Tải bản đầy đủ - 22 (trang)
CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM

CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM

Tải bản đầy đủ - 22trang

5



Theo Saussure cho rằng biến chuyển tuyệt đối là hiện tượng hết sức

hiếm hoi. Cách chia các hiện tượng chuyển biến ngữ âm thành lo ại tuy ệt đ ối và

loại có điều kiện là dựa trên cách nhìn hời hợt bên ngoài của s ự v ật. Theo ông

cách chia hợp lý hơn đó là hiện tượng ngữ âm tự phát và kết hợp.

Tự phát là khi nào những hiện tượng đó do một nguyên nhân bên trong

gây nên Ví dụ: sự biến chuyện âm o Ấn-Âu sang âm ɑ German (cf. Got, skadus,

Đức Hals, vv..) âm k1 trong Ấn-Âu thành h trong tiếng Tiền German (cf. Lat.

Colum và Got.hals, âm t trong Tiền German tr ở thành âm z khi sang tiếng

thượng Đức (cf. Got. Taihun, Anh ten, Đức zehn).

Kết hợp là khi nào nó do sự có mặt của một hay nhiều âm (phonème)

khác gây nên. Ví dụ: sự chuyển hóa ct, pt La Tinh sang tt Ý “cf. factum → gatto,

captivum → cattivo’’

Nếu một sự kiện ngữ âm có tính chất kết hợp thì bao gi ờ nó cũng có đi ều

kiện; nhưng nếu nó có tính chất tự phát, không nhất thi ết nó ph ải là m ột s ự

kiện tuyệt đối, vì nó có thể chịu đựng một điều kiện tiêu cực: sự không có mặt

của một nhân tố biến chuyển nào đấy.

Ví dụ k2 Ấn-Âu tự động trở thành qu trong tiếng La tinh (cf. quaiuor,

uiquang, v.v.) nhưng với điều kiện là không có u hay o, chẳng hạn, theo sau (cf.

cottidie, colo, secundus, v.v)

3. Một số điểm về phương pháp

Những công thức dùng để chỉ các hiện tượng phải chú ý đến những s ự

phân biệt trước đấy, nếu không sẽ trình bày các hiện tượng đó một cách sai

lạc.

Muốn phân biệt cho rõ những hiện tượng tự phát với những hiện

tượng kết hợp, phải phân tích các giai đoạn chuyển hóa để khỏi lầm tưởng

một hậu quả gián tiếp là một hậu quả trực tiếp. Chẳng hạn giải thích hiện

tượng r – hóa : genesis -> generis, mà nói rằng s đứng giữa 2 nguyên âm thì trở

thành r là không đúng vì s vốn không có tiếng thanh hầu, không thể nào

chuyển ngay thành r được. s trở thành z do một hiện tượng kết hợp, z tồn tại

không lâu trong bảng hệ thống La Tinh được thay thế bằng r → tính chất tự

phát.

Sự sai lầm nhất về phương pháp là dùng thời hiện tại để công thức

hóa một quy luật ngữ âm lịch sử, làm như thể những sự kiện, mà quy luật

này bao quát, tồn tại vĩnh viễn chứ không phải phát sinh và hủy di ệt trong



6



một quãng thời gian nhất định. Khi nói “ s trở thành r trong tiếng La Tinh”, làm

cho người nghe tưởng rằng hiện tượng r – hóa gắn liền với bản chất của ngôn

ngữ, chon nên người ta bị lúng túng trước những ngoại lệ như causa, risus,...

4. Nguyên nhân của những sự chuyển biến ngữ âm

Đi tìm những nguyên nhân này là một trong những vấn đề khó nhất của

ngôn ngữ học. Người ta đã đưa ra nhiều cách giải thích, nhưng không có cách

nào đưa lại được một sự sáng tỏ hoàn toàn:

I. Người ta đã nói rằng nòi giống có những xu thế vạch trước hướng đi

của những sự chuyển biến ngữ âm.

Nhân loại học so sánh: Bộ máy phát âm của chủng tộc này không khác

với bộ máy phát âm của chủng tộc khác. Chẳng qua cũng ch ỉ khác nhau nh ư

giữa cá nhân này với cá nhân khác mà thôi. Một người da đen s ống ở Pháp t ừ

khi lọt lòng cũng nói tiếng Pháp đúng như người bản xứ.

Tất nhiên là có một phương hướng chung của các hiện tượng ngữ âm học

ở một thời đại nhất định, trong một dân tộc nhất định; những hiện tượng đơn

- hóa các nguyên âm đôi trong tiếng Pháp hiện đại là những bi ểu hiện của m ột

xu hướng duy nhất và đồng nhất; trong lịch sử chính trị cũng có những trào

lưu chung tương tự nhưng tính chất lịch sử thuần túy không thấy ảnh

hưởng trực tiếp của chủng tộc.

II. Người ta đã thường hay coi những sự chuyển biến ngữ âm như một sự

thích nghi đối với những điều kiện thổ địa và khí hậu. Một số ngôn ngữ

phương Bắc tích tụ nhiều phụ âm lại thành nhóm,một s ố ngôn ngữ phương

Nam dùng nhiều nguyên âm hơn, do đó âm hưởng có du dương hơn.

Khí hậu và điều kiện sinh hoạt tất nhiên có thể ảnh hưởng đến ngôn

ngữ, nhưng hễ đi vào chi tiết thì vấn đề tr ở nên phức tạp. Ch ẳng h ạn bên

cạnh các ngôn ngữ Scandinavi, vốn dùng rất nhiều phụ âm, l ại có các ngôn

ngữ của người Lapon và người Phần Lan, còn dùng nhiều nguyên âm hơn cả

tiếng Ý nữa.

III. Người ta đã viện đến quy luật "cố gắng tối thiểu" ( hay "giảm

khó"), nó khiến người nói thay hai động tác cấu âm bằng một động tác, thay

một lối cấu âm khó bằng một lối tiện lợi hơn.Ý kiến này trong một chừng mực

cũng làm sáng tỏ nguyên nhân của hiện tượng hay ít nh ất cũng có th ể ch ỉ cho

ta thấy phương hướng để đi tìm nguyên nhân đó.



7



Luật cố gắng tối thiểu giải thích được một số trường hợp: sự chuyển

biến từ âm tắc đến âm xát, sự rơi rụng hàng loạt những âm ti ết cu ối t ừ trong

nhiều ngôn ngữ, những hiện tượng đồng hóa (lệ như ly -> ll, *alyos ->Hyl.állos;

tn-> nn, *atnos -> Lat.annus), hiện tượng đơn hóa của các nguyên âm dôi, vốn

chỉ là một dị dạng của hiện tượng đồng hóa.

Tuy vậy, người ta cũng có thể dẫn ra ngần ấy trường hợp ngược hẳn l ại.

Khó lòng xác định được cho từng ngôn ngữ cái gì dễ phát âm h ơn, cái gì khó

phát âm hơn. Nếu quả sự rút ngắn tương ứng với một sự cố gắng nhỏ hơn về

phương diện trường độ, thì lại có một điều không kém phần hiển nhiên là

những lối phát âm cẩu thả rơi vào âm dài, và âm ngắn đòi h ỏi ph ải th ận tr ọng

hơn.

Cần phải tiến hành một công việc nghiên cứu rất rộng vừa xét đ ến quan

điểm sinh lý học (vấn đề cấu âm) vừa xét đến quan đi ểm tâm lý h ọc (v ấn đ ề

sự chú ý).

IV. Một cách giải thích được ưa chuộng trong mấy năm gần đây gán

nguyên nhân của những sự thay đổi về cách phát âm cho quá trình giáo dục

ngữ âm của chúng ta trong thời thơ ấu.

Trẻ con thường phát âm t thay cho k, nhưng trong lịch sử ngôn ngữ của

chúng ta không thấy có một sự biến chuy ển ngữ âm nào tương ứng, song đ ối

với một số lệch lạc khác thì tình hình không phải nh ư v ậy, ch ẳng hạn ở Paris

nhiều trẻ em phát âm fl'eur, bl'anc với một âm l ướt (ngạc hóa); trong tiếng Ý,

quả nhiên là do một quá trình tương tự mà florem đã chuyển sang fl'ore, rồi

sang fiore.

Thật ra việc lựa chọn những phát âm sai rõ ràng là hoàn toàn võ đoán,

không sao thấy được lý do. Ngoài ra hiện tượng chuy ển biến lại có được tác

dụng trong lần này chứ không phải trong một lần khác.

Điều nhận xét vừa rồi có thể đem ứng dụng cho tất cả các nguyên nhân

trên kia, nếu tác dụng của các nguyên nhân đó được ch ấp nh ận; Ảnh h ưởng

của thời tiết, xu thế chủng tộc, khuynh hướng cố gắng tối thi ểu v ốn đều t ồn

tại một cách thường xuyên hoặc lâu dài, nhưng những nhân tố đó l ại tác v ị

từng đợt một vào từng điểm khác nhau trong hệ thống ngữ âm.

V. Đôi khi người ta đi tìm một trong những nguyên nhân quyết định ấy

trong trạng thái chung của dân tộc ở một th ời kỳ nhất định. Các ngôn ng ữ có

thể trải qua những thời đại mà gắn với những thời kỳ có nhiều bi ến động

trong lịch sử chính trị, do đó phát hiện một mối liên hệ gi ữa tính b ấp bênh



8



chính trị và tính bấp bênh ngôn ngữ. Sau khi đã làm như v ậy người ta tưởng có

thể ứng dụng cho các hiện tượng chuyển biến ngữ âm những kết luận có liên

quan đến ngôn ngữ nói chung. Để khỏi lạc hướng, cần phải năm vững hai s ự

phân biệt:

a. Khi tình trạng thăng bằng về chính trị làm chậm sự diễn biến của

ngôn ngữ, ta có một nguyên nhân tích cực, trong khi đó thì tình tr ạng b ấp

bênh, vốn có một hiệu quả ngược lại, chỉ có th ể là tác động một cách tiêu c ực.

Nếu có sự đảo lộn bên ngoài tác động vào làm cho sự di ễn bi ến ngôn ngữ

nhanh hơn lên, thì đó là vì ngôn ngữ trở lại trạng thái tự do, nó v ẫn xuôi chi ều

diễn biến.

b. Vấn đề đang bàn chỉ liên quan đến những hiện tượng ngữ âm chứ

không phải đến bất cứ loại chuyển biến nào của ngôn ngữ. Sự chuy ển bi ến

ngữ pháp thuộc vào loại nguyên nhân này, những sự ki ện ngữ pháp bao gi ờ

cũng có một khía cạnh nào đấy gắn liền với tư tưởng và dễ ch ịu tác dụng của

những sự đảo lộn bên ngoài hơn, vì những sự đảo lộn này có m ột ảnh h ưởng

trực tiếp hơn đối với trí tuệ.

VI. Người ta cũng viện đến giả thuyết về "cái nền trước kia của ngôn

ngữ": một số chuyển biến xảy ra là do dân bản xứ đã bị những người mới đến

chinh phục. Nhưng giả thiết này giả định những hoàn cảnh chỉ gặp rất ít.

VII. Một cách giải thích cuối cùng, vốn chẳng l ấy gì làm x ứng đáng v ới

danh hiệu đó - đem đồng nhất những sự chuyển biến ngữ âm với những

sự thay đổi về thời trang. Nhưng những sự thay đổi này thì chưa ai giải thích

cả, người ta chỉ biết rằng nó lệ thuộc vào những quy lu ật của vi ệc b ắt ch ước,

vốn rất được các nhà tâm lý học quan tâm đến.

5. Tác dụng của những sự chuyển biến ngữ âm là vô hạn.

Nếu tìm cách ước lượng hiệu quả của những sự chuyển biến này, người

ta sẽ nhanh chóng thấy rằng hiệu quả đó là vô hạn và không sao ước lượng

được.

Đến một lúc nào đấy, nhận thấy rằng các âm của một từ đã thay đ ổi, và

thay đổi đến mức nào đó, nhưng không thể nào nói trước rằng cái từ ấy đã

hay sẽ khác tới chừng mực nào để không nhận ra nó được nữa.

Nếu chỉ xét điểm xuất phát và điểm kết thúc, từ hiện đại không còn gi ữ

một yếu tố cũ nào, tuy thế mỗi giai đoạn xét riêng đều tuy ệt đối ch ắc ch ắn và



9



đúng quy tắc, ngoài ra mỗi giai đoạn đều có sự hạn chế về hiệu quả, nh ưng

nhìn gộp lại thì có ấn tượng một tổng số biến chuyển vô hạn.

Hiện tượng ngữ âm còn có tính chất vô hạn và không th ể ước lượng

được, ở chỗ nó tác động đến bất cứ loại dấu hiệu nào, không phân bi ệt đó là

một vị từ hay một danh từ, đó là một căn tố hay một hậu tố, một biến tố.

Vậy nếu những hiện tượng ngữ âm lịch sử không bị một giới hạn nào

ngăn chặn, nó phải đưa lại một sự chuyển hóa sâu xa trong cơ chế ngữ pháp.

CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ

ÂM

1. Đứt liên hệ ngữ pháp

Hậu quả đầu tiên của hiện tượng ngữ âm là làm đứt mối liên hệ ngữ

pháp giữa hai hay nhiều từ. Do đó, có khi một từ không còn được c ảm th ấy

như phái sinh từ từ kia nữa. Dẫn chứng:

mansiõ - *mansionaticus

maison || ménage

Trong ý thức của con người trước kia thì, *mansionaticus được coi như

phái sinh từ mansiõ, nhưng về sau sự chuyển biến ngữ âm đã tách hai từ này

ra. Cũng vậy, trong trường hợp sau đây:

Berbix – berbīcārius

Brebis || berger

Sự tách rời này dĩ nhiên có tác động đến giá trị; do đó mà trong một s ố

thổ ngữ Berger đi đến chỗ chỉ riêng người “chăn bò”.

Hoặc còn như trong trường hợp sau đây:

Decem – undecim

Dix || onze

- Sự diễn biến ngữ âm lại còn cắt đứt mối quan hệ bình thường vốn có

giữa hai hình thái biến vĩ của cùng một từ. Chẳng hạn:

comes – comiten

sang tiếng Pháp cổ lại thành: cuens || comte

hay:



10



barõ – barõnem

chuyển thành: ber || baron

Có trường hợp lại là một biến tố bị tách làm đôi. Ví d ụ trong ti ếng Ấn-Âu

dùng nột âm –m cuối làm đặc trưng cho tất cả các hình thái đối cách s ố đ ơn

(wom, *ek, *ovim…). Nhưng trong tiếng La tinh, không có sự thay đổi tri ệt để

nào về mặt này. Tiếng Ly Hạp cách xử lý rất khác nhau đối v ới âm mũi chính

thanh và cộng thanh đã tạo ra hai loạt hình thái khác nhau: híppon, póda…Đối

cách số phức cũng cho ra một sự kiện y hệt như vậy ( cf. híppous, pódas).

2. Xóa mờ cấu trúc của từ

Hai bộ phận riêng biệt của một từ vốn góp phần xác định giá trị của nó

không còn phân tích ra được nữa, và từ ấy trở thành một tổng th ể không phân

tích được. Dẫn chứng:

Tiếng Pháp: ennemi (cf. Lat. in-imicus – amĩcus).

Tiếng Đức: Drittel (thay cho drit – teil – teil).

Các hình thái đơn hunc, hanc, hāc,...của tiếng La-tinh cổ điển bắt đầu từ

hon-ce, han-ce, hā-ce,...là kết quả của một hiện tượng chắp dính một đại từ với

tiểu tố -ce, nhưng về sau –e mất đi, người ta cũng không thể phân biệt các yếu

tố hunc, hanc, hāc,...

Sự chuyến biến ngữ âm mới đầu chỉ gây khó khăn cho vi ệc phân tích, sau

khi các thành tố ban đầu của từ bị biến đổi ngữ âm mất đi hoàn toàn thì vi ệc

phân tích nguồn gốc ngữ âm sẽ bị cản trở hoàn toàn.

3. Không làm gì có những từ song lập ngữ âm

Trong trường hợp xét ở $1 và $2, sự biến hóa đã tách hẳn hai từ v ốn có

liên hệ ngữ pháp. Hiện tượng này gây nên một sai lầm nghiêm trọng về cách

thuyết minh.

Khi nhận thấy sự đồng nhất tương đối giữa barõ:barõnem trong tiếng La

tinh dung tục và sự cách biệt giữa ber: baron trong tiếng Pháp cổ, người ta dễ

có khuynh hướng nói rằng một đơn vị vốn là duy nhất (-bar) đã phát triển

theo hai khuynh hướng khác nhau và đã làm nảy sinh ra hai từ song. Không

phải thế, vì cùng một yếu tố, trong cùng một lúc và ở cùng m ột n ơi không th ể

nào chịu hai sự chuyển biến khác nhau: đi ều đó trái v ới chính cách đ ịnh nghĩa

của sự biến hóa ngữ âm. Sự biến hóa của các âm không có khả năng tạo ra hai

từ song (chứ không phải một).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM

Tải bản đầy đủ ngay(22 tr)

×