một

ngƣời phụ thuộc vào tuổi tác của ngƣời đó.Tiền lƣơng tƣơng đối thấp đối với ngƣời

lao động trẻ, tăng lên khi họ trƣởng thành và tích lũy đƣợc vốn con ngƣời,rồi có thể

giảm nhẹ đối với những ngƣời lao động lớn tuổi. Đặc biệt, thu nhập của những lao

động nam trẻ thƣờng tang nhanh hơn thu nhập của ngƣời nữ trẻ.

Tình trạng hôn nhân tác động đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ

tƣơng tự nhau: khi đã lập gia đình và có con cái do những nhu cầu cuộc sống phát

sinh làm tăng nhu cầu làm việc để kiếm thêm thu nhập ở cả nam giới và phụ nữ.

Tuy nhiên có sự khác biệt giữa hai giới, do trách nhiệm chăm sóc gia đình đè nặng

trách nhiệm lên ngƣời nữ giới làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất và làm thu

nhập của họ thấp hơn nam giới

1.2.2.2 Nhóm yếu tố lao động, việc làm

Nhóm yếu tố này bao gồm: ngành nghề, chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm

làm việc. Xét theo ngành nghề, có sự khác biệt lớn trong t lệ nam giới và nữ giới

có cùng thu nhập với công việc tƣơng tự nhƣ nhau, nhiều doanh nghiệp ƣu tiên

tuyển nam hơn là nữ vẫn đang phổ biến, vì vậy nữ thƣờng phải chấp nhận trả công

lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc. Phụ nữ phải dành nhiều thời

gian làm các công việc gia đình nên ít có cơ hội để tham gia vào các hoạt động đào

tạo nâng cao trình độ chuyên môn; mức độ tham gia của phụ nữ trong các cấp chính

quyền cấp cơ sở khá cao nhƣng càng lên trên t lệ này giảm dần.

1.2.2.3 Nhóm yếu tố giáo dục, trình độ đào tạo

Giáo dục – đào tạo là yếu tố rất quan trọng ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời

lao động. Mincer (1974) đã chứng minh rằng, số năm đi học có tác động cùng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(98 tr)

×