Tải bản đầy đủ - 65 (trang)
2 Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ

2 Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ - 65trang

14



kịp với thực tiễn hoạt động thanh toán TDCT tại các ngân hàng, gây ra những rủi ro

trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, các thông lệ và tập quán quốc tế được phát

hành bằng tiếng Anh. Trong quá trình dịch thuật, có thể tồn tại ý hiểu khác nhau

giữa các quốc gia dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa các bên tham gia.

1.2.1.2 Rủi ro đạo đức

a. Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu



Xảy ra trong trường hợp nhà nhập khẩu cố tình lừa người bán xếp hàng lên

tàu rồi sử dụng các thủ đoạn chuyên nghiệp như bắt lỗi sai sót bộ chứng từ nhằm ép

giá người bán để thu lợi cho chính mình. Trong trường hợp này, nhà xuất khẩu

thường phải giảm giá hàng bán, nếu không, nhà xuất khẩu phải chấp nhận nhận lại

lượng hàng hóa đó. Nghiêm trọng hơn có trường hợp nhà nhập khẩu phát hành thư

tín dụng giả mạo, lừa đảo những nhà xuất khẩu non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hoặc sau khi bán được hàng cố tình không nộp tiền

vào tài khoản, không tiến hành thanh toán cho ngân hàng như đã cam kết, ảnh

hưởng đến dòng vốn dự tính của ngân hàng.

b. Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu



Xảy ra khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng không phù hợp với hợp đồng như

thiếu, kém chất lượng, chậm giao hàng…nhưng do cấu kết với hãng tàu hoặc hãng

bảo hiểm, vẫn xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với những quy định

của L/C do có sự cấu kết với hãng tàu, hãng bảo hiểm…Trong trường hợp này, theo

UCP ngân hàng vẫn tiến hành thanh toán và nhà nhập khẩu phải chịu mọi rủi ro.

Ngoài ra trong trường hợp giá hàng hóa quốc tế tăng, người bán không muốn giao

hàng cho người mua, phá vỡ kế hoạch kinh doanh của nhà nhập khẩu, ảnh hưởng

đến hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.

c. Rủi ro từ phía ngân hàng



Trong nhiều trường hợp, NHPH cũng vi phạm cam kết của mình như trì

hoãn, hoặc từ chối thanh toán cho bộ chứng từ của nhà xuất khẩu. Hoặc với sự thiếu

trung thực của Ngân hàng chiết khấu, bộ chứng từ không hoàn hảo vẫn được gửi

điện tới NHPH, NHPH tin tưởng tiến hành thanh toán và sẽ gặp rủi ro.



15



1.2.1.3



Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng liên quan đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của



các bên. Khác với các phương thức thanh toán khác, ngân hàng chỉ đóng vai trò là

trung tâm thanh toán, chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng. Còn trong thanh

toán TDCT, ngân hàng đứng ra cam kết thanh toán cho người thụ hưởng. Vì vậy rủi

ro tín dụng là điều khó có thể tránh khỏi.

1.2.1.4 Rủi ro thị trường

Hoạt động thanh toán TDCT chịu sự chi phối rất nhiều của nhân tố thị trường

trong và ngoài nước. Chỉ cần một sự biến động nhỏ trong tỷ giá, lãi suất, lạm

phát…cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của các chủ thể trong thanh

toán TDCT.

Đáng chú ý nhất trong rủi ro thị trường là rủi ro ngoại hối. Xảy ra khi việc

thanh toán được ấn định bằng đồng tiền nước ngoài. Ngoài ra, lạm phát cũng là

nhân tố thị trường gây thiệt hại cho các bên trong quá trình xuất nhập khẩu. Khi lạm

phát tăng, giá cả nguyên liệu đầu vào tăng làm cho hàng hóa xuất khẩu mất khả

năng cạnh tranh, hay lợi thế tương đối không còn nữa. Hoạt động xuất khẩu bị

ngưng trệ, doanh số thanh toán TDCT của ngân hàng cũng giảm đi đáng kể.

1.2.1.5 Rủi ro tác nghiệp

Đây là rủi ro mang tính chủ quan, phát sinh trong quá trình xử lý các nghiệp

vụ của chuyên viên TTQT tại các ngân hàng và nhà xuất khẩu trong quá trình xuất

trình bộ chứng từ đòi tiền đến ngân hàng.

Rủi ro tác nghiệp từ phía ngân hàng đến từ các nguyên nhân chủ yếu: do con

người gây ra, do lỗi hệ thống công nghệ thông tin do quy trình thực hiện và các yếu

tố khách quan khác.



16



1.2.2



Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán TDCT



1.2.2.1



Do sự biến động của nền kinh tế thị trường

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các ngân hàng thương mại luôn chịu sự



chi phối khắt khe của quy luật cung cầu, giá cả thị trường… nên cũng phải thường

xuyên đối mặt với các rủi ro từ mọi phía. Ngoài ra, những yếu tố như giá cả thay

đổi, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý,điều hành kém, khủng hoảng tài chính…

cũng là tác nhân gây ra khó khăn đối với các doanh nghiệp, thua lỗ, thậm chí là phá

sản, vỡ nợ…

Ngoài ra, sự biến động trong thị trường tài chính, sự thay đổi tỷ giá, các chỉ

tiêu về nợ nước ngoài, dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán của một quốc gia

cũng gây nên sức ép và rủi ro đối với việc thanh toán quốc tế.

1.2.2.2



Do bất cân xứng thông tin

Bất cân xứng thông tin là nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro tín dụng và rủi ro



đạo đức trong thanh toán quốc tế.

Thông tin là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi bên tham gia thanh

toán quốc tế. Nếu một bên không nắm vững tình hình tài chính cũng như uy tín hay

khả năng thanh toán của bên đối tác, không am hiểu và kiểm tra được các thông số

kĩ thuật và hiệu quả kinh tế của dự án mình tài trợ thì rủi ro tín dụng xảy ra là điều

khó tránh khỏi.

Việc thiếu thông tin hay sự thiếu trung thực của đối tác, đồng thời lại bị họ

cố tình che dấu hay lừa gạt nên đưa ra những quyết định sai lầm đã gây ra rủi ro đạo

đức.

1.2.2.3



Năng lực và đạo đức kinh doanh của các nhà nhập khẩu



17



Đây là yếu tố quan trọng quyết định sự suôn sẻ hay không của cuộc thanh

toán quốc tế. Thanh toán quốc tế được coi là quyền lợi của bên xuất khẩu và đồng

thời là trách nhiệm của người nhập khẩu. Thanh toán diễn ra tốt đẹp khi mà các bên

tham gia tôn trọng hợp đồng đã ký và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong

cả chu trình đó.

Người nhập khẩu là người có trách nhiệm trả tiền cho người xuất khẩu. Họ

có nghĩa vụ phải thông qua ngân hàng để mở thư tín dụng hợp lệ chủ động trong

việc thanh toán, nhận hàng, mua bảo hiểm… Nếu người nhập khẩu do năng lực hạn

chế không thực hiện tốt các nghĩa vụ trên thì quá trình thanh toán diễn ra không

thuận lợi. Tương tự nếu người nhập khẩu không có thiện ý tốt, anh ta sẽ tìm mọi

cách gây khó khăn cho ngân hàng cũng như cho người xuất khẩu như bắt bẻ mọi sơ

suất dù là nhỏ nhất để từ chối thanh toán, hoặc kéo dài thời gian thanh toán…trong

các trường hợp trên thì quy trình thanh toán sẽ bị gián đoạn ảnh hưởng đến quyền

lợi của các bên.

Đối với người xuất khẩu năng lực và hành vi của họ cũng ảnh hưởng nhiều

đến quy trình thanh toán. Nghĩa vụ của người xuất khẩu là kiểm tra thư tín dụng do

người nhập khẩu mở, giao hàng đúng hợp đồng, lập bộ chứng từ phù hợp với các

điều khoản của L/C…Trong đó, lập bộ chứng từ phù hợp là khâu gặp nhiều trở ngại

nhất vì người xuất khẩu phải qua nhiều công đoạn, thủ tục. Đây chính là một trong

những nguyên nhân dẫn đến trường hợp người xuất khẩu lập bộ chứng từ giả mạo,

trốn tránh việc kiểm tra chất lượng hàng hoá của cơ quan có thẩm quyền để lừa gạt

người nhập khẩu. Hoặc người xuất khẩu không nghiêm túc khu thực hiện hợp đồng,

lập được bộ chứng từ phù hợp nhưng trong thực tế giao hàng lại không đúng với

quy định trong hợp đồng. Từ đó, dẫn đến quá trình thanh toán chậm lại, thậm chí có

khi phải huỷ bỏ hợp đồng đã ký.



18



Như vậy, năng lực và đạo đức kinh doanh của các bên có ảnh hưởng nhiều

đến chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ. Nếu người mua và người bán có kiến

thức và có kinh nghiệm trong thương mại quốc tế thì quy trình thanh toán trở nên

nhanh chóng và thuận lợi hơn. Vì vậy, sự hiểu biết rộng, có kinh nghiệm và tính làm

việc nghiêm túc của cả hai bên người xuất và người nhập là những yêu cầu cần thiết

để thúc đẩy quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.

1.2.2.4



Các nhân tố vĩ mô và các nhân tố bất khả kháng

Những biến động về chính trị như chiến tranh, đảo chính…hay sự thay đổi



về bộ máy, thể chế chính trị, chính phủ ở nước xuất nhập khẩu hay sự bất thống

nhất giữa luật điều chỉnh L/C ngoài UCP 600, luật quốc gia của từng nước dẫn tới

rủi ro chính trị hay rủi ro pháp lý trong thanh toán quốc tế.

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng chủ yếu trong thanh

toán xuất nhập khẩu, mà quan hệ này lại phụ thuộc nhiều vào môi trường vĩ mô của

hai nươc xuất nhập khẩu như: chính trị, xã hội, môi trường kinh tế, tình hình an

ninh…Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế cũng như những chính sách quản lý của

từng quốc gia đều tác động ảnh hưởng mạnh mẻ, chăng hạn như việc ban bố chính

sách hạn chế nhập khẩu hay chính sách kiểm toán ngoại hối thắt chặt sẽ có tác động

làm ảnh hưởng lớn đến quá trình thanh toán. Giá trị thanh toán xuất nhập khẩu được

tính bằng ngoại tệ nên tỷ giá hối đoái thường xuyên biến động sẽ gây thiệt hại cho

cả hai bên. Vì vậy, trong điều kiện các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội…ổn định thì

chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ sẽ được đảm bảo và ngược lại.

Ngoài ra, phương thức tín dụng chứng từ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất

khả kháng như bất kỳ một quan hệ kinh tế nào. Các hiện tượng như: chiến tranh,

đình công, khủng bố, thiên tai, hoả hoạn, các vụ tấn công nhà băng…được coi là

các trường hợp mà ngân hàng có thể thoát khỏi trách nhiệm thanh toán cho người

hưởng, chấm dứt ngay lập tức quy trình thanh toán nhưng với thiệt hại thuộc về

hầu như tất cả các bên.



19



Nhìn một cách tổng quát, quy trình thanh toán tín dụng chứng từ bị ảnh

hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Để nâng cao hiệu quả phương thức thanh toán tín dụng

chứng từ, chung ta phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có thể điều chỉnh

với khả năng tốt nhất của mình

1.2.2.5 Các nguyên nhân khác



Trình độ của cán bộ ngân hàng: Tham gia vào quy trình thanh toán, các ngân

hàng là những trung gian không thể thiếu được. Nếu là ngân hàng phục vụ người

mua thì ngân hàng có trách nhiệm mở thư tín dụng, cam kết sẽ trả tiền cho người

bán. Việc ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người bán đồng nghĩa với việc

ngân hàng cấp cho người mua một khoản tín dụng. Vì vậy, trước khi phát hành L/C,

ngân hàng phải phân tích, đánh giá tình hình tài chính của người mua, xem hiệu quả

hoạt động của họ như thế nào, có uy tín hay không, từ đó, quyết định xem người

mua có cần phải thực hiện điều kiện đảm bảo cho khoản vay hay không. Thực hiện

các khâu trên đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải là những người có kinh nghiệm, có

năng lực chuyên môn vững vàng, có khả năng phân tích và tổng hợp tốt…để đảm

bảo đánh giá đúng khách hàng trong thời gian ngắn nhất, trên cơ sở đó, thu hút thêm

khách hàng mới ngoài ngoài những khách hàng có uy tín và làm ăn lâu dài với ngân

hàng. Tương tự, nếu là ngân hàng phục vụ người bán thì ngân hàng có trách nhiệm

thông báo thư tín dụng cho người xuất khẩu và tiếp nhận bộ chứng từ từ người này.

Với trách nhiệm là ngân hàng được uỷ thác thanh toán, ngân hàng này phải đặc biệt

lưu ý trong khâu kiểm tra tích hợp lý của bộ chứng từ. Vì đây là khâu quyết định

xem người bán có được thanh toán hay không nên các cán bộ phụ trách khâu này

phải hết sức cẩn thận, làm việc tập trung và có trách nhiệm.



20



Trên thực tế, có nhiều trường hợp do trình độ của cán bộ ngân hàng hạn chế

làm cho quy trình thanh toán bị chậm lại. Chẳng hạn như, các điều khoản trong L/C

thường được thể hiện bằng ngôn ngữ nước ngoài nên nếu trình độ cán bộ ngân hàng

hạn chế thì sự hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi. Hay như trong khâu kiểm tra

bộ chứng từ do người bán gửi đến, cán bộ ngân hàng kiểm tra quá lâu vừa gây chậm

trể thanh toán cho người xuất khẩu vừa kéo dài thời gian để có thể nhận được hàng

của người nhập khẩu, làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá và kế hoạch sử dụng

vốn của người xuất khẩu…

Có thể nói, bản thân các ngân hàng tham gia có ảnh hưởng lớn đến sự nhanh

chậm của quá trình thanh toán, trong đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như

phong cách phục vụ khách hàng của cán bộ ngân hàng là yếu tố quyết định. Đây là

yếu tố phản ánh rõ nét nhất và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chất lượng của dịnh vụ

thanh toán quốc tế của ngân hàng.

Công nghệ trong thanh toán: Đây là yếu tố phản ánh tính chất hiện đại và sự

tiện lợi của hệ thống thiết bị, công nghệ kỹ thuật được sử dụng trong quy trình

thanh toán quốc tế, Hệ thống công nghệ càng hiện đại thì quy trình thanh toán diễn

ra càng nhanh, chất lượng càng được đảm bảo. Theo xu hướng hiện nay, các ngân

hàng chủ yếu thanh toán qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng quốc tế

SWIFT (Society For Worldwide Interbank Financial Telecommunications) nhiều

hơn hình thức thư từ (mail). Việc mở và thông báo L/C bằng SWIFT có tác dụng rút

ngắn tối đa khoảng thời gian, tránh thất lạc tài liệu và đảm bảo thông tin được

truyền đi một cánh đầy đủ, chính xác. Trong khi đó, việc mở và thông báo L/C bằng

thư tuy có ưu điểm chi phí thấp nhưng lại kéo dài thời gian của quy trình thanh

toán, hơn nữa, khả năng thất lạc thư từ là điều có thể xảy ra.



21



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nếu ra cơ sở luận của phương thức thanh toán TDCT cùng

những rủi ro thường gặp của ngân hàng thương mại khi tham gia vào hoạt động

thanh toán TDCT. Bên cạnh đó, chương 1 cũng phân tích 1 số nhân tố tác động đến

rủi ro trong thanh toán TDCT. Đây sẽ là hệ thống cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho

việc phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro trong thanh toán theo phương thức TDCT

tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – SeABank tại chương 2



22



CHƯƠNG 2.



THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG



CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG NAM Á

2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) có trụ sở chính tại 25 Trần Hưng

Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. SeABank được biết đến là ngân hàng nằm trong nhóm

dẫn đầu các ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam về quy mô vốn điều

lệ, mạng lưới hoạt động, mức độ nhận biết thương hiệu và tốc độ tăng trưởng ổn

định.

SeABank được thành lập từ năm 1994, trải qua chặng đường 21 năm phát

triển, SeABank đã đạt được thành tựu phát triển ấn tượng với vốn điều lệ 5.466 tỷ

đồng, tổng tài sản đạt gần 80 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động trên khắp 3

miền đất nước với 154 điểm giao dịch. SeABank được Ngân hàng Nhà nước xếp

hạng trong Nhóm các tổ chức tín dụng có hoạt động lành mạnh và tăng trưởng ổn

định. Bằng nội lực của chính mình, cùng với sự hợp tác chiến lược của liên minh cổ

đông trong và ngoài nước - Societe Generale, VMS MobiFone, PVGas - SeABank

đang vươn lên khẳng định vị thế bằng những giá trị thực chất và hiệu quả.

Vì những thành tích nổi bật đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

giai đoạn 2007-2012, SeABank vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương

Lao động hạng Ba. Những giải thưởng và danh hiệu cao quý mà SeABank đã đạt

được trong những năm qua ghi nhận quá trình phấn đấu bền bỉ của SeABank qua 21

năm thành lập và phát triển, xây dựng hình ảnh thương hiệu với sứ mệnh “Kết Nối

Giá Trị Cuộc Sống” và hướng đến mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại

Việt Nam.

SeABank đặt mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam,

cung cấp đầy đủ và đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tài chính cho khách hàng cá

nhân, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp lớn, tối ưu

hóa lợi ích cho từng đối tượng khách hàng và cổ đông, đảm bảo phát triển bền

vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội, phát

triển ngân hàng theo mô hình của một ngân hàng bán lẻ và từng bước hướng tới trở

thành một tập đoàn ngân hàng - tài chính đa năng, hiện đại, nổi bật về chất lượng



23



sản phẩm dịch vụ và uy tín thương hiệu. Trong chiến lược phát triển ngân hàng bán

lẻ, SeABank sẽ tập trung đặc biệt vào khách hàng cá nhân và đồng thời phát triển

mảng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như doanh nghiệp lớn. Các sản

phẩm dịch vụ của SeABank được thiết kế đa dạng phù hợp với nhu cầu và năng lực

tài chính của từng đối tượng và phân khúc khách hàng.

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

2.1.2.1.

Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là nghiệp vụ không thể thiếu của các ngân hàng thương mại.

Đây là nguồn vốn chính để ngân hàng có thể duy trì và phát triển kinh doanh. Công

tác huy động vốn của một ngân hàng được đánh giá là có hiệu quả khi ngân hàng đó

luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

đến vay vốn và đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, huy động vốn phải dựa trên cơ sở xác định được thị trường đầu

ra định hướng được hiệu quả các dự án đầu tư cũng như nắm bắt được mức độ ảnh

hưởng của lãi suất.

Thông qua việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn khác nhau không

ngừng mở rộng mạng lưới dịch vụ cũng như nâng cao và hoàn thiện chất lượng dịch

vụ ngân hàng với tiêu chí nhanh chóng, chính xác thuận tiện cho khách hàng, công

tác huy động vốn của ngân hàng đã đạt được những kết quả khích lệ, nguồn vốn

tăng trưởng với tốc độ cao, đáp ứng được khối lượng lớn nhu cầu vốn phục vụ cho

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các công ty và dân cư trên địa bàn.

Trong giai đoạn 2012 – 2014, SeABank đã đạt được kết quả huy động vốn

như sau:

Bảng 2.1: Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của Ngân hàng TMCP

Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: triệu VND



Tổng nguồn vốn



Vốn huy động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ ngay(65 tr)

×