Tải bản đầy đủ - 65 (trang)
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG NAM Á

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG NAM Á

Tải bản đầy đủ - 65trang

23



sản phẩm dịch vụ và uy tín thương hiệu. Trong chiến lược phát triển ngân hàng bán

lẻ, SeABank sẽ tập trung đặc biệt vào khách hàng cá nhân và đồng thời phát triển

mảng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như doanh nghiệp lớn. Các sản

phẩm dịch vụ của SeABank được thiết kế đa dạng phù hợp với nhu cầu và năng lực

tài chính của từng đối tượng và phân khúc khách hàng.

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

2.1.2.1.

Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là nghiệp vụ không thể thiếu của các ngân hàng thương mại.

Đây là nguồn vốn chính để ngân hàng có thể duy trì và phát triển kinh doanh. Công

tác huy động vốn của một ngân hàng được đánh giá là có hiệu quả khi ngân hàng đó

luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

đến vay vốn và đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, huy động vốn phải dựa trên cơ sở xác định được thị trường đầu

ra định hướng được hiệu quả các dự án đầu tư cũng như nắm bắt được mức độ ảnh

hưởng của lãi suất.

Thông qua việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn khác nhau không

ngừng mở rộng mạng lưới dịch vụ cũng như nâng cao và hoàn thiện chất lượng dịch

vụ ngân hàng với tiêu chí nhanh chóng, chính xác thuận tiện cho khách hàng, công

tác huy động vốn của ngân hàng đã đạt được những kết quả khích lệ, nguồn vốn

tăng trưởng với tốc độ cao, đáp ứng được khối lượng lớn nhu cầu vốn phục vụ cho

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các công ty và dân cư trên địa bàn.

Trong giai đoạn 2012 – 2014, SeABank đã đạt được kết quả huy động vốn

như sau:

Bảng 2.1: Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của Ngân hàng TMCP

Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: triệu VND



Tổng nguồn vốn



Vốn huy động



24



2012

75,066,716

62,816,317

2013

79,864,432

6.39

69,944,809

11.35

2014

85,864,521

7.51

77,278,069

10.48

Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính SeABank giai đoạn 2012 – 2014

Từ bảng tổng hợp trên, có thể thấy tình hình huy động vốn của SeABank ổn

định trong giai đoạn 2012 – 2014. Tổng nguồn vốn tăng đều, với tốc độ tăng năm

2013 so với năm 2012 là 6.39% và năm 2014 so với năm 2013 là 7.51%. Hơn nữa,

vốn huy động của SeABank cũng tăng đều qua các năm và tốc độ tăng nhanh hơn

các nguồn cấu thành vốn khác. Vốn huy động tính đến cuối năm 2014 đạt

77,278,069 triệu VND, tăng 10.48% so với năm 2013, tăng 23.02% so với năm

2012. Giai đoạn 2012 – 2014 là giai đoạn mà nền kinh tế còn tồn tại rất nhiều khó

khăn thì việc giữ được nguồn vốn ổn định như SeABank là rất tốt.



25



Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn tại SeABank giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: Triệu VND



Nguồn: BCTC Ngân hàng TMCP Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2014

Trên đây là biểu đồ về cơ cấu huy động vốn của SeABank giai đoạn 2012 –

2014 trên thị trường I (từ nền kinh tế) và thị trường II (thị trường liên ngân hàng).

Có thể thấy hoạt động huy động vốn của SeABank có những biến động tích

cực trong ba năm vừa qua. Năm 2012, vốn huy động của SeABank trên thị trường I

là 31446801 triệu VND, thị trường II là 31369516 triệu VND, tức là ở mức xấp xỉ

nhau. Tuy nhiên đến năm 2013 và 2014, tỷ lệ vốn huy động trên thị trường I đã có

sự tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ vốn huy động từ thị trường I so với tổng nguồn vốn huy

động tăng từ 50% năm 2012 lên mức 51.73% năm 2013 và đạt mức 53% năm

2014.Điều này là một tín hiệu tích cực khi nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục, tiền gửi

của nền kinh tế đã chảy vào được ngân hàng, giúp hạn chế sức ép trên thị trường

liên ngân hàng. Tuy nhiên cơ cấu vốn huy động của SeABank cũng chưa đạt được

mức kỳ vọng bởi vốn vay trên thị trường liên ngân hàng vẫn còn lớn.

2.1.2.2.

Hoạt động cấp tín dụng

Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu,

đem lại phần lớn doanh thu cho ngân hàng. Tuy nhiên, đi đôi với doanh thu lớn,

hoạt động tín dụng cũng đem lại rủi ro lớn nhất cho ngân hàng. Đi đôi với tăng

trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng của SeABank cũng đang được cải thiện.

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động tín dụng của SeABank giai đoạn 2012 -2014

Đơn vị: Triệu VND

Chỉ tiêu

2012



Tổng dư nợ

16694447



Tốc độ tăng



Nợ xấu

495825



Tỷ lệ nợ xấu

2.97%



26



2013

2014



20928780

25.36%

594377

2.84%

26606758

27.13%

771596

2.9%

Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính SeABank giai đoạn 2012 – 2014

Cùng với tăng trưởng huy động vốn, dư nợ tín dụng của SeABank cũng có



kết quả tích cực. Theo bảng tổng hợp kết quả hoạt động tín dụng giai đoạn 2012 –

2014, có thể thấy dư nợ tín dụng của SeABank tăng trưởng ổn định. Tổng dư nợ

năm 2013 là 20,928,780 triệu VND, tăng 25.36% so với năm 2012. Đến năm 2014,

tốc độ tăng trưởng tín dụng là 27.13% so với năm 2013, đạt 26606758 triệu VND.

Nợ xấu của SeABank giai đoạn này cũng được kiểm soát ở mức dưới 3%. Năm

2012, do kinh tế vẫn còn những bất ổn mà tỷ lệ nợ xấu của SeABank còn cao, ở

mức 2.97%, tuy nhiên đã giảm đi còn 2.84% trong năm 2013.

Ngoài tăng trưởng tín dụng và kiểm soát được nợ xấu, cơ cấu nợ của

SeABank cũng là một vấn đề được quan tâm.



27



Biểu đồ 2.2: Dư nợ của SeABank theo thời hạn trả nợ giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: Triệu VND

Nguồn: Báo cáo tài chính SeABank giai đoạn 2012 – 2014

Từ biểu đồ trên, ta thấy rằng dư nợ từng kỳ hạn của SeABank tăng qua các

năm đặc biệt là trong năm 2014, dư nợ tăng từ mức 8,550,691 triệu VND lên mức

11,174,838 triệu VND, tăng đến 30% do năm 2013 SeABank ký được nhiều hợp

đồng tín dụng dài hạn và đến năm 2014 mới có thể giải ngân. Nợ trung hạn tăng

không nhiều, ở mức ổn định. Nợ ngắn hạn cũng có sự tăng mạnh trong năm 2014.

Có thể thấy cơ cấu cho vay của SeABank chưa thực sự hợp lý khi quá nhiều vốn

dồn vào việc cho vay dài hạn vì đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro cho Ngân hàng.

Ngân hàng nên xem xét để tập trung hơn vào các lĩnh vực cho vay trung hạn và

ngắn hạn để mang lại sự an toàn cho mình khi mà nền kinh tế vẫn chưa hoàn toàn

bình phục.



28



2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP



Đông Nam Á

2.2.1 Cơ sở pháp lý

Các văn bản pháp lý điều chỉnh thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm UCP

và một số văn bản pháp lý khác đi kèm.

“UCP là một tập hợp các nguyên tắc và tập quán quốc tế được Phòng

thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo và phát hành, quy định quyền hạn, trách nhiệm

của các bên liên quan trong giao dịch tín dụng chứng từ với điều kiện thư tín dung

dẫn chiếu đến UCP”.

Phiên bản mới nhất hiện nay là UCP 600 có hiệu lực vào 01/07/2007.

Ngoài ra còn một số văn bản khác giải thích và làm rõ việc áp dụng và thực

hiện UCP:

• Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dung để kiểm tra chứng từ trong phương

thức tín dụng chứng từ ISBP (International Standard Banking Practice for the

Examination of Documentary Under Documentary Credits) dùng để kiểm tra chứng

từ theo thư tín dụng phiên bản 745 do ICC ban hành năm 2013.

• Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng theo phương thức tín dụng chứng từ URR

275 (The Uniform for Bank Reimbursement under Documentary Credits).

• eUCP 1.1 bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử, ra đời cùng

với UCP 600.

ICC là một tổ chức mang tính hiệp hội, nghề nghiệp (phi chính phủ, phi

quyền lực), do vậy, UCP vav các văn bản trên do ICC ban hành không mang tính

chất pháp lý bắt buộc, chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu áp dụng UCP, thì nó mới có

hiệu lực pháp lý bắt buộc.

Do có nhiều nguồn luật điều chỉnh nên trình tự ưu tiên như sau: Công ước

quốc tế, Luật quốc gia, Thông lệ và tập quán quốc tế. Như vậy, trong quá trình áp

dụng UCP vào thực tiễn, nếu có nội dụng xung đột, mâu thuẫn thì luật quốc gia sẽ

được ưu tiên vượt lên trên về tính chất pháp lý.

2.2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP

Đông Nam Á

Hoạt động Thanh toán quốc tế đã phát huy vai trò tích cực đối với hoạt động

kinh doanh của SeABank. Hoạt động Thanh toán quốc tế của SeABank giai đoạn



29



vừa qua có những bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng. Cụ thể

ngày14/8/2013 tại Hà Nội, SeABank đã được ngân hàng Wells Fargo - một trong

bốn ngân hàng lớn nhất của Mỹ, trao giải thưởng về chất lượng soạn điện thanh

toán chuẩn 6 tháng đầu năm 2013 (High Straight-Through Rate for Payment

Processing). Giải thưởng là sự ghi nhận, đánh giá cao hiệu quả chất lượng dịch vụ

Thanh toán quốc tế 6 tháng đầu năm 2013 của SeABank. Đây là năm thứ 6 liên tiếp

(2007 – 2013) SeABank được Wells Fargo trao tặng giải thưởng này (giải thưởng

Thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2007 là do ngân hàng Wachovia – tiền thân của

Wells Fargo trao tặng). Cùng với giải thưởng của Wells Fargo, chất lượng thanh

toán quốc tế của SeABank còn được ghi nhận thêm với các giải thưởng Thanh toán

quốc tế xuất sắc do ngân hàng Citibank trao tặng từ năm 2009 – 2011, và ngân hàng

HSBC trao tặng từ năm 2008 – 2011. Dịch vụ Thanh toán quốc tế tỷ lệ điện chuẩn

của SeABank đạt trên 95%. Hiện SeABank đã có quan hệ đại lý với 350 ngân

hàng/chi nhánh ngân hàng tại 51 quốc gia trên thế giới.

Góp phần lớn trong kết quả thanh toán quốc tế của Ngân hàng TMCP Đông

Nam Á chính là hoạt động thanh toán Tín dụng chứng từ.

2.2.2.1



Tình hình hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP



Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2014

a. Thanh toán L/C xuất khẩu.



Hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu tại SeABank giai đoạn 2012 – 2014 đã

có những chuyển biến tích cực với sự tăng lên cả về số lượng bộ chứng từ thanh

toán cũng như giá trị thanh toán.



30



Bảng 2.3: Doanh số L/C xuất khẩu của SeABank giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: triệu USD



Nguồn: Tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động TTQT giai đoạn 2012 – 2014

Theo số liệu tổng hợp trên, ta thấy trong năm 2012, SeABank đã thông báo

39 L/C, với tổng doanh số là 4,047 triệu USD. Năm 2013 nền kinh tế bắt đầu có

chuyển biến tích cực, khách hàng của ngân hàng mở rộng được sản xuất kinh doanh

nên doanh số L/C xuất khẩu tăng lên 4.884 triệu USD với 42 L/C thông báo. Số L/C

tăng 3 món nhưng doanh số thông báo tăng đến 20.68%, điều này đồng nghĩa với

giá trị trung bình của một L/C SeABank thông báo năm 2013 cũng lớn hơn những

năm trước. Có nghĩa là uy tín của SeABank trong mảng dịch vụ TTQT đã được

nâng cao. Đến năm 2014, tình hình vẫn khả quan khi số lược L/C thông báo qua

SeABank tiếp tục tăng nhanh, Số lượng tăng thêm 9 thành 51 L/C được thông báo,

tổng doanh thu đạt 5.907 triệu USD, tăng 20.95% so với năm 2013.

Tương tự như doanh số thông báo L/C xuất khẩu, doanh số thanh toán L/C

xuất khẩu cũng tăng trong giai đoạn 2012 - 2014. Năm 2012, ngân hàng đã gửi ra

nước ngoài 32 bộ L/C đòi tiền với giá trị 4.37 triệu USD. Năm 2013 doanh số thanh

toán L/C tăng mạnh đạt 6.05 triệu USD với 40 bộ chứng từ được gửi đi, tăng 8 bộ

so với năm 2012 và tăng tới 38.44% về giá trị. Tình hình tiếp tục phát triển nhưng

có phần ổn định và chậm lại vào năm 2014 khi doanh số tăng 15.37% đạt 6,98 triệu

USD với 44 L/C xuất khẩu.

Nhìn chung, doanh số L/C xuất khấu giai đoạn 2012 – 2014 của SeABank có

sự phát triển qua cả ba năm. Đặc biệt trong năm 2013, cả số lượng và doanh số L/C

nhập khẩu đều có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là một tín hiệu tích cực trong việc

phát triển hoạt động TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng của SeABank.



31



b. Thanh toán L/C nhập khẩu.



Trong tổng doanh số thanh toán TDCT, doanh số thanh toán L/C nhập khẩu

luôn chiếm ưu thế.

Bảng 2.4: Doanh số phát hành L/C nhập khẩu của SeABank

giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: triệu USD



Nguồn: Tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động TTQT giai đoạn 2012-2014

Doanh số phát hành L/C của SeABank tăng nhanh trong 3 năm gần đây.

Năm 2012, SeABank đã phát hành 83 L/C nhập khẩu với tổng giá trị đạt 22.84 triệu

USD. Đến năm 2013, con số này tăng lên đạt 96 bộ L/C nhập khẩu với giá trị là

27.84 triệu USD, tăng 13 bộ so với năm 2012 tương đương tăng 5 triệu USD. Năm

2014, số lượng cũng như giá trị phát hành L/C của SeABank có sự tăng trưởng

mạnh mẽ hơn với 126 L/C được phát hành với tổng giá trị đạt 35.62 triệu USD, tăng

tới 27.9% so với năm 2013

Về thanh toán L/C nhập khẩu, năm 2012 có 100 L/C nhập khẩu được ngân

hàng thanh toán với tổng giá trị thanh toán đạt 27.5 triệu USD. Năm 2013 số lượng

L/C SeABank thanh toán đạt 117 bộ, tăng 17 bộ so với năm 2012, tương ứng với

mức tăng 7.6 triệu. Đến năm 2014, số L/C nhập khẩu được ngân hàng thanh toán

lên tới con số 134 bộ L/C, tổng giá trị thanh toán tăng hơn 4 triệu USD tương ứng

tăng 11.86%.

c. Lợi nhuận từ hoạt động thanh toán TDCT



Từ những kết quả hoạt động như trên, lợi nhuận hoạt động thanh toán TDCT

đã đạt được những két quả tích cực với mức lợi nhuận từ hoạt động này tăng đều

qua cả ba năm 2012, 2013 và 2014.

Bảng 2.5: Lợi nhuân hoạt động thanh toán TDCT của SeABank



32



Giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Lợi nhuận



1.0296



1.3359



1.7262



Tốc độ tăng trường (%)



-



29.75



29.22



Nguồn: Tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động TTQT giai đoạn 2012 – 2014

Năm 2012, lợi nhuận từ hoạt động thanh toán TDCT đạt khoảng 1.03 tỷ

đồng. Từ những nỗ lực của mình, đến năm 2013, lợi nhuận hoạt động này của

SeABank đã tăng lên, đạt 1.336 tỷ đồng, tăng 29.75% so với năm 2012. Đến hết

năm 2014, con số lợi nhuận là 1.7262 tỷ đồng, tăng 29.22% so với năm 2013.

Như vậy, có thể thấy rằng việc phát triển hoạt động thanh toán TDCT đã đem

đến cho SeABank một nguồn lợi nhuần khá lớn, đồng thời tăng trưởng tốt.

2.2.2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á



Như đã phân tích ở Chương 1, hoạt động thanh toán TDCT tiềm ẩn rất nhiều

rủi ro cho các ngân hàng thương mại nói chung. Riêng với SeABank, những rủi ro

SeABank đã và đang gặp phải sẽ được thể hiện trong phần này.

a. Rủi ro tín dụng



Đây là rủi ro thường gặp và tác động xấu nhất đến kết quả hoạt động thanh

toán L/C của SeABank. Khi mà số lượng ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn

quá nhiều với mức độ cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì điều tất yếu là các ngân

hàng sẽ tạo điều kiện cho khách hàng, nới lỏng các chính sách hỗ trợ để thu hút

khách hàng một cách tốt nhất. Cách thức thường được SeABank cũng như các ngân

hàng khác thường áp dụng đó là yêu cầu tỷ lệ ký quỹ thấp hoặc nâng tỷ lệ tài trợ

cho tài sản bảo đảm của khách hàng quá cao.

Khi mà nền kinh tế chưa bình ổn, những rủi ro về lạm phát, tỷ giá biến động

gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng thì rủi ro tín dụng

là khó có thể tránh khỏi. Một số doanh nghiệp được SeABank tài trợ nhập khẩu

hàng hóa tuy nhiên không thể tìm được đầu ra đã làm cho doanh nghiệp không có



33



khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Và cuối cùng, chính Ngân hàng sẽ phải gánh chịu

những khoản nợ xấu cùng những chi phí phát sinh.

Trong giai đoạn 2012 – 2014 vừa qua, SeABank đã hỗ trợ rất lớn cho khách

hàng bằng việc phát hành các L/C trả chậm. Số lượng L/C thanh toán trả chậm của

có xu hướng tăng lên qua các năm. Tuy nhiên, điều này làm cho Ngân hàng phải đối

mặt với nhiều rủi ro hơn khi thời gian trả nợ của khách hàng bị kéo dài có thể chịu

ảnh hưởng của những bất ổn kinh tế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG NAM Á

Tải bản đầy đủ ngay(65 tr)

×