Tải bản đầy đủ - 49 (trang)
c) Tạo điều kiện để các hộ dân được vay vốn đầu tư phát triển KTVR

c) Tạo điều kiện để các hộ dân được vay vốn đầu tư phát triển KTVR

Tải bản đầy đủ - 49trang

+ Lựa chọn một số hộ gia đình để đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm một

số mô hình làm kinh tế vườn rừng thành công tại các tỉnh lân cận như Quảng

Nam, Thừa Thiên Huế. Sau đó, lựa chọn 3-4 vườn rừng/phường tại các phường

để xây dựng mô hình thí điểm, từ đó có thể tạo “cú hích” cho các hộ trong vùng

mạnh dạn đầu tư sản xuất.

* Tăng chất lượng, năng suất trong chăn nuôi gia súc, gia cầm:

- Tập trung cải thiện chất lượng con giống cũng như kỹ thuật chăm sóc để

tăng chất lượng đàn gia súc, gia cầm. Thực hiện hỗ trợ các hộ chăn nuôi về con

giống theo Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính Phủ về

khuyến nông.

- Khuyến khích các hộ thực hiện quy trình chăn nuôi an toàn sinh học

nhằm nâng cao chất lượng và tạo uy tín cho sản phẩm của vùng.

* Đối với cây trồng:

+ Cây ăn quả: Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc một số loại cây ăn quả

chủ yếu hiện đang trồng nhiều như: mít, bưởi, xoài để người dân nắm được các

biện pháp kỹ thuật chăm sóc, phát hiện sâu bệnh hại và cách phòng trừ hiệu quả.

Cụ thể, tổ chức tại mỗi phường 01 lớp tập huấn và lựa chọn 02 vườn cây ăn

quả/phường để tập huấn thực hành từ năm 2017-2020.

Đối với phường Hòa Hiệp Bắc, lựa chọn 10 hộ dọc đường lên Suối Lương

đăng ký tham gia xây dựng vườn cây ăn quả sinh thái, hỗ trợ một số loại cây ăn

quả như bòn bòn, cam sành, bưởi da xanh, mít, dâu, ổi...

+ Lựa chọn khoảng 05 hộ/phường tại 3 phường có diện tích vườn từ

5.000m2 trở lên để xây dựng mô hình thí điểm trồng một số loại cây dược liệu dễ

trồng.

+ Hiện nay, các mặt hàng nông sản được sản xuất từ các vườn tại địa

phương được người dân ưa chuộng. Do đó, cần hướng dẫn và khuyến khích các

hộ dân sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc BVTV phù hợp nhằm đảm bảo

uy tín của các mặt hàng trong vườn sản xuất.

IV.1.4. Hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện đề án

Dựa trên cơ sở kế hoạch thực hiện của Đề án, hàng năm phòng Kinh tế

tổng kết các hoạt động, đánh giá tiến độ thực hiện. Bên cạnh đó, phòng Tài

chính – Kế hoạch đánh giá hiệu quả đầu tư của các hoạt động.

Trên cơ sở báo cáo của các phòng chuyên môn, Thanh tra quận tiến hành

kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.

xxxi



IV.2. Các giải pháp và cơ chế hỗ trợ nhằm phát triển KTVR trên địa bàn

quận giai đoạn 2016-2020

IV.2.1. Triển khai xây dựng các mô hình thí điểm

Để người dân mạnh dạn đầu tư vào các mô hình sản xuất đã và đang mang

lại thu nhập cho các hộ dân trong vùng, cần xây dựng các mô hình thí điểm. Cụ

thể như sau được tổng hợp trong Bảng 3.1.

Bảng 3.1. Các mô hình thí điểm

Mô hình thí

điểm

Áp dụng quy

trình chăn nuôi

an toàn



Địa điểm thực

hiện



Hỗ trợ



Số hộ tham

gia



Thời gian

thực hiện



Khu vực Khánh

Sơn (Hòa

Khánh Nam)



Kỹ thuật chăm

sóc an toàn



03



2017-2018



Heo thịt



03



2017-2018



02 phường:

HKN và HHB



Dê thịt chất

lượng



03 hộ/phường



2017-2018



Các loại cây ăn

quả



03

vườn/phường



2017-2020



Các loại cây ăn

quả: bòn bon,

cam sành, bưởi,

mít, dâu, ổi



05 hộ



2017



Chăm sóc cây ăn

quả



10 hộ



2017-2020



Thực

hành 03 phường

chăm sóc vườn

cây ăn quả



Vườn cây ăn

quả sinh thái



Mô hình thí điểm

trồng xen cây

dược liệu dưới

tán cây ăn quả



Khu vực Suối

Lương (HHB)



03 phường



Một số cây dược 05 hộ/phường

liệu

Hướng dẫn chăm

sóc



2017

2017-2020



Hệ thống tưới 03 phường

nhỏ giọt cho

vườn cây ăn quả



Kinh phí đầu tư

ống tưới nhỏ

giọt



01 ha/phường

x 3 phường



2018-2020



Nuôi hươu lấy 03 phường

nhung



Con hươu giống



30 con



2017-2020



* Về cơ chế hỗ trợ:

- Mô hình thí điểm áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn:



xxxii



+ Trên cơ sở đàn gà, heo của các hộ tham gia mô hình, Nhà nước hỗ trợ

cán bộ thú y hướng dẫn cho các hộ hướng dẫn, theo dõi chăm sóc cho các loại

gia súc, gia cầm hiện có của các hộ.

+ Các hộ dân chịu chi phí thức ăn, thuốc thú y.

- Mô hình nuôi dê thịt chất lượng: Ngoài hỗ trợ về thú y nói trên, nhà

nước hỗ trợ cho 04 hộ tham gia mô hình mỗi hộ 1 con dê đực và 5 con dê cái.

Đồng thời, xây dựng “Ngân hàng dê” tại mỗi phường để hỗ trợ cho 04 hộ tiếp

theo theo cơ chế hỗ trợ như sau: Với 6 con dê/mỗi hộ được nhà nước hỗ trợ ban

đầu, sau nuôi một năm dự tính sẽ sinh thêm 05 dê con thì hộ tiếp tục nuôi con

dê con đến 6 tháng, sau đó sẽ chuyển số dê này cho 04 hộ khác. Sau khi trao

toàn bộ dê con đầu tiên này, hộ sẽ hoàn toàn sở hữu 6 con dê ban đầu. Mỗi

phường thành lập Ban quản lý Dự án “Ngân hàng dê”, các tổ dân phố tổ chức

họp bình xét công khai, đảm bảo dân chủ không xảy ra khiếu kiện. Sau đó, các

hộ mới nhận dê sẽ được nhà nước hỗ trợ về thú y.

- Tập huấn thực hành chăm sóc cây ăn quả: Nhà nước hỗ trợ cán bộ kỹ

thuật hướng dẫn 9 vườn cây ăn quả các kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả, các hộ

dân đầu tư phân bón, thuốc BVTV.

- Đối với mô hình vườn cây ăn quả sinh thái : Cây giống của 05 hộ tại khu

vực Suối Lương, nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí mua cây giống, hộ dân đầu tư

phân bón, thuốc BVTV trong quá trình chăm sóc.

- Mô hình thí điểm trồng xen cây dược liệu dưới tán cây ăn quả: Dựa trên

vườn cây ăn quả hiện có của các hộ dân, hỗ trợ cây giống cây dược liệu (khoảng

5 triệu/hộ/năm) trồng xen dưới tán cây ăn quả và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn

chăm sóc.

- Hệ thống tưới nhỏ giọt: Hỗ trợ kinh phí ống nhỏ giọt: 5 triệu đồng/ha,

quy mô hỗ trợ: 3ha/năm. Người dân đầu tư bể chứa nước.

IV.2.2. Hỗ trợ các hoạt động sơ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm của KTVR trên

địa bàn quận

Tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm của KTVR nói

riêng ở đâu và ai là người khách hàng luôn là vấn đề đặt ra khi các chủ hộ đầu tư

phát triển sản xuất trên diện tích đất đang sở hữu. Với đặc điểm diện tích đất

vườn rừng trên địa bàn quận không lớn nên số lượng sản phẩm do các vườn

rừng sản xuất ra không lớn trong những thời điểm nhất định trong năm. Do đó,

hiện nay, thị trường tiêu thụ các sản phẩm do các vườn rừng trên địa bàn các

phường sản xuất chủ yếu là ngay tại địa phương hoặc các chợ trên địa bàn quận.

Về giá cả, hầu như các loại sản phẩm đều được bán ngang với giá hiện tại trên

xxxiii



thị trường nên đã mang lại thu nhập khá ổn định cho hộ dân. Qua khảo sát, các

hộ dân hầu như khá yên tâm đối với vấn đề tiêu thụ sản phẩm mà họ đầu tư sản

xuất. Theo kết quả khảo sát, có gần 50% hộ không muốn ký kết hợp đồng tiêu

thụ cho bất kỳ doanh nghiệp, cá nhân nào; hơn 50% hộ lại muốn ký kết hợp

đồng.

Tuy nhiên, trong thời gian đến, chính quyền quận một mặt khuyến khích

và hỗ trợ doanh nghiệp cam kết tiêu thụ các mặt hàng nông sản do người dân địa

phương sản xuất ra nói chung và từ các vườn rừng nói riêng; mặt khác, tạo điều

kiện giúp chủ vườn liên kết với nhau và ký hợp đồng cung ứng sản phẩm ổn

định lâu dài cho các doanh nghiệp nói trên. Cụ thể là các mặt hàng thịt gia súc,

gia cầm, trái cây.

Bên cạnh đó, đặc biệt trong chăn nuôi, sản phẩm chủ yếu là các loại thịt

tươi sống chưa qua sơ, chế biến. Do đó, khi các con vật nuôi đủ lớn để bán, nếu

không có tiểu thương đến mua thì người dân không biết bán cho ai và phải tốn

thêm chi phí chăm sóc nên ảnh hưởng lớn đến thu nhập. Để giải quyết khó khăn

này, nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các chủ vườn hoặc các hộ kinh doanh trên

địa bàn quận đầu tư thiết bị sơ, chế biến thịt.

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân triển khai mô hình khép kín từ người

sản xuất – kinh doanh – tiêu dùng trong tiêu thụ nông sản.

* Về cơ chế hỗ trợ:

+ Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân về đất đai, thủ tục đăng ký kinh

doanh để xây dựng một số siêu thị mini cam kết hỗ trợ tiêu thụ nông sản địa

phương.

Đồng thời, các chủ hộ được giới thiệu sản phẩm của KTVR trên website:

kinhtelieuchieu.vn.

+ UBND các phường phối hợp với Hội Nông dân để ưu tiên cho các cá

nhân, hộ gia đình vay vốn trong đầu tư các loại máy móc cần thiết để sơ, chế

biến một số mặt hàng nông sản trong đó có thịt.

+ Các cơ quan chuyên môn của quận làm việc với các công ty sản xuất

dược phẩm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, như Công ty TNHH Đông Nam

Dược Bảo Linh, Công ty TNHH Dược phẩm Quảng Đà, Công ty Cổ phầnn

Dược Đà Nẵng… về nhu cầu các loại dược liệu dùng làm nguyên liệu sản xuất

một số mặt hàng dược phẩm của các công ty. Trên cơ sở đó, định hướng phát

triển cây dược liệu trên địa bàn quận phù hợp với nhu cầu sản xuất.



xxxiv



IV.2.3. Tăng cường mối liên kết giữa các vườn rừng và giữa các vườn rừng

với các tổ chức kinh tế khác

Hiện nay, sự liên kết giữa các trang trại với nhau và với các tổ chức kinh

tế khác mới diễn ra trên phạm vi hẹp. Còn lại, hầu hết các vườn hầu như chưa có

sự gắn kết với nhau, cũng như với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Vì vậy,

việc hình thành các mối liên kết giữa các vườn rừng, cũng như giữa các vườn

rừng với các doanh nghiệp, cơ sở chế biến tạo thành chuỗi sản xuất – chế biến –

tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quan trọng để phát triển bền vững KTVR. Có thể

xây dựng các mối liên kết sau:

- Tạo mối liên kết sản xuất giữa các vườn rừng sản xuất cùng một loại sản

phẩm ở vùng sản xuất hình thành vùng sản xuất chuyên canh với số lượng hàng

hóa lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường ở từng khu vực khác nhau. Cụ thể như

sau: Đối với các chủ vườn làm KTVR tại khu vực Suối Lương, các chủ vườn

đầu tư cây ăn quả, chăn nuôi nên liên kết với nhau để cung cấp cho khách du

lịch dã ngoại tại đây. Các khu vực khác, các chủ vườn rừng liên kết với nhau để

tạo ra lượng hàng hóa đủ lớn có thể tiến đến liên kết với các doanh nghiệp, cá

nhân tiêu thụ sản phẩm ổn định.

Trong vùng sản xuất, các chủ vườn liên kết với nhau như cung cấp các sản

phẩm đầu vào (giống cây, con), sản phẩm đầu ra của vườn này lại là sản phẩm

đầu ra của vườn khác, như các vườn đầu tư chăn nuôi sẽ cung cấp nguồn phân

chuồng cho các vườn trồng cây ăn quả, dược liệu…

- Liên kết giữa người sản xuất với nhà khoa học đang tham gia nghiên cứu

và giảng dạy tại một số trường đại học trên địa bàn quận. Từ đó, có thể giúp

người sản xuất tiếp cận với các loại giống mới, thiết bị sơ, chế biến hàng hóa

phù hợp.

- Liên kết giữa người sản xuất với các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp các

vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất; chế biến, tiêu thụ sản phẩm hình thành

chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.

* Về cơ chế hỗ trợ:

- Nhà nước tổ chức một số hội thảo chuyên đề tạo cơ hội gặp gỡ, trao đổi

kinh nghiệm giữa người sản xuất và nhà khoa học cũng như doanh nghiệp, cá

nhân tiêu thụ hàng nông sản.

IV.2.4. Chính sách hỗ trợ nhằm bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực

phầm

Bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm cần được quan tâm để

phát triển KTVR theo hướng bền vững. Tuy nhiên trong phân tích thực trạng

xxxv



phát triển KTVR chưa chú ý nhiều đến hai vấn đề quan trọng này, cụ thể là các

hộ chăn nuôi tập trung tại khu vực Khánh Sơn (Hòa Khánh Nam). Vì vậy, để

hạn chế ảnh hưởng môi trường trong sản xuất vườn rừng, trong thời gian đến

cần áp dụng các giải pháp sau:

- Hầu như các trang trại chăn nuôi có quy mô nhỏ và vừa nên việc xử lý

chất thải bằng hầm biogas là phương pháp tốt nhất hiện nay. Do đó, UBND các

phường tuyên truyền, hướng dẫn và khuyến khích các chủ vườn chăn nuôi đầu

tư xây dựng hầm biogas xử lý chất thải tại các khu chăn nuôi, tận dụng khí gas

để đun nấu. Trong đó, cần phải xây dựng hệ thống hầm biogas theo đúng tiêu

chuẩn và có sự quản lý, kiểm tra chặt chẽ của chính quyền để đảm bảo an toàn

môi trường chăn nuôi một cách tối đa.

- Hướng dẫn các trang trại chăn nuôi có biện pháp tiêu độc khử trùng

chuồng trại chăn nuôi sau mỗi lứa chăn nuôi và có biện pháp phòng ngừa dịch

bệnh thường xuyên. Các vật mới mua về cần được nuôi riêng và cách ly với đàn

hiện có một thời gian nhất định để đảm bảo không lây lan dịch bệnh vào đàn

hiện có.

- Đối với các vườn đầu tư vào trồng trọt, khuyến khích chủ vườn sử dụng

các loại thuốc BVTV, phân hóa học để bảo vệ môi trường.

* Về cơ chế hỗ trợ: Với các hộ có quy mô nuôi heo từ 50 con trở lên và

2.000 con gà, được hỗ trợ 5 triệu/hầm,phần còn lại hộ gia đình đóng góp.



xxxvi



Phần thứ tư

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

V.1. Thời gian thực hiện đề án và kinh phí thực hiện:

1. Thời gian thực hiện: 2017-2020.

2. Kinh phí thực hiện:

2.1. Nguồn vốn thực hiện:

* Tổng nguồn vốn: 2.738.300.000 đồng trong đó:

- Ngân sách nhà nước: 1.419.500.000 đồng (Phụ lục 2).

- Đầu tư của các hộ dân: 1.318.800.000 đồng (Phụ lục 3).

Bên cạnh đó, khai thác các nguồn khác như:

+ Tập huấn kỹ thuật trong xây dựng mô hình: Tận dụng các chương trình

tập huấn của Trung tâm Khuyến Ngư-Nông-Lâm Thành phố, Chi cục Trồng trọt

và Bảo vệ thực vật và Chi cục Thú y thành phố.

+ Chương trình khoa học và công nghệ cấp cơ sở của Sở Khoa học và

Công nghệ thành phố.

+ Hỗ trợ về thiết bị sơ, chế các loại hàng nông sản từ Chương trình

khuyến công của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Đà

Nẵng.

2.2. Đối tượng triển khai thực hiện: Là các hộ đầu tư phát triển KTVR

trên địa bàn 3 phường Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Bắc và Hòa Hiệp Bắc.

2.3. Phòng Kinh tế quận có trách nhiệm tổng hợp, thẩm định các mô hình

của phường trình UBND quận xem xét kinh phí thực hiện theo từng mô hình cụ

thể đã được phê duyệt.

V.2. Kế hoạch tổ chức thực hiện:

Trên cơ sở các giải pháp phát triển KTVR trên địa bàn quận giai đoạn

2016-2020, Đề án xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể tổng hợp trong

Bảng 4.1.



xxxvii



KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Kết luận

Cùng quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận, từ những năm

1990 loại hình kinh tế vườn rừng đã bắt đầu hình thành và phát triển khá nhanh.

Với sự hỗ trợ của các ngành chức năng và chính quyền các cấp, người dân trên

địa bàn quận đã đầu tư, xây dựng nhiều mô hình KTVR trong đó KTVR đã góp

phần quan trọng trong việc khai thác tiềm năng, lợi thế đất đai và điều kiện tự

nhiên. Nhờ đó, KTVR đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của quận nói

chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, tạo việc làm, nâng cao đời sống của

người dân. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển KTVR trên địa bàn quận vẫn còn một

số hạn chế: chưa có sự đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng các sản

phẩm; chất lượng lao động còn thấp, trình độ kỹ thuật chưa cao; quy mô sản

xuất chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ từng hộ gia đình mà thiếu sự mối liên kết giữa

các hộ trong quá trình sản xuất để hình thành vùng sản xuất chuyên canh và tạo

ra số lượng hàng hóa lớn cũng như chế biến và tiêu thụ hàng hóa; tình trạng ô

nhiễm môi trường vẫn còn tồn tại. Những hạn chế trên chủ yếu là do các nguyên

nhân sau: các hộ dân đầu tư KTVR chưa được giao đất, giao rừng nên một số

người dân chưa yên tâm cũng như khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng đầu

tư sản xuất; cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh nên việc đi lại, vận chuyển các sản

phẩm tốn kém, nguồn nước tưới không đáp ứng yêu cầu sản xuất; trình độ văn

hóa của các chủ hộ còn thấp nên việc tiếp cận với khoa học, kỹ thuật và công

nghệ mới; các lớp tập huấn về kỹ thuật chăm sóc cây trồng, con vật nuôi chỉ

dừng lại ở việc trang bị những kiến thức cơ bản mà chưa tập trung vào thực

hành.

Xây dựng Đề án “Giải pháp phát triển kinh tế vườn rừng trên địa bàn

quận Liên Chiểu giai đoạn 2016-2020” trong đó xác định một số mô hình phát

triển KTVR tại các vùng và đề ra các giải pháp để giải quyết những khó khăn

cũng như hạn chế nêu trên. Từ đó, góp phần phát triển KTVR với nhiều loại

hình sản xuất theo hướng hàng hóa kết hợp phát triển du lịch, xây dựng sự liên

kết giữa các vườn và với các doanh nghiệp, cá nhân chế biến và tiêu thụ sản

phẩm.

II. Kiến nghị

- Các ngành chức năng của thành phố hỗ trợ cho phòng Tài nguyên-Môi

trường và các cơ quan chức năng của quận để hoàn thành công tác giao đất, giao

rừng cho các hộ gia đình đầu tư phát triển KTVR trên địa bàn quận.



xxxviii



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c) Tạo điều kiện để các hộ dân được vay vốn đầu tư phát triển KTVR

Tải bản đầy đủ ngay(49 tr)

×