Tải bản đầy đủ - 65 (trang)
1 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

1 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ - 65trang

9



Như vậy, cho dù được gọi như thế nào thì bản chất của tín dụng chứng từ vẫn

phải tuân thủ nội dung của Điều 2 UCP600, thể hiện là một thỏa thuận, theo đó một

ngân hàng hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng trên danh

nghĩa của chính mình, phải trả tiền theo lệnh của một người khác hoặc chấp nhận và

trả tiền hối phiếu do người này kí phát, khi bộ chứng từ quy định được xuất trình và

tuân thủ điều kiện của Tín dụng.

Các nội dung chính của một thư tín dụng bao gồm:

Số hiệu L/C (Credit Number)

Địa điểm phát hành L/C (Place of Issuance)

Ngày phát hành L/C (Date of Issuance)

Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C

Số tiền, loại tiền, số lượng, đơn giá (Credit Currency and Amount)

Thời gian hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C

Thời hạn trả tiền của L/C (Date of Payment)

Ngày giao hàng (Shipment Date)

Những nội dung liên quan đến hàng hóa gồm:

 Nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa

 Yêu cầu về bố chứng từ

 Quy định về luật dẫn chiếu

 Sự cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành

• Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình:

 Hối phiếu (Draft/Bill of Exchange)

 Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)

 Chứng từ vận tải

 Hợp đồng bảo hiểm (Insurance Policy)

• Các chứng từ khác





















Một số loại thư tín dụng chứng từ phổ biến có thể kể đến như sau:





















L/C có thể hủy ngang (Revocable L/C)

L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)

L/C không thể hủy ngang có xác nhận (Irrevocable comfirmed L/C)

L/C không thể hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without Recourse L/C)

L/C chuyển nhượng (Transferable L/C)

L/C tuần hoàng (Revolving L/C)

L/C giáp lưng (Back to Back L/C)

L/C đối ứng (Reciprocal L/C)

L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C)



10







1.1.2



L/C dự phòng (Standby L/C)

L/C trả chậm (Deffered Payment L/C)

Đặc điểm của thanh toán tín dụng chứng từ

Trong thanh toán tín dụng chứng từ, ngoài vai trò là đại lý và chức năng



giám sát, ngân hàng còn tham gia chủ động và tích cực hơn bằng cách đưa ra cam

kết chắc chắn về việc thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình khi có một xuất trình phù

hợp. Phương thức thanh toán L/C có một số đặc điểm như sau:





L/C là hợp đồng kinh tế giữa hai bên



L/C là hợp đồng kinh tế điều chỉnh mối quan hệ giữa NHPH và nhà nhập

khẩu. Mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà nhập khẩu đã do NHPH đại diện. Như vậy, nội

dung L/C chỉ là cam kết của NHPH với nhà xuất khẩu về việc thanh toán đúng theo

điều khoản của L/C mà thôi.





L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa



Theo điều 4, UCP 600: “L/C là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng ngoại

thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C.

Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào các

hợp đồng đó, ngay cả khi L/C dẫn chiếu đến các hợp đồng này”.





L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ



Theo điều 5 UCP 600: “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở chứng từ chứ

không bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà chứng từ có liên quan”.

Như vậy, ngân hàng chỉ có trách nhiệm kiểm tra việc xuất trình để quyết định

xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp không để tiến

hành thanh toán, hoặc chiết khấu bộ chứng từ. Trong phương thức thanh toán L/C,

chứng từ có vai trò đặc biệt quan trọng, là đại diện của giá trị hàng hóa đã được

giao, là cơ sở để ngân hàng thanh toán, người nhập khẩu đi nhận hàng.



11







L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ bộ chứng từ.



Vì ngân hàng chỉ giao dịch dựa trên cơ sở chứng từ, nên yêu cầu tuân thủ

chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được thanh toán,

nhà xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản

và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại, và nội dung đáp ứng

những yêu cầu của L/C.





L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro



Theo phương thức thanh toán L/C, nhà nhập khẩu ủy thác cho ngân hàng

phát hành làm thủ tục trả tiền cho nhà xuất khẩu đã giao hàng đúng theo thỏa thuận

trong hợp đồng thương mại, bằng chứng thể hiện trên bộ chứng từ phù hợp được

ngân hàng chấp nhận.

Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, nhà nhập khẩu có cơ sở tin

chắc rằng NHPH sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, còn nhà xuất

khẩu tin chắc rằng mình sẽ nhận được tiền hàng nếu trao cho ngân hàng bộ chứng

từ phù hợp với quy định của L/C. Như vậy, phương thức L/C dung hòa được lợi ích

và rủi ro giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu và được coi là phương thức thanh

toán phòng ngừa rủi ro tốt nhất cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.

1.1.3



Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ

Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ



12



Diễn giải sơ đồ:

(1) Hai bên mua bán kí kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo



phương thức L/C.

(2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu NHPH mở L/C cho người xuất khẩu thụ

hưởng.

(3) NHPH mở L/C theo đúng yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân

hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết về việc thư tín dụng đã được mở.

(4) NHTB thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở và khi nhận được bản



gốc của thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.

(5) Dựa vào L/C, người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng đó thì tiến hành giao

hàng, còn nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi , bổ

sung, điều chỉnh thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng.

(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng

thông báo để được thanh toán.

(7) NHĐCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu phù hợp với L/C thì thanh toán; nếu thấy

không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà

xuất khẩu.

(8) NHĐCĐ gửi bộ chứng từ cho NHPH để được hoàn trả.

(9) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán cho

NHĐCĐ, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả nguyên vẹn bộ

chứng từ cho NHĐCĐ.



13



(10)NHPH đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi đã



nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.

(11)Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả

tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.

1.2



Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ



1.2.1



Phân loại rủi ro

Như đã phân tích ở trên, Tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán



an toàn tuy nhiên vẫn tồn tại những rủi ro cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, đặc

biệt là với các ngân hàng. Theo quy trình thanh toán trên, ta có thể nhận thấy một số

rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như sau:

Rủi ro pháp lý

Những rủi ro pháp lý thường gặp trong thanh toán TDCT phải kể đến như sau:

Rủi ro do sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý cho hoạt động TTQT và



1.2.1.1



thanh toán TDCT: trong thanh toán TDCT, các bên tham gia thường thỏa thuận sử

dụng UCP và dẫn chiếu vào L/C. Tuy nhiên đây chỉ là quy phạm mang tính chất tùy

ý. Vì vậy, việc áp dụng trong thực tế còn phát sinh nhiều hạn chế do mỗi quốc gia

vận dụng ở các mức độ khác nhau. Luật quốc gia thường tôn trọng pháp luật và tập

quán quốc tế, tuy nhiên không phải không tồn tại mậu thuẫn. Nếu có sự mâu thuẫn

giữa luật quốc gia và tập quán quốc tế thì luật quốc gia sẽ được ưu tiên áp dụng.

Nếu pháp luật hai quốc gia có sự khác biệt nhau thì rủi ro có thể sẽ xảy ra.

• Rủi ro do sự biến động của các chính sách kinh tế: để phù hợp với tình hình phát

triển của quốc gia trong từng thời kỳ, chính phủ thường ban hành các chính sách về

dự trữ ngoại hối, thuế, tỷ giá. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hành vi của

nhà xuất nhập khẩu đối với từng mặt hàng cụ thể. Ngoài ra các chính sách điều

chỉnh tỷ giá, lãi suất cũng có những tác động không nhỏ đến tình hình hoạt động,

kinh doanh, là trở ngại cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó,





ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại.

Rủi ro khi áp dụng thông lệ và tập quán quốc tế: UCP được sử dụng phổ biến trong

thanh toán tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, ở nhiều trường hợp, UCP vẫn không theo



14



kịp với thực tiễn hoạt động thanh toán TDCT tại các ngân hàng, gây ra những rủi ro

trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, các thông lệ và tập quán quốc tế được phát

hành bằng tiếng Anh. Trong quá trình dịch thuật, có thể tồn tại ý hiểu khác nhau

giữa các quốc gia dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa các bên tham gia.

1.2.1.2 Rủi ro đạo đức

a. Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu



Xảy ra trong trường hợp nhà nhập khẩu cố tình lừa người bán xếp hàng lên

tàu rồi sử dụng các thủ đoạn chuyên nghiệp như bắt lỗi sai sót bộ chứng từ nhằm ép

giá người bán để thu lợi cho chính mình. Trong trường hợp này, nhà xuất khẩu

thường phải giảm giá hàng bán, nếu không, nhà xuất khẩu phải chấp nhận nhận lại

lượng hàng hóa đó. Nghiêm trọng hơn có trường hợp nhà nhập khẩu phát hành thư

tín dụng giả mạo, lừa đảo những nhà xuất khẩu non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hoặc sau khi bán được hàng cố tình không nộp tiền

vào tài khoản, không tiến hành thanh toán cho ngân hàng như đã cam kết, ảnh

hưởng đến dòng vốn dự tính của ngân hàng.

b. Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu



Xảy ra khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng không phù hợp với hợp đồng như

thiếu, kém chất lượng, chậm giao hàng…nhưng do cấu kết với hãng tàu hoặc hãng

bảo hiểm, vẫn xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với những quy định

của L/C do có sự cấu kết với hãng tàu, hãng bảo hiểm…Trong trường hợp này, theo

UCP ngân hàng vẫn tiến hành thanh toán và nhà nhập khẩu phải chịu mọi rủi ro.

Ngoài ra trong trường hợp giá hàng hóa quốc tế tăng, người bán không muốn giao

hàng cho người mua, phá vỡ kế hoạch kinh doanh của nhà nhập khẩu, ảnh hưởng

đến hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.

c. Rủi ro từ phía ngân hàng



Trong nhiều trường hợp, NHPH cũng vi phạm cam kết của mình như trì

hoãn, hoặc từ chối thanh toán cho bộ chứng từ của nhà xuất khẩu. Hoặc với sự thiếu

trung thực của Ngân hàng chiết khấu, bộ chứng từ không hoàn hảo vẫn được gửi

điện tới NHPH, NHPH tin tưởng tiến hành thanh toán và sẽ gặp rủi ro.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ ngay(65 tr)

×